CHÀO XUÂN MỚI
Tuyen tap Truyen Ngan Nguyen Cong Hoan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:18' 11-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:18' 11-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Tuyển tập Nguyễn Công Hoan
(Tập Truyện ngắn)
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tiểu sử
Nguyễn Công Hoan sinh năm 1903, tại Xuân Cầu, Nghĩa Trụ, Văn Giang
tỉnh Bắc Ninh, nay là tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình Nho học, mất năm
1977 tại Hà nội.
Nguyễn Công Hoan viết văn từ năm 17 tuổi, năm 20 tuổi xuất bản tập truyện
ngắn Kiếp hồng nhan, và năm 32 tuổi (1935), nổi tiếng với tập truyện ngắn
Kép Tư Bền.
Trước cách mạng tháng Tám ông làm nghề dạy học thường bị Pháp theo dõi
phải đổi trường nhiều lần. Sau cách mạng tháng Tám ông hăng hái tham gia
kháng chiến, trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ: Chủ bút báo Vệ quốc quân,
Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam... Nguyễn Công Hoan đã được
Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1,
1996).
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan khá đồ sộ với hàng trăm truyện
ngắn và nhiều tiểu. Các tác phẩm của ông đã được tái bản nhiều lần và hiện
được chọn lại trong bộ Tuyển tập Nguyễn Công Hoan (3 tập, Nhà xuất bản
Văn học, 1983 - 1986).
Những ngày đáng nhớ của nhà văn Nguyễn Công Hoan tại 66 Thợ Nhuộm
Suốt 12 năm (từ năm 1964 - 1976), nhà văn Nguyễn Công Hoan cùng vợ là
cụ Vũ Thị Yến đã về sống với con cháu và sáng tác trong một căn phòng vỏn
vẹn 30m2 trong ngôi nhà 66 phố Thợ Nhuộm nay là trụ sở Báo CAND.
Ngày 6/6, Báo CAND đã long trọng tổ chức buổi lễ gắn biển kỷ niệm tên
nhà văn Nguyễn Công Hoan tại 66 - Thợ Nhuộm, Hà nội, trụ sở của Báo
CAND, đúng ngày giỗ lần thứ 29 của ông.
Có mặt trong buổi lễ này là con trai của nhà văn, Anh hùng LLVTND
Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an cùng phu nhân; vợ chồng nhà
văn Lê Minh, con gái của nhà văn và các con cháu. Cũng thật thân tình trong
buổi lễ hôm nay còn có sự tham dự của các Giám đốc NXB Văn học, NXB
Hội Nhà văn, NXB Thanh niên, NXB Công an nhân dân... Những nơi từng
in rất nhiều tác phẩm của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Đọc diễn văn tại buổi lễ, Thiếu tướng, nhà văn Hữu Ước, Tổng Biên tập Báo
CAND và Chuyên đề ANTG khẳng định: "Khuôn viên và cấu trúc tòa nhà
này có thay đổi nhiều so với trước, nhưng lòng ngưỡng mộ của chúng tôi đối
với nhà văn Nguyễn Công Hoan và Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài, thủ
trưởng cũ của chúng tôi thì không hề suy giảm...".
Những con số 6 thú vị:
Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6/3/1903 tại làng Xuân Cầu, xã
Nghĩa Trụ, Huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (không phải là thuộc tỉnh Hải
Dương như Từ điển Văn học - Bộ mới NXB Thế giới 2004 trang 1.114 đã
nhầm). Ông sinh ngày mùng 6, mất cũng ngày 6 (tháng 6/1977). Năm 1946,
nhà văn Nguyễn Công Hoan, khi đó là Giám đốc Sở Kiểm duyệt báo chí
trong chính quyền cách mạng đã cấp giấy phép cho Báo CAND ra số đầu
tiên với tên là Công an mới, tiền thân của Báo CAND ngày nay.
Người có sáng kiến tổ chức xin giấy phép xuất bản tờ báo Công an mới là
chiến sĩ Công an trẻ Nguyễn Tài, Bí thư chi bộ kiêm Bí thư Đoàn Công an
cứu quốc. Nhờ thế, ngày 1/11/1946, Báo Công an mới đã phát hành số đầu
tiên. Đến nay, Báo CAND đang tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 60 năm
Ngày phát hành số báo đầu tiên.
Lại nữa, suốt 12 năm (từ năm 1964 - 1976), nhà văn Nguyễn Công Hoan
cùng vợ là cụ Vũ Thị Yến đã về sống với con cháu và sáng tác tại ngôi nhà
66 Thợ Nhuộm này. Đến năm 1976, ông cùng gia đình con trai là Cục
trưởng Công an Nguyễn Tài vừa bất khuất trở về từ nhà tù của Mỹ, chính
quyền Sài Gòn chuyển về khu tập thể Trung Tự. Và năm 1996, nhà văn
Nguyễn Công Hoan được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn
học nghệ thuật.
Vậy là sắp 60 năm, ngày nhà văn Nguyễn Công Hoan ký giấy phép xuất bản
Báo Công an mới, tại 66 Thợ Nhuộm nơi ông sống xưa và trụ sở Báo CAND
nay, đúng vào ngày giỗ của ông 6/6, tờ báo mà ông ký cho ra mắt long trọng
làm lễ gắn biển kỷ niệm tên tuổi ông, Chủ tịch đầu tiên Hội Nhà văn Việt
Nam...
Trang đời trang văn
Bà Trần Thị Bắc (tên khai sinh là Nguyễn Thị Nghiêm), phu nhân đồng chí
Nguyễn Tài, người nhiều năm được Bộ Công an cử chăm sóc và đào tạo con
cái của các cán bộ miền Bắc chi viện cho An ninh miền Nam kể cho chúng
tôi nghe: Trước đây, gia đình bà được Bộ Công an xếp cho ở trong ngôi nhà
66 Thợ Nhuộm cùng với 3 gia đình khác, trong đó có gia đình cố Thiếu
tướng Hoàng Mai, nguyên Tổng Biên tập Báo CAND...
Đầu năm 1964, do đồng chí Nguyễn Tài bí mật vào miền Nam chiến đấu,
ông bà Nguyễn Công Hoan rời làng Võng Thị thơ mộng về 66 Thợ Nhuộm
để giúp con dâu chăm sóc 4 cháu nhỏ để con trai yên tâm công tác. Vậy là cả
ông bà nội với 5 mẹ con chỉ sống trong một căn phòng vỏn vẹn có gần
30m2.
Bà Bắc kể rằng, những ngày ấy, đêm nào bà cũng thấy nhà văn Nguyễn
Công Hoan dậy viết trên một cái bàn nhỏ kê ở góc nhà, người con dâu cùng
mẹ chồng đã kê cho ông một bộ bàn ghế uống nước để tiếp khách văn. Thi
thoảng, bà thấy nhà thơ Tú Mỡ, Xuân Diệu đến chơi. Nhà văn Nguyễn Công
Hoan có vóc dáng cao cao, ông thường di dép nhẹ nhàng lúc đêm khuya ra
bàn viết những điều vừa chợt đến. Sáng ra ông thức dậy sớm đi tưới mấy cây
hoa trước nhà.
Còn cụ bà Vũ Thị Yến thì chăm một cây trầu tươi tốt ở phía tay trái ngôi nhà
66 Thợ Nhuộm, bà cũng hay ăn trầu nên răng rất chắc và đẹp. Rất nhiều lần,
nhà văn đang viết say sưa thì Hà nội báo động có máy bay Mỹ bắn phá, bà
Vũ Thị Yến xua con dâu và các cháu nhỏ xuống hầm. Riêng nhà văn Nguyễn
Công Hoan thì chạy ra đường, ngửa mặt lên trời mong nhìn thấy máy bay
địch. Bà hét lên: "Ông có vào không, nó bắn chết bây giờ". Không ngờ nhà
văn trào phúng bậc thầy vẫn dí dỏm ngạo nghễ: "Bà không phải lo. Nó có
nhìn thấy tôi đâu mà bắn".
Nhà văn Lê Minh, người con gái út của nhà văn Nguyễn Công Hoan kể, hồi
ấy, căn buồng ở 66 Thợ Nhuộm quá chật, ông thường sang nhà bà ở 72 Lý
Thường Kiệt để viết. Có hai cuốn sách được cha bà viết trong thời gian này,
đó là cuốn "Hỏi chuyện các nhà văn", cuốn thứ hai là "Nhớ gì ghi nấy".
Cuốn sách với tên gọi giản dị thô mộc này không ngờ lại có số phận long
đong lận đận đến kỳ lạ. Năm 1977, sau khi ông mất, cuốn sách này đành dở
dang. Đến năm 1998, nhà văn Lê Minh tổ chức in toàn tập và lấy lại tên ban
đầu "Nhớ gì ghi nấy".
Có một câu chuyện mà đến bây giờ bà Trần Thị Bắc còn nhớ như in: "Ông
thường dạy các cháu những điều tưởng như nhỏ vụn: rải cái chiếu phải rải
cho ngay ngắn thì cái tâm của mình cũng ngay ngắn. Bữa cơm dọn ra, ông
thường ăn thức ăn còn dư từ bữa trước để nhường thức ăn mới cho con cháu.
Nghĩ lại thấy thương ông quá. Những ngày kham khổ, vất vả đó có lẽ cũng
thấm vào trang văn của bố chồng tôi".
Xin kể lại một chút về người vợ của nhà văn Nguyễn Công Hoan, cụ Vũ Thị
Yến. Theo lời bà Trần Thị Bắc, có lần nhà văn Nguyễn Công Hoan đã tâm
sự với con dâu thế này: "Mẹ con là người đóng góp hơn 50% vào thành công
sự nghiệp văn học của cha". Bà đã vượt qua nhiều gian khổ, chịu đựng nhiều
mất mát, đau đớn, chăm sóc các con, coi sóc việc nhà chồng để dồn sự bình
tâm cho ông trên từng trang viết.
Hiếm có một người vợ nhà văn nào như bà Vũ Thị Yến, người có công với
nước từng phải chứng kiến nhiều nỗi đau đến thế. Trong kháng chiến chống
Pháp, bà đau đớn lắm khi biết tin hai người em trai nhà văn Nguyễn Công
Hoan là Nguyễn Công Bồng (Nha Công an Trung ương) và Nguyễn Công
Mỹ hy sinh trong công tác. Rồi người con trai của ông bà là Nguyễn Tài
Khoái cũng hy sinh ở Nam Định.
Ngày 19/12/1949, bà chịu 3 cái tang đau đớn cùng một lúc: Bom của giặc
Pháp đã bỏ xuống Đào Xá, Hà Nam làm chết người mẹ của nhà văn Nguyễn
Công Hoan, vợ và con liệt sĩ Nguyễn Công Mỹ...
Nhưng sức vóc của một phụ nữ như bà chịu đựng thật vô bờ. Có lần, suốt 3
năm không thấy con trai Nguyễn Tài từ chiến trường gửi thư về, bà linh cảm
con có điều gì không lành và năm 1973 bí mật vào trụ sở Bộ Công an xin
gặp Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn.
Gặp Bộ trưởng, bà nói quả quyết: "Thưa bác, bác đã hiểu rõ hoàn cảnh gia
đình nhà tôi qua bao hoạn nạn rồi. Chúng tôi đủ can đảm để đón nhận điều
xấu nhất. Vì sao ba năm nay Tài không gửi thư về? Có chuyện không hay
xảy ra với Tài phải không? Chúng tôi muốn biết sự thật vì đủ sức chịu đựng
và có trách nhiệm giữ bí mật cho cách mạng". Nói những lời quả quyết, kiên
gan, có lẽ người mẹ ấy muốn nén giữ một tiếng khóc, một nỗi đau đang chực
bật ra khỏi lòng.
Nghe vậy Bộ trưởng im lặng trong giây lát, giọng nhỏ lại: "Bác đã nói thế thì
chúng tôi cũng xin nói thật. Trong một chuyến đi công tác, Tài bị địch bắt
giam nhưng Bộ vẫn nắm được tin tức, hiện Tài vẫn khỏe mạnh, hai bác cứ
yên tâm". Bà Yến chào Bộ trưởng ra về. "Bí mật" ấy chỉ có bà, nhà văn
Nguyễn Công Hoan và cô con dâu biết. Bạn bè, con cháu, họ hàng, ai hỏi tin
tức gì về Nguyễn Tài, bà đều bảo: "Tài đi học ở Liên Xô".
Đằng đẵng 11 năm xa con, vợ xa chồng, đến tháng 6/1975, người con
Nguyễn Tài đã trở về sum họp với gia đình tại 66 Thợ Nhuộm. Suốt đời bà
lặng lẽ hy sinh như thế, không yêu cầu chồng con một điều gì. Chỉ duy một
lần bà "xin" tiền của ông. Năm 1996, bà nhận được số tiền Giải thưởng Hồ
Chí Minh của nhà văn Nguyễn Công Hoan, bà đã lấy 1 triệu đồng gửi biếu
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có 9 con đẻ, một
con rể, một cháu nội hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Mãi sau này, có
người lần ra địa chỉ, đến hỏi mới biết là của bà Vũ Thị Yến, vợ nhà văn
Nguyễn Công Hoan gửi.
Cũng tại buổi lễ nói trên, thay mặt các thế hệ làm Báo CAND, nhà văn Hữu
Ước một lần nữa xúc động nói: Những nhà báo CAND chúng tôi rất tự hào
được làm việc ở ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm, nơi nhà văn Nguyễn Công Hoan
từng sống và sáng tác văn học 12 năm cuối đời. Nhà văn Nguyễn Công Hoan
luôn là tấm gương trong cuộc sống, lao động và sáng tạo của những người
cầm bút CAND".
Thu Phương
Nguyễn Công Hoan được tăng lương sau khi… tạ thế?
"Nghĩa tử là nghĩa tận" - Các cụ ta dạy vậy. Nhưng cứ theo như mẩu chuyện
có cái tên câu khách: "Để được chôn khu A" thì quả là nhà văn lớn Nguyễn
Công Hoan (1903 - 1977) chết rồi vẫn còn... Long đong. Chuyện rằng, trước
khi hạ huyệt, ông "bị" người quản lý nghĩa trang Văn Điển phản ứng quyết
liệt, không chịu cho chôn, vì theo tiêu chuẩn khu A (khu chôn vĩnh viễn) thì
mức lương của ông còn thiếu... Một bậc.
Xin trích nguyên văn:
"Nguyễn Công Hoan mất. Khi ban tổ chức lễ tang gọi điện đến ban quản lý
nghĩa trang Văn Điển để xin xe tang, người nhận điện nói ậm ờ rằng chẳng
biết tám giờ, chín giờ hay mười giờ mới có xe.
- Vâng, tùy các anh. Chỉ xin báo cho các anh biết hiện nay trực bên linh cữu
nhà văn có đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ
Nội vụ (con trai nhà văn là Nguyễn Công Tài lúc bấy giờ là Thứ trưởng Bộ
Nội vụ); đồng chí Tố Hữu, Ủy viên Bộ Chính trị; đồng chí Lê Văn Lương,
Bí thư Thành ủy Hà nội và một số cán bộ cao cấp khác.
Đầu kia điện thoại rối rít:
- Vâng, chúng tôi sẽ điều xe đến ngay!
... Đến Văn Điển, một nhân viên ban quản lý nghĩa trang đến hỏi mức lương
của người quá cố. Anh ta giãy nảy lên:
- Còn thiếu năm đồng mới được chôn ở khu A!
Thế là Hội Nhà văn phải cho người về làm quyết định tăng cho Nguyễn
Công Hoan một bậc lương mới đúng thủ tục!".
(Theo "Giai thoại làng văn Việt Nam" - NXB Văn hóa Dân tộc, 1999).
Nhận thấy mẩu giai thoại trên có một số tình tiết không đáng tin cậy, tôi liên
hệ xin được gặp và trao đổi với đồng chí Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ
Nội vụ (nay là Bộ Công an), con trai cụ Nguyễn Công Hoan. Đúng như tôi
dự đoán, ông Tài đưa mắt đọc suốt lượt bài viết rồi buông sách xuống, nói
ngay: "Tôi đề nghị người viết phải cải chính và xin lỗi gia đình công khai
trên báo".
- Thưa bác, những chi tiết nào ở bài viết mà bác thấy chưa chuẩn, cần phải
nói lại?
- Ông Nguyễn Tài: Ngay với tên tôi họ cũng in sai. Tôi tên thật là Nguyễn
Tài Đông, sau đi hoạt động bỏ tên chính, lấy tên Tài làm bí danh. Chưa bao
giờ có chữ Công ở giữa. Họ nhà tôi có 8 chữ đệm: Đức, Đạo, Công, Tài,
Trường, Thiên, Thế, Tộ. Các cụ quy định mỗi thế hệ là một chữ đệm. Đưa
tên tôi thêm chữ Công là nâng tôi lên một thế hệ, ngang với cha tôi là không
đúng.
Thứ nữa, nói các anh Trần Quốc Hoàn, Tố Hữu túc trực bên linh cữu cha tôi
cũng là bịa. Các anh ấy đại diện lãnh đạo Đảng, chỉ đến viếng thôi. Còn túc
trực bên linh cữu cha tôi là con cái trong nhà, là đại diện Hội Nhà văn. Cái gì
cũng phải có nguyên tắc, có tôn ti trật tự chứ.
- Còn chuyện Ban tổ chức lễ tang phải nói gần như "dọa", cán bộ quản lý
nghĩa trang mới cho điều xe đến chuyển linh cữu cụ Hoan đi?
- Khi cha tôi mất, Hội Nhà văn đứng ra lo hết. Cụ được quàn ở 51 Trần
Hưng Đạo (trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam). Tôi không
rõ Hội Nhà văn gọi xe ở đâu, nhưng chắc chắn không phải ở nghĩa trang Văn
Điển. Người viết rất dốt về lịch sử. Tôi khẳng định: Từ khi thành lập, nghĩa
trang này chưa bao giờ có dịch vụ xe tang.
- Như vậy, việc Ban quản lý nghĩa trang không đồng ý để cụ Hoan được
chôn ở khu A cũng là do người viết bịa ra?
- Không bao giờ có chuyện vớ vẩn đó. Ông Hoan từng là Chủ tịch Hội Nhà
văn, làm sao không đủ tiêu chuẩn? Cha tôi mất ở Bệnh viện Việt - Xô (nay là
Bệnh viện Hữu Nghị). Bấy giờ chưa có điều hòa, bệnh viện phải bảo quản
xác cha tôi bằng đá cây; tới ba, bốn hôm mới đưa đám. Như vậy, Hội Nhà
văn phải liên hệ với nghĩa trang từ trước khi chôn chứ. Theo quy định, ông
Hoan được "nằm" ở khu A thì ở đấy người ta phải đào huyệt sẵn rồi. Mọi
người chỉ việc kéo nhau đến. Làm gì có chuyện đến đó còn tranh cãi có được
chôn hay không. Rồi chuyện cán bộ Hội chạy về ký tăng lương. Hội Nhà văn
không làm chuyện trẻ con đó đâu.
- Thưa bác, hiện di hài của nhà văn Nguyễn Công Hoan có còn ở nghĩa trang
Văn Điển hay đã chuyển vào nghĩa trang Mai Dịch - Như trường hợp nhà
thơ Xuân Diệu?
- Không! Khi cải táng, gia đình đã đưa cụ về quê rồi (thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa
Trụ, Huyện Văn Giang, Hưng Yên). Chúng tôi muốn để cụ nằm bên mộ bà
nội tôi cùng các chú, các em của cụ. Tất cả một dãy bên nhau, rất tình cảm...
- Nhân việc này, bác có nhắn gửi gì tới tác giả bài viết?
- Viết vui gì thì cũng phải trên cơ sở sự thật, chứ bịa ra để "cù" người đọc và
kiếm tiền là không được. Bài viết không chỉ xúc phạm gia đình tôi đâu, mà
lớn hơn, là xúc phạm tới chính sách của Đảng, Nhà nước đối với văn nghệ sĩ.
Tôi đề nghị người viết phải cải chính...
Phạm Khải
Ái tình tiểu thuyết (Thuật theo lời của B.)
Sợ các ngài tẩy chay tôi, hôm nay tôi xin hiến các ngài một thiên ái tình tiểu
thuyết. Nhưng ái tình tiểu thuyết tôi vốn không quen viết, nên tôi chỉ dám
coi nó như câu chuyện chó chết mà thôi.
Ông hàng xóm tôi mới đem ở Hà nội về một con chó trắng. Ông đặt tên cho
nó là Tớp. Cơn Tớp, tôi chẳng biết có cái gì đáng quý, nhưng mà, trời ơi,
gớm, ông ấy làm bộ như một bà mẹ có con gái đến thì? Ông ấy khoe khoe
những đức tính nó thế nọ thế kia, nghĩa là con chó ấy chẳng may chó đến nỗi
phải làm kiếp chó, chứ giá được làm người, thì tất cũng phải làm đến gì gì
chứ chẳng vừa?
Thế nhưng tôi tưởng làm cái giống chó An-nam mình, thì dù có tài xuất
chúng đến đâu cũng vậy, sự nghiệp bất quá cũng chỉ đến giữ nhà cho chủ là
hết; mà có hơn chó thiên hạ về cái thỉnh thoảng được phát tài vì có bổng
ngoại, nhưng dăm ba bãi tiệc ấy, bất quá cũng chỉ là cái bã giả của người ta
mà thôi, ngon gì!
Ấy là nói những giống chó khôn, biết thân phận làm kiếp chó, chứ nếu lại có
tính ngông nghênh mà cắn trộm, bặng nhặng mà ẳng sằng, hoặc dại dột mà
vục đầu vào chĩnh tương hay niêu cá chẳng hạn, thì đeo riềng vào cổ lúc nào
không biết đấy.
Vậy mà chó nhà quê thì mới thế, chứ nếu chẳng may ở các thành phố lớn,
luật pháp nghiêm ngặt, mà quá giờ tiên sinh cứ tự do ngôn luận oang oang
lên, hoặc ban ngày, tơ-lơ-mơ đi ra đường chơi phiếm, thì có mà tù sớm.
Chính con chó Tớp của ông hàng xóm tôi, sở dĩ bị trục xuất cảnh ngoại, cũng
chỉ vì tội nhiều khi đang đêm, không biết cao hứng cái gì, cứ diễn thuyết rầm
lên, hô hào dữ đến nỗi cả nhà mất ngủ; lại mới đây giữa ban ngày ban mặt,
nó dám công nhiên - Nói vô phép các ngài, nó dám công nhiên hiếp dâm
ngay con chó con mới mua buổi sáng. Vô đạo thật? Chẳng biết rằng nó đoán
là chủ nó định tống cổ nó, nên nó mới giở thói cẩu-trệ định làm hại cho mà
làm ăn xúi quẩy, hay nó cố tình làm mất trinh chị đồng nghiệp sắp hớt cẳng
nó. Nhưng cứ xem cái đời tư của nó như thế, thì dù ông hàng xóm tôi có làm
trạng sư bênh vực nó kỳ cùng, tôi cũng kết luận rằng ở nhà quê này mà con
Tớp cứ giở cái thủ đoạn ấy ra, thì có ngày chết mất mạng. Con chó Tớp được
về nơi rộng cẳng, lấy làm khoái lắm. Ngay lúc mới được thả xích ra, nó
loăng quăng chạy hết đằng sau ra đằng trước, nhà dưới lên nhà trên, hễ động
có ai qua ngõ, là anh chàng chạy ngay ra chất vấn. Chẳng bù với khi còn ở
ngoài tỉnh, cả ngày phải khóa miệng, có cất lên một vài tiếng để làm chầu
chay cho đờ buồn, thì đã bị mắng chửi rầm rĩ.
Ở nhà quê được hít không khí trong sạch, được vận động luôn chân, lại được
ông chủ cho ăn uống tử tế, nên Tớp ta mập mạp, trắng nõn, trông ra phết anh
chị?
Ngày mới ở tỉnh về, nó hay hống hách, thấy ai lạ cũng định gây sự. Nhưng
từ hôm bị cái gậy đầu tiên của thằng Mõ giáng vào lưng thì nó cũng lịch
duyệt hơn một chút, không chơi dại nữa, bớt sự bắng nhắng.
Thấy ai qua ngõ, nó chỉ gâu một tiếng xoàng gọi là tác oai, rồi cúp đuôi
nhanh nhẩu chui tọt vào hàng rào, giữ thế thủ cẩn thận, mới dám thò đầu ra,
trợn mắt, giơ nanh, gầm gừ cho đến khi người ta đi khuất.
Nhưng ở nơi thôn dã này, thì sự canh gác của nó chỉ cần có trong khi đêm
tối, nên rồi nó cũng bắt chước ngay các đồng nghiệp nó, cả ngày nằm cuộn
tròn ở cồng, gọi là chiếu lệ, rồi đánh một giấc ngủ dài cho tiêu thì giờ.
Nghề thế, nhàn cư vi bất thiện, nếu cứ ngày đánh hai bữa no phình bụng rồi
“la siết” suốt cả buổi trưa thì cuộc đời tẻ ngắt, mà cái thanh niên cũng đến
mòn mỏi đi mà thôi. Cho nên được độ nửa tháng, người ta đã thấy con Tớp
đứng tụ họp ở ngã ba, với dăm bảy con chó quanh đấy.
Cái tính chơi bời của nó nẩy nòi ra từ khi nó còn ở chốn ngàn năm văn vật,
nay nó thấy một nơi mà bất cứ đức hay cái tụ bạ để làm chỗ hẹn hò, như bờ
hồ Hoàn Kiếm, như trong cuộc chợ phiên của chúng ta, thì muốn chừng nó
cũng chệnh nông nỗi riêng nên cứ đúng giờ giấc là nó lững thững ra đó, để
gạ gẫm giở trò trai gái. Mà trong cánh ấy, trông nó bột nhất! Ngày nào cũng
vậy bộ lông trắng nuột như quần áo mới giặt là? Rành là nó ăn đứt tụi con
cộc, con sồm, con vằn, con vện, trông nhà quê quá. Khoa tán gái chẳng hay
nó học ai, mà nghe chừng mả lắm, chẳng thế những tiểu thư mực khoác bộ
áo nhung, tiểu thư đốm mặc hàng bom-bay, nó điều nước non được cả. Thì
ra có bộ mã tốt bao giờ cũng vẫn dễ làm si tình, cho nên cái số đào hoa của
anh công tứ Tớp đã làm cho trong làng êu, nhiều tay phải phát tức!
Rồi chẳng bao lâu, con Tớp một tay chôn biết bao cành Phù-dung. Nhà nào
có những chị mới nứt mắt ra là nó cũng đâm vào cho kỳ được. Dù lần đầu có
cự tuyệt, nhưng đến lần thứ hai, hay lần thứ ba là cùng chị ả phải cảm ngay
chàng có duyên ấy. Thế rồi nó rủ rê ngay ý trung nhân ra luỹ tre để chỉ non
thề biển!
Nhiều người bắt gặp nó giở cái mặt chó, ở ngoài đường lấy làm chướng mắt,
đã giọt cho nó bao nhiêu phen nhưng chó đen giữ mực, nào nó có chừa. Đến
nỗi chỉ một mình nó, mà trong ngót một tháng trời, bao nhiêu bạn gái trong
xã hội mõm nhọn, nhất là bọn cấp-tiến đều bị hư, hoặc chửa hoang vó nó cả?
Bợm thế đấy!
Cậu phong lưu công tử nổi tiếng trong áng nguyệt hoa hồi ấy, trác táng lắm
mà không có sâm nhưng quế phụ để tẩm bổ, cho nên đâm ra yếu ớt gầy gò.
Đã nhiều bận, vì sự ghen tuông, nó bị những tình địch trong êu giới đồng
minh nhau cắn nó kịch liệt, có khi toạc đầu xẻ tai xuýt thành án mạng to.
Nhưng giá như độ trước, hẳn nó lăn lưng vào một phen sống mái để giữ thể
diện với gái. Nhưng độ này thì người anh em đành chịu tho, dằn lòng tạm ly
biệt mấy cô nhân ngãi mà cúp đuôi cắm cổ chạy một mạch về nhà, chui tọt
vào gầm phản!
Nhưng mà đã có thói đa tình, thì dù có mắc bệnh gần chết cũng vẫn ngứa, cái
đó chó cũng như người.
Kìa, vết thương hồ lành, người ta đã bắt gặp nó đi mò gái; mà lần này quái
làm sao, nó đánh hơi biết ngay là trong nhà kia, mới có cô chó Tây rất sộp!
Con Tớp vừa thoạt trộm liếc dung nhan của cô bạn mẫu quốc đã đâm ra mê
đặc, chờn vờn ngay đến gần.
Muốn chừng nó cũng như ta, thấy món lạ thì thích nếm cho rộng kiến-văn,
nên ngày nào nó cũng đến tán tỉnh hai ba dạo? Chẳng biết mắt xanh nàng có
lọt chàng anh-đi-dền hay không nhưng dù có chim được mà cứ phải phó-mát
hão huyền như thế thì thá gì, cho nên xin. Chàng trước hết nghĩ đến vấn đề
phụ nữ giải phóng.
Cô ả chó Tây đây thật đáng gọi là một trang thiếu nữ tân thời, đủ làm cho
chim sa cá lặn. Này, hươu cốt cách, vượn tinh thần, mà gấu ghen thua mõm,
cọp hờn kém nanh, mỗi khi hoa gầu ngọc ẳng, tiếng oanh như rung động,
dây đàn tim của Tớp như oán như thanh. Không những thế, chiếc vòng da
đeo quanh cổ, bộ lông nhẫy chét vào mình trông đặc Lemur, lại như tăng cái
nét yêu kiều của tấm thân mơn mởn. Nói tóm lại, con chó Tây đáng gọi là
một đóa hoa khôi, một ngôi sao sáng, khiến cho mỗi khi chàng Tớp loanh
quanh ngửi ngửi bên chốn khuê cũi, cũng không muôn về nhà nữa. Rồi thế
quái nào, chẳng biết ngôn ngữ của hai giống chó ấy có đồng hay không,
nhưng chắc Tớp ta sinh trưởng ở đất Hà nội, thì cũng nói được dăm ba tiếng
bồi, nên đông Tây gặp nhau ngay.
Có một hôm, con Tớp cũng diện bộ cánh mọi khi đương bắt chước hệt như
cái mốt ngoáy ba-toong công tử bột mà ngoe nguẩy cái đuôi, lượn xung
quanh cũi nàng, thì có một đứa bé con ra phang cho một que củi vào lưng.
Sợ xấu hổ với nhân ngãi, vả tức vì bị ngăn trở trong cuộc vui vẻ trẻ trung,
Tớp ta ngoạm ngay cho một miếng vào đùi thằng bé, rồi đi bài tẩu-mã.
Đứa bé kêu rầm, cả nhà xô ra đuổi Tớp, nhưng không kịp. Thế là con Tớp có
một một bọn thù nhân.
Họ bàn với nhau, rồi sẽ đánh Tớp chết, mà người anh em thì kệch, ba bốn
hôm không dám thò mõm ra ngoài.
Nhưng ngọn lửa dục bao giờ cũng cướp hết ánh sáng của sự suy xét; người
cũng vậy mà chó cũng vậy. Rồi chắc rằng Tớp ta nhớ người yêu ở nơi cao
tương kín cổng, suốt ngày bị cấm cung trong cửa buồng khuê. Ừ tội gì không
lẽ cá đã cắn câu lại chịu vứt cần đó để phí hoài mất cái bò lạc, rồi đứa khác
nó nước trước bẻ hoa thì dại hơn cầy, cho nên anh ta lại mon men đến đứng
ở bờ giậu nhìn vào để thăm tin tức. Khi tít mù nào thấy bóng hồng vào ra,
anh ta mới lách qua hàng rào, có lẽ định bàn với cô em cái chước xổ lồng
tháo cũi.
Nhưng mà khốn nạn cho con Tớp. Người ta biết tính quan viên mê gái hay
liều, nên đã quyết với nhau rằng thể nào rồi Tớp ta cũng còn đến nữa: Vì vậy
họ không thả con chó cái ra vội, để dùng kế mỹ-nhân, thì mới dử được con
Tớp vào tròng để đánh chết.
Cái số con Tớp đến ngày hôm nay là hết, hẳn các ngài cũng đoán như vậy
chứ gì! Phải, nhưng nó chết một cách thảm thiết, một cách đau đớn, khiến
cho ai được mắt trông thấy cái phứt sau cùng của đời nó, cũng phải rùng
mình ghê sợ cái bả tình, cũng phải thương xót những con người đương đắm
đuối trong bể ái.
Con Tớp nhìn trước nhìn sau, lững thững đến bên cạnh cũi. Khi nó tưởng
rằng được bình yên như mọi ngày, nó bèn ngoe nguẩy đuôi như phất cờ
thắng trận chạy xung quanh cũi như điên như cuồng, rít ầm lên rồi thò mõm
vào hít lấy hít để. Nó hôn chán như thế rồi nó thè lười ra liếm, liếm mặt, liếm
lưng, liếm cả chỗ không đáng liếm. Con chó cái thây tình lang ân ái hình như
sóng tình cũng xiêu xiêu nên nằm yên. Con Tớp thừa cơ, tiến đến gần, cố
chui lách cái đầu vào khe cũi Giữa lúc ấy, người ta thò dây thưng thòng lọng
vào cổ nó và dòng buộc vào cột.
Nó không biết rằng đã mắc vào tròng, nó cứ tuân theo mệnh lệnh của nữ thần
Vénus. Lách đầu vào khe không ăn thua, nó mới nhẩy hai chân trước lên mặt
cũi như lối mọi khi của nó. Nhưng cũng không thấy công hiệu gì, nó lại đành
nằm ẹp xuống đất, liếm lấp liếm để, rồi lại cố lấy đầu, muốn hẩy cho đổ cái
cũi.
Rành là nó muốn đạp tiêu phòng để vớt người trầm luân. Nhưng sức nó
không sao làm chuyển được cả cái cũi nặng trong nhốt một con chó phốp
pháp, nó đành chịu phép. Lúc này người ta thò dây vào hai chân trước nó,
thiết chặt lại, và trói ghì ra đắng lưng. Lạ cho con Tớp chẳng thấy cái tình
thế nghiêm trọng, hình như nó chỉ nghĩ làm sao cho đạt tới mục đích là được
cọ xát vào người yêu, còn ngoài ra, nó chẳng trông thấy, chẳng để ý cái gì
cả.
Con chó cái ở trong cũi, thấy sự nguy hiểm, cắn rống lên mấy tiếng để ra
hiệu cho bạn biết vụ bắt bớ quan trọng, nhưng con Tớp thì như bị mù mắt, cứ
rít, cứ liếm, cứ cố nhắc đầu lên cho vừa tầm. Thỉnh thoảng nó thấy vướng
víu khó chịu, thì cũng hục hặc cựa cạy nhưng hễ cái lưỡi nó còn được gần
bên mông con chó cái, thì nó lại yên ngay. Ấy thế rồi người ta cột nốt hai
chân sau nó lại.
Bây giờ thì nó chỉ còn cựa cạy được cái đuôi và cái lưỡi mà thôi, mà thật là
nó mê gái đến nỗi chết đến đít mà không biết? Chẳng thế, bị trói mất cựa mà
đầu nó còn hục vào bẹn con kia, đuôi còn ve vẩy ra dáng khoái trí lắm. Con
chó cái thấy tấn bi kịch bên cạnh, lồng lên và cắn rầm rầm, rồi cựa mình
sang chỗ khác. Con Tớp cũng lăn lộn theo đến gần, nhưng chân bị trói không
đi được vậy mà nó mặc kệ, nó cố lê bằng bụng để được đến gần chỗ la liếm
cho thỏa dục tình, rồi nó rít lên mấy tiếng đắc thắng!
Nếu ai chú ý nhìn cái chết của con Tớp mới thấy động tâm! Trói xong, người
ta dốc ngược nó lên xà nhà nhưng ác quá, họ tinh nghịch để cho cái, mõm nó
vừa đúng với bạn gái nó...
Bị đau đớn, nó cũng cựa cạy, cũng giẫy giụa. Nhưng khi mắt nó trông thấy
con chó cái, thì như nó lại quên hết mọi sự để cố chịu đựng nỗi khổ thống về
vật chất mà ngoe nguẩy đuôi và thè dài lưỡi ra, làm cái việc sung sướng về
tinh thần.
Lúc ấy, người ta bắt đầu xử tội nó. Người ta chằng hai đầu dây buộc cổ nó,
thiết thật chặt lại cho nó mất cựa, rồi thò đao nhọn vào họng nó, cứa mấy
nhát. Con Tớp ặc ặc kêu rú lên vài tiếng, tia máu vọt ra. Không hiểu nó có
biết là sắp chết hay không, nhưng sau khi không còn hơi sức mà giẫy nữa,
mà mắt nó vẫn chăm chắm vào con chó Tây, lưỡi nó vẫn thè lè ra để liếm la
liếm liệt, đuôi nó vẫn vẫy nhanh nhẩu như thường.
Nhưng chỉ được vài phút như thế, rồi mắt nó đờ đi đuôi nó yếu đi, lưỡi nó cố
thò dài ra mà liếm cả vào thanh cũi. Rồi dần dần, như chiếc đồng hồ hết giây
đuôi nó không vẫy được nữa, oặt lả xuống, mắt nó hết tinh thần, nhưng chỉ
còn có cái lưỡi là vẫn còn ít tinh lực sau cùng, thấy đưa đi đưa lại được đến
năm sáu cái nữa mới im hẳn.
- Thế là con Tớp hy sinh tính mệnh để thờ phụng ái tình, vậy mà đã chắc gì
nó biết là nó đã chết. Nhưng chó chết hết truyện...
17 Aout 1993
Anh xẩm
Từ chiều, lại bắt đầu trở rét.
Gió.
Mưa.
Não nùng.
Đường vắng ngắt. Chưa đến 8 giờ mà đường đã vắng ngắt. Thỉnh thoảng,
những chiếc xe cao-su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải tia ra hai bên
cánh gà hai dòng khói thuốc lá. Lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái
hiên, run rẩy, vội vàng. Thật là cả một đụn vải chỉ hở có cái mặt. Trên đầu
một cái mũ tủm hum xuống đến mi, quanh cổ, một cuộn khăn len dầy cộm.
Rồi áo, quần, giầy, bít tất, găng tay, có bao nhiêu thứ để chống nhau với rét,
đều quện cả vào người xù xù.
Mưa như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ trắng ra. Xung quanh ngọn
lửa điện đẫm lệ rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn. Đường
bòng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Gió giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường lăn theo nhau rào rào. Hơi
lạnh thấm buốt đến tận xương.
Cây và cột đèn rú lên.
Nhưng một giọng hát ảo não xen lẫn vào tiếng gió.
Hội Chùa Thầy anh em ơi còn đương lúc đua chen,
Hễ nhanh chân thì tới, chứ ươn hèn thì í xa.
Dưới mái hàng nước đầu ngã ba, một anh xẩm đương lắc lư, nghêu cổ lên
mà hát.
Anh ngồi trên manh chiếu, trước cái xoong sắt Tây thủng, một đùi ghếch lên
mặt đàn. Tay nắm cần, tay bật dây, anh uốn cung đàn trầm bổng theo tiếng
hát khàn khàn. Cái mũ dạ, trơn từ đỉnh đến rìa, mềm oặt theo khuôn đầu, che
cho anh khỏi lạnh gáy. Nhưng cái áo Tây vàng rộng thùng thình không giữ
nổi hơi rét cắt da. Mặt anh xám lại.
Hết bài xẩm chợ, anh quay ra cải lương. Anh ngâm:
Hai năm i i mới rõ la à mười i,
Hễ mà hai sáu ú ú, tôi i thời mười i hai ai...
Mà chứ tôi cảm tạ các à ngài...
Điệu hành vân bắt đầu.
Anh ngửa đầu, dúm gân mặt, há mồm ra mà hát. Tiếng đàn từng tưng hòa
theo, lúc khoan, lúc nhặt.
- Nào các ông các bà cho nhà cháu kiếm bữa.
Anh nhăn răng ra cười.
Nhưng mà...
Gió vẫn giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường lăn theo nhau rào rào.
Ho lạnh thấm buốt đến tận xương. Cây và cột đèn rú lên.
Mưa vẫn như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ, trắng ra. Xung quanh
ngọn lửa điện đẫm lệ, rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn.
Đương bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Đường vẫn vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao-su kín mít như
bưng, lép nhép, chạy uể oải, tia ra hai bên cánh gà hai dòng khói thuốc lá lại
thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên, run rầy, vội vàng.
Thế mà anh xẩm vẫn hát. Anh kể sa mạc:
Mà chứ anh khóa ơi, em tiễn chân anh xuống tận bến tàu,
Hai tay sém xách cái khăn giầu em lấy đưa anh.
Và đến Ma-đơ lông:
Là bá i a phố rrề.
Thau anh vẫn không một tiếng vang động. Một xu cũng chẳng có. Một chinh
to cũng chẳng có. Một chinh con cũng chẳng có. Anh càng hết sức để hát, để
đàn, và để... Không ai nghe.
Bởi vì...
Đường càng vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao-su kín mít như
bưng, lép nhép chạy uể oải, lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên,
run rẩy, vội vàng.
Bởi vì...
Mưa càng như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ trắng xóa. Xung quanh
ngọn lửa điện đẫm lệ, rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn.
Đường bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Bởi vì...
Gió vẫn g...
(Tập Truyện ngắn)
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tiểu sử
Nguyễn Công Hoan sinh năm 1903, tại Xuân Cầu, Nghĩa Trụ, Văn Giang
tỉnh Bắc Ninh, nay là tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình Nho học, mất năm
1977 tại Hà nội.
Nguyễn Công Hoan viết văn từ năm 17 tuổi, năm 20 tuổi xuất bản tập truyện
ngắn Kiếp hồng nhan, và năm 32 tuổi (1935), nổi tiếng với tập truyện ngắn
Kép Tư Bền.
Trước cách mạng tháng Tám ông làm nghề dạy học thường bị Pháp theo dõi
phải đổi trường nhiều lần. Sau cách mạng tháng Tám ông hăng hái tham gia
kháng chiến, trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ: Chủ bút báo Vệ quốc quân,
Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam... Nguyễn Công Hoan đã được
Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1,
1996).
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan khá đồ sộ với hàng trăm truyện
ngắn và nhiều tiểu. Các tác phẩm của ông đã được tái bản nhiều lần và hiện
được chọn lại trong bộ Tuyển tập Nguyễn Công Hoan (3 tập, Nhà xuất bản
Văn học, 1983 - 1986).
Những ngày đáng nhớ của nhà văn Nguyễn Công Hoan tại 66 Thợ Nhuộm
Suốt 12 năm (từ năm 1964 - 1976), nhà văn Nguyễn Công Hoan cùng vợ là
cụ Vũ Thị Yến đã về sống với con cháu và sáng tác trong một căn phòng vỏn
vẹn 30m2 trong ngôi nhà 66 phố Thợ Nhuộm nay là trụ sở Báo CAND.
Ngày 6/6, Báo CAND đã long trọng tổ chức buổi lễ gắn biển kỷ niệm tên
nhà văn Nguyễn Công Hoan tại 66 - Thợ Nhuộm, Hà nội, trụ sở của Báo
CAND, đúng ngày giỗ lần thứ 29 của ông.
Có mặt trong buổi lễ này là con trai của nhà văn, Anh hùng LLVTND
Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an cùng phu nhân; vợ chồng nhà
văn Lê Minh, con gái của nhà văn và các con cháu. Cũng thật thân tình trong
buổi lễ hôm nay còn có sự tham dự của các Giám đốc NXB Văn học, NXB
Hội Nhà văn, NXB Thanh niên, NXB Công an nhân dân... Những nơi từng
in rất nhiều tác phẩm của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Đọc diễn văn tại buổi lễ, Thiếu tướng, nhà văn Hữu Ước, Tổng Biên tập Báo
CAND và Chuyên đề ANTG khẳng định: "Khuôn viên và cấu trúc tòa nhà
này có thay đổi nhiều so với trước, nhưng lòng ngưỡng mộ của chúng tôi đối
với nhà văn Nguyễn Công Hoan và Anh hùng LLVTND Nguyễn Tài, thủ
trưởng cũ của chúng tôi thì không hề suy giảm...".
Những con số 6 thú vị:
Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6/3/1903 tại làng Xuân Cầu, xã
Nghĩa Trụ, Huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (không phải là thuộc tỉnh Hải
Dương như Từ điển Văn học - Bộ mới NXB Thế giới 2004 trang 1.114 đã
nhầm). Ông sinh ngày mùng 6, mất cũng ngày 6 (tháng 6/1977). Năm 1946,
nhà văn Nguyễn Công Hoan, khi đó là Giám đốc Sở Kiểm duyệt báo chí
trong chính quyền cách mạng đã cấp giấy phép cho Báo CAND ra số đầu
tiên với tên là Công an mới, tiền thân của Báo CAND ngày nay.
Người có sáng kiến tổ chức xin giấy phép xuất bản tờ báo Công an mới là
chiến sĩ Công an trẻ Nguyễn Tài, Bí thư chi bộ kiêm Bí thư Đoàn Công an
cứu quốc. Nhờ thế, ngày 1/11/1946, Báo Công an mới đã phát hành số đầu
tiên. Đến nay, Báo CAND đang tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 60 năm
Ngày phát hành số báo đầu tiên.
Lại nữa, suốt 12 năm (từ năm 1964 - 1976), nhà văn Nguyễn Công Hoan
cùng vợ là cụ Vũ Thị Yến đã về sống với con cháu và sáng tác tại ngôi nhà
66 Thợ Nhuộm này. Đến năm 1976, ông cùng gia đình con trai là Cục
trưởng Công an Nguyễn Tài vừa bất khuất trở về từ nhà tù của Mỹ, chính
quyền Sài Gòn chuyển về khu tập thể Trung Tự. Và năm 1996, nhà văn
Nguyễn Công Hoan được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn
học nghệ thuật.
Vậy là sắp 60 năm, ngày nhà văn Nguyễn Công Hoan ký giấy phép xuất bản
Báo Công an mới, tại 66 Thợ Nhuộm nơi ông sống xưa và trụ sở Báo CAND
nay, đúng vào ngày giỗ của ông 6/6, tờ báo mà ông ký cho ra mắt long trọng
làm lễ gắn biển kỷ niệm tên tuổi ông, Chủ tịch đầu tiên Hội Nhà văn Việt
Nam...
Trang đời trang văn
Bà Trần Thị Bắc (tên khai sinh là Nguyễn Thị Nghiêm), phu nhân đồng chí
Nguyễn Tài, người nhiều năm được Bộ Công an cử chăm sóc và đào tạo con
cái của các cán bộ miền Bắc chi viện cho An ninh miền Nam kể cho chúng
tôi nghe: Trước đây, gia đình bà được Bộ Công an xếp cho ở trong ngôi nhà
66 Thợ Nhuộm cùng với 3 gia đình khác, trong đó có gia đình cố Thiếu
tướng Hoàng Mai, nguyên Tổng Biên tập Báo CAND...
Đầu năm 1964, do đồng chí Nguyễn Tài bí mật vào miền Nam chiến đấu,
ông bà Nguyễn Công Hoan rời làng Võng Thị thơ mộng về 66 Thợ Nhuộm
để giúp con dâu chăm sóc 4 cháu nhỏ để con trai yên tâm công tác. Vậy là cả
ông bà nội với 5 mẹ con chỉ sống trong một căn phòng vỏn vẹn có gần
30m2.
Bà Bắc kể rằng, những ngày ấy, đêm nào bà cũng thấy nhà văn Nguyễn
Công Hoan dậy viết trên một cái bàn nhỏ kê ở góc nhà, người con dâu cùng
mẹ chồng đã kê cho ông một bộ bàn ghế uống nước để tiếp khách văn. Thi
thoảng, bà thấy nhà thơ Tú Mỡ, Xuân Diệu đến chơi. Nhà văn Nguyễn Công
Hoan có vóc dáng cao cao, ông thường di dép nhẹ nhàng lúc đêm khuya ra
bàn viết những điều vừa chợt đến. Sáng ra ông thức dậy sớm đi tưới mấy cây
hoa trước nhà.
Còn cụ bà Vũ Thị Yến thì chăm một cây trầu tươi tốt ở phía tay trái ngôi nhà
66 Thợ Nhuộm, bà cũng hay ăn trầu nên răng rất chắc và đẹp. Rất nhiều lần,
nhà văn đang viết say sưa thì Hà nội báo động có máy bay Mỹ bắn phá, bà
Vũ Thị Yến xua con dâu và các cháu nhỏ xuống hầm. Riêng nhà văn Nguyễn
Công Hoan thì chạy ra đường, ngửa mặt lên trời mong nhìn thấy máy bay
địch. Bà hét lên: "Ông có vào không, nó bắn chết bây giờ". Không ngờ nhà
văn trào phúng bậc thầy vẫn dí dỏm ngạo nghễ: "Bà không phải lo. Nó có
nhìn thấy tôi đâu mà bắn".
Nhà văn Lê Minh, người con gái út của nhà văn Nguyễn Công Hoan kể, hồi
ấy, căn buồng ở 66 Thợ Nhuộm quá chật, ông thường sang nhà bà ở 72 Lý
Thường Kiệt để viết. Có hai cuốn sách được cha bà viết trong thời gian này,
đó là cuốn "Hỏi chuyện các nhà văn", cuốn thứ hai là "Nhớ gì ghi nấy".
Cuốn sách với tên gọi giản dị thô mộc này không ngờ lại có số phận long
đong lận đận đến kỳ lạ. Năm 1977, sau khi ông mất, cuốn sách này đành dở
dang. Đến năm 1998, nhà văn Lê Minh tổ chức in toàn tập và lấy lại tên ban
đầu "Nhớ gì ghi nấy".
Có một câu chuyện mà đến bây giờ bà Trần Thị Bắc còn nhớ như in: "Ông
thường dạy các cháu những điều tưởng như nhỏ vụn: rải cái chiếu phải rải
cho ngay ngắn thì cái tâm của mình cũng ngay ngắn. Bữa cơm dọn ra, ông
thường ăn thức ăn còn dư từ bữa trước để nhường thức ăn mới cho con cháu.
Nghĩ lại thấy thương ông quá. Những ngày kham khổ, vất vả đó có lẽ cũng
thấm vào trang văn của bố chồng tôi".
Xin kể lại một chút về người vợ của nhà văn Nguyễn Công Hoan, cụ Vũ Thị
Yến. Theo lời bà Trần Thị Bắc, có lần nhà văn Nguyễn Công Hoan đã tâm
sự với con dâu thế này: "Mẹ con là người đóng góp hơn 50% vào thành công
sự nghiệp văn học của cha". Bà đã vượt qua nhiều gian khổ, chịu đựng nhiều
mất mát, đau đớn, chăm sóc các con, coi sóc việc nhà chồng để dồn sự bình
tâm cho ông trên từng trang viết.
Hiếm có một người vợ nhà văn nào như bà Vũ Thị Yến, người có công với
nước từng phải chứng kiến nhiều nỗi đau đến thế. Trong kháng chiến chống
Pháp, bà đau đớn lắm khi biết tin hai người em trai nhà văn Nguyễn Công
Hoan là Nguyễn Công Bồng (Nha Công an Trung ương) và Nguyễn Công
Mỹ hy sinh trong công tác. Rồi người con trai của ông bà là Nguyễn Tài
Khoái cũng hy sinh ở Nam Định.
Ngày 19/12/1949, bà chịu 3 cái tang đau đớn cùng một lúc: Bom của giặc
Pháp đã bỏ xuống Đào Xá, Hà Nam làm chết người mẹ của nhà văn Nguyễn
Công Hoan, vợ và con liệt sĩ Nguyễn Công Mỹ...
Nhưng sức vóc của một phụ nữ như bà chịu đựng thật vô bờ. Có lần, suốt 3
năm không thấy con trai Nguyễn Tài từ chiến trường gửi thư về, bà linh cảm
con có điều gì không lành và năm 1973 bí mật vào trụ sở Bộ Công an xin
gặp Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn.
Gặp Bộ trưởng, bà nói quả quyết: "Thưa bác, bác đã hiểu rõ hoàn cảnh gia
đình nhà tôi qua bao hoạn nạn rồi. Chúng tôi đủ can đảm để đón nhận điều
xấu nhất. Vì sao ba năm nay Tài không gửi thư về? Có chuyện không hay
xảy ra với Tài phải không? Chúng tôi muốn biết sự thật vì đủ sức chịu đựng
và có trách nhiệm giữ bí mật cho cách mạng". Nói những lời quả quyết, kiên
gan, có lẽ người mẹ ấy muốn nén giữ một tiếng khóc, một nỗi đau đang chực
bật ra khỏi lòng.
Nghe vậy Bộ trưởng im lặng trong giây lát, giọng nhỏ lại: "Bác đã nói thế thì
chúng tôi cũng xin nói thật. Trong một chuyến đi công tác, Tài bị địch bắt
giam nhưng Bộ vẫn nắm được tin tức, hiện Tài vẫn khỏe mạnh, hai bác cứ
yên tâm". Bà Yến chào Bộ trưởng ra về. "Bí mật" ấy chỉ có bà, nhà văn
Nguyễn Công Hoan và cô con dâu biết. Bạn bè, con cháu, họ hàng, ai hỏi tin
tức gì về Nguyễn Tài, bà đều bảo: "Tài đi học ở Liên Xô".
Đằng đẵng 11 năm xa con, vợ xa chồng, đến tháng 6/1975, người con
Nguyễn Tài đã trở về sum họp với gia đình tại 66 Thợ Nhuộm. Suốt đời bà
lặng lẽ hy sinh như thế, không yêu cầu chồng con một điều gì. Chỉ duy một
lần bà "xin" tiền của ông. Năm 1996, bà nhận được số tiền Giải thưởng Hồ
Chí Minh của nhà văn Nguyễn Công Hoan, bà đã lấy 1 triệu đồng gửi biếu
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có 9 con đẻ, một
con rể, một cháu nội hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Mãi sau này, có
người lần ra địa chỉ, đến hỏi mới biết là của bà Vũ Thị Yến, vợ nhà văn
Nguyễn Công Hoan gửi.
Cũng tại buổi lễ nói trên, thay mặt các thế hệ làm Báo CAND, nhà văn Hữu
Ước một lần nữa xúc động nói: Những nhà báo CAND chúng tôi rất tự hào
được làm việc ở ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm, nơi nhà văn Nguyễn Công Hoan
từng sống và sáng tác văn học 12 năm cuối đời. Nhà văn Nguyễn Công Hoan
luôn là tấm gương trong cuộc sống, lao động và sáng tạo của những người
cầm bút CAND".
Thu Phương
Nguyễn Công Hoan được tăng lương sau khi… tạ thế?
"Nghĩa tử là nghĩa tận" - Các cụ ta dạy vậy. Nhưng cứ theo như mẩu chuyện
có cái tên câu khách: "Để được chôn khu A" thì quả là nhà văn lớn Nguyễn
Công Hoan (1903 - 1977) chết rồi vẫn còn... Long đong. Chuyện rằng, trước
khi hạ huyệt, ông "bị" người quản lý nghĩa trang Văn Điển phản ứng quyết
liệt, không chịu cho chôn, vì theo tiêu chuẩn khu A (khu chôn vĩnh viễn) thì
mức lương của ông còn thiếu... Một bậc.
Xin trích nguyên văn:
"Nguyễn Công Hoan mất. Khi ban tổ chức lễ tang gọi điện đến ban quản lý
nghĩa trang Văn Điển để xin xe tang, người nhận điện nói ậm ờ rằng chẳng
biết tám giờ, chín giờ hay mười giờ mới có xe.
- Vâng, tùy các anh. Chỉ xin báo cho các anh biết hiện nay trực bên linh cữu
nhà văn có đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ
Nội vụ (con trai nhà văn là Nguyễn Công Tài lúc bấy giờ là Thứ trưởng Bộ
Nội vụ); đồng chí Tố Hữu, Ủy viên Bộ Chính trị; đồng chí Lê Văn Lương,
Bí thư Thành ủy Hà nội và một số cán bộ cao cấp khác.
Đầu kia điện thoại rối rít:
- Vâng, chúng tôi sẽ điều xe đến ngay!
... Đến Văn Điển, một nhân viên ban quản lý nghĩa trang đến hỏi mức lương
của người quá cố. Anh ta giãy nảy lên:
- Còn thiếu năm đồng mới được chôn ở khu A!
Thế là Hội Nhà văn phải cho người về làm quyết định tăng cho Nguyễn
Công Hoan một bậc lương mới đúng thủ tục!".
(Theo "Giai thoại làng văn Việt Nam" - NXB Văn hóa Dân tộc, 1999).
Nhận thấy mẩu giai thoại trên có một số tình tiết không đáng tin cậy, tôi liên
hệ xin được gặp và trao đổi với đồng chí Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ
Nội vụ (nay là Bộ Công an), con trai cụ Nguyễn Công Hoan. Đúng như tôi
dự đoán, ông Tài đưa mắt đọc suốt lượt bài viết rồi buông sách xuống, nói
ngay: "Tôi đề nghị người viết phải cải chính và xin lỗi gia đình công khai
trên báo".
- Thưa bác, những chi tiết nào ở bài viết mà bác thấy chưa chuẩn, cần phải
nói lại?
- Ông Nguyễn Tài: Ngay với tên tôi họ cũng in sai. Tôi tên thật là Nguyễn
Tài Đông, sau đi hoạt động bỏ tên chính, lấy tên Tài làm bí danh. Chưa bao
giờ có chữ Công ở giữa. Họ nhà tôi có 8 chữ đệm: Đức, Đạo, Công, Tài,
Trường, Thiên, Thế, Tộ. Các cụ quy định mỗi thế hệ là một chữ đệm. Đưa
tên tôi thêm chữ Công là nâng tôi lên một thế hệ, ngang với cha tôi là không
đúng.
Thứ nữa, nói các anh Trần Quốc Hoàn, Tố Hữu túc trực bên linh cữu cha tôi
cũng là bịa. Các anh ấy đại diện lãnh đạo Đảng, chỉ đến viếng thôi. Còn túc
trực bên linh cữu cha tôi là con cái trong nhà, là đại diện Hội Nhà văn. Cái gì
cũng phải có nguyên tắc, có tôn ti trật tự chứ.
- Còn chuyện Ban tổ chức lễ tang phải nói gần như "dọa", cán bộ quản lý
nghĩa trang mới cho điều xe đến chuyển linh cữu cụ Hoan đi?
- Khi cha tôi mất, Hội Nhà văn đứng ra lo hết. Cụ được quàn ở 51 Trần
Hưng Đạo (trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam). Tôi không
rõ Hội Nhà văn gọi xe ở đâu, nhưng chắc chắn không phải ở nghĩa trang Văn
Điển. Người viết rất dốt về lịch sử. Tôi khẳng định: Từ khi thành lập, nghĩa
trang này chưa bao giờ có dịch vụ xe tang.
- Như vậy, việc Ban quản lý nghĩa trang không đồng ý để cụ Hoan được
chôn ở khu A cũng là do người viết bịa ra?
- Không bao giờ có chuyện vớ vẩn đó. Ông Hoan từng là Chủ tịch Hội Nhà
văn, làm sao không đủ tiêu chuẩn? Cha tôi mất ở Bệnh viện Việt - Xô (nay là
Bệnh viện Hữu Nghị). Bấy giờ chưa có điều hòa, bệnh viện phải bảo quản
xác cha tôi bằng đá cây; tới ba, bốn hôm mới đưa đám. Như vậy, Hội Nhà
văn phải liên hệ với nghĩa trang từ trước khi chôn chứ. Theo quy định, ông
Hoan được "nằm" ở khu A thì ở đấy người ta phải đào huyệt sẵn rồi. Mọi
người chỉ việc kéo nhau đến. Làm gì có chuyện đến đó còn tranh cãi có được
chôn hay không. Rồi chuyện cán bộ Hội chạy về ký tăng lương. Hội Nhà văn
không làm chuyện trẻ con đó đâu.
- Thưa bác, hiện di hài của nhà văn Nguyễn Công Hoan có còn ở nghĩa trang
Văn Điển hay đã chuyển vào nghĩa trang Mai Dịch - Như trường hợp nhà
thơ Xuân Diệu?
- Không! Khi cải táng, gia đình đã đưa cụ về quê rồi (thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa
Trụ, Huyện Văn Giang, Hưng Yên). Chúng tôi muốn để cụ nằm bên mộ bà
nội tôi cùng các chú, các em của cụ. Tất cả một dãy bên nhau, rất tình cảm...
- Nhân việc này, bác có nhắn gửi gì tới tác giả bài viết?
- Viết vui gì thì cũng phải trên cơ sở sự thật, chứ bịa ra để "cù" người đọc và
kiếm tiền là không được. Bài viết không chỉ xúc phạm gia đình tôi đâu, mà
lớn hơn, là xúc phạm tới chính sách của Đảng, Nhà nước đối với văn nghệ sĩ.
Tôi đề nghị người viết phải cải chính...
Phạm Khải
Ái tình tiểu thuyết (Thuật theo lời của B.)
Sợ các ngài tẩy chay tôi, hôm nay tôi xin hiến các ngài một thiên ái tình tiểu
thuyết. Nhưng ái tình tiểu thuyết tôi vốn không quen viết, nên tôi chỉ dám
coi nó như câu chuyện chó chết mà thôi.
Ông hàng xóm tôi mới đem ở Hà nội về một con chó trắng. Ông đặt tên cho
nó là Tớp. Cơn Tớp, tôi chẳng biết có cái gì đáng quý, nhưng mà, trời ơi,
gớm, ông ấy làm bộ như một bà mẹ có con gái đến thì? Ông ấy khoe khoe
những đức tính nó thế nọ thế kia, nghĩa là con chó ấy chẳng may chó đến nỗi
phải làm kiếp chó, chứ giá được làm người, thì tất cũng phải làm đến gì gì
chứ chẳng vừa?
Thế nhưng tôi tưởng làm cái giống chó An-nam mình, thì dù có tài xuất
chúng đến đâu cũng vậy, sự nghiệp bất quá cũng chỉ đến giữ nhà cho chủ là
hết; mà có hơn chó thiên hạ về cái thỉnh thoảng được phát tài vì có bổng
ngoại, nhưng dăm ba bãi tiệc ấy, bất quá cũng chỉ là cái bã giả của người ta
mà thôi, ngon gì!
Ấy là nói những giống chó khôn, biết thân phận làm kiếp chó, chứ nếu lại có
tính ngông nghênh mà cắn trộm, bặng nhặng mà ẳng sằng, hoặc dại dột mà
vục đầu vào chĩnh tương hay niêu cá chẳng hạn, thì đeo riềng vào cổ lúc nào
không biết đấy.
Vậy mà chó nhà quê thì mới thế, chứ nếu chẳng may ở các thành phố lớn,
luật pháp nghiêm ngặt, mà quá giờ tiên sinh cứ tự do ngôn luận oang oang
lên, hoặc ban ngày, tơ-lơ-mơ đi ra đường chơi phiếm, thì có mà tù sớm.
Chính con chó Tớp của ông hàng xóm tôi, sở dĩ bị trục xuất cảnh ngoại, cũng
chỉ vì tội nhiều khi đang đêm, không biết cao hứng cái gì, cứ diễn thuyết rầm
lên, hô hào dữ đến nỗi cả nhà mất ngủ; lại mới đây giữa ban ngày ban mặt,
nó dám công nhiên - Nói vô phép các ngài, nó dám công nhiên hiếp dâm
ngay con chó con mới mua buổi sáng. Vô đạo thật? Chẳng biết rằng nó đoán
là chủ nó định tống cổ nó, nên nó mới giở thói cẩu-trệ định làm hại cho mà
làm ăn xúi quẩy, hay nó cố tình làm mất trinh chị đồng nghiệp sắp hớt cẳng
nó. Nhưng cứ xem cái đời tư của nó như thế, thì dù ông hàng xóm tôi có làm
trạng sư bênh vực nó kỳ cùng, tôi cũng kết luận rằng ở nhà quê này mà con
Tớp cứ giở cái thủ đoạn ấy ra, thì có ngày chết mất mạng. Con chó Tớp được
về nơi rộng cẳng, lấy làm khoái lắm. Ngay lúc mới được thả xích ra, nó
loăng quăng chạy hết đằng sau ra đằng trước, nhà dưới lên nhà trên, hễ động
có ai qua ngõ, là anh chàng chạy ngay ra chất vấn. Chẳng bù với khi còn ở
ngoài tỉnh, cả ngày phải khóa miệng, có cất lên một vài tiếng để làm chầu
chay cho đờ buồn, thì đã bị mắng chửi rầm rĩ.
Ở nhà quê được hít không khí trong sạch, được vận động luôn chân, lại được
ông chủ cho ăn uống tử tế, nên Tớp ta mập mạp, trắng nõn, trông ra phết anh
chị?
Ngày mới ở tỉnh về, nó hay hống hách, thấy ai lạ cũng định gây sự. Nhưng
từ hôm bị cái gậy đầu tiên của thằng Mõ giáng vào lưng thì nó cũng lịch
duyệt hơn một chút, không chơi dại nữa, bớt sự bắng nhắng.
Thấy ai qua ngõ, nó chỉ gâu một tiếng xoàng gọi là tác oai, rồi cúp đuôi
nhanh nhẩu chui tọt vào hàng rào, giữ thế thủ cẩn thận, mới dám thò đầu ra,
trợn mắt, giơ nanh, gầm gừ cho đến khi người ta đi khuất.
Nhưng ở nơi thôn dã này, thì sự canh gác của nó chỉ cần có trong khi đêm
tối, nên rồi nó cũng bắt chước ngay các đồng nghiệp nó, cả ngày nằm cuộn
tròn ở cồng, gọi là chiếu lệ, rồi đánh một giấc ngủ dài cho tiêu thì giờ.
Nghề thế, nhàn cư vi bất thiện, nếu cứ ngày đánh hai bữa no phình bụng rồi
“la siết” suốt cả buổi trưa thì cuộc đời tẻ ngắt, mà cái thanh niên cũng đến
mòn mỏi đi mà thôi. Cho nên được độ nửa tháng, người ta đã thấy con Tớp
đứng tụ họp ở ngã ba, với dăm bảy con chó quanh đấy.
Cái tính chơi bời của nó nẩy nòi ra từ khi nó còn ở chốn ngàn năm văn vật,
nay nó thấy một nơi mà bất cứ đức hay cái tụ bạ để làm chỗ hẹn hò, như bờ
hồ Hoàn Kiếm, như trong cuộc chợ phiên của chúng ta, thì muốn chừng nó
cũng chệnh nông nỗi riêng nên cứ đúng giờ giấc là nó lững thững ra đó, để
gạ gẫm giở trò trai gái. Mà trong cánh ấy, trông nó bột nhất! Ngày nào cũng
vậy bộ lông trắng nuột như quần áo mới giặt là? Rành là nó ăn đứt tụi con
cộc, con sồm, con vằn, con vện, trông nhà quê quá. Khoa tán gái chẳng hay
nó học ai, mà nghe chừng mả lắm, chẳng thế những tiểu thư mực khoác bộ
áo nhung, tiểu thư đốm mặc hàng bom-bay, nó điều nước non được cả. Thì
ra có bộ mã tốt bao giờ cũng vẫn dễ làm si tình, cho nên cái số đào hoa của
anh công tứ Tớp đã làm cho trong làng êu, nhiều tay phải phát tức!
Rồi chẳng bao lâu, con Tớp một tay chôn biết bao cành Phù-dung. Nhà nào
có những chị mới nứt mắt ra là nó cũng đâm vào cho kỳ được. Dù lần đầu có
cự tuyệt, nhưng đến lần thứ hai, hay lần thứ ba là cùng chị ả phải cảm ngay
chàng có duyên ấy. Thế rồi nó rủ rê ngay ý trung nhân ra luỹ tre để chỉ non
thề biển!
Nhiều người bắt gặp nó giở cái mặt chó, ở ngoài đường lấy làm chướng mắt,
đã giọt cho nó bao nhiêu phen nhưng chó đen giữ mực, nào nó có chừa. Đến
nỗi chỉ một mình nó, mà trong ngót một tháng trời, bao nhiêu bạn gái trong
xã hội mõm nhọn, nhất là bọn cấp-tiến đều bị hư, hoặc chửa hoang vó nó cả?
Bợm thế đấy!
Cậu phong lưu công tử nổi tiếng trong áng nguyệt hoa hồi ấy, trác táng lắm
mà không có sâm nhưng quế phụ để tẩm bổ, cho nên đâm ra yếu ớt gầy gò.
Đã nhiều bận, vì sự ghen tuông, nó bị những tình địch trong êu giới đồng
minh nhau cắn nó kịch liệt, có khi toạc đầu xẻ tai xuýt thành án mạng to.
Nhưng giá như độ trước, hẳn nó lăn lưng vào một phen sống mái để giữ thể
diện với gái. Nhưng độ này thì người anh em đành chịu tho, dằn lòng tạm ly
biệt mấy cô nhân ngãi mà cúp đuôi cắm cổ chạy một mạch về nhà, chui tọt
vào gầm phản!
Nhưng mà đã có thói đa tình, thì dù có mắc bệnh gần chết cũng vẫn ngứa, cái
đó chó cũng như người.
Kìa, vết thương hồ lành, người ta đã bắt gặp nó đi mò gái; mà lần này quái
làm sao, nó đánh hơi biết ngay là trong nhà kia, mới có cô chó Tây rất sộp!
Con Tớp vừa thoạt trộm liếc dung nhan của cô bạn mẫu quốc đã đâm ra mê
đặc, chờn vờn ngay đến gần.
Muốn chừng nó cũng như ta, thấy món lạ thì thích nếm cho rộng kiến-văn,
nên ngày nào nó cũng đến tán tỉnh hai ba dạo? Chẳng biết mắt xanh nàng có
lọt chàng anh-đi-dền hay không nhưng dù có chim được mà cứ phải phó-mát
hão huyền như thế thì thá gì, cho nên xin. Chàng trước hết nghĩ đến vấn đề
phụ nữ giải phóng.
Cô ả chó Tây đây thật đáng gọi là một trang thiếu nữ tân thời, đủ làm cho
chim sa cá lặn. Này, hươu cốt cách, vượn tinh thần, mà gấu ghen thua mõm,
cọp hờn kém nanh, mỗi khi hoa gầu ngọc ẳng, tiếng oanh như rung động,
dây đàn tim của Tớp như oán như thanh. Không những thế, chiếc vòng da
đeo quanh cổ, bộ lông nhẫy chét vào mình trông đặc Lemur, lại như tăng cái
nét yêu kiều của tấm thân mơn mởn. Nói tóm lại, con chó Tây đáng gọi là
một đóa hoa khôi, một ngôi sao sáng, khiến cho mỗi khi chàng Tớp loanh
quanh ngửi ngửi bên chốn khuê cũi, cũng không muôn về nhà nữa. Rồi thế
quái nào, chẳng biết ngôn ngữ của hai giống chó ấy có đồng hay không,
nhưng chắc Tớp ta sinh trưởng ở đất Hà nội, thì cũng nói được dăm ba tiếng
bồi, nên đông Tây gặp nhau ngay.
Có một hôm, con Tớp cũng diện bộ cánh mọi khi đương bắt chước hệt như
cái mốt ngoáy ba-toong công tử bột mà ngoe nguẩy cái đuôi, lượn xung
quanh cũi nàng, thì có một đứa bé con ra phang cho một que củi vào lưng.
Sợ xấu hổ với nhân ngãi, vả tức vì bị ngăn trở trong cuộc vui vẻ trẻ trung,
Tớp ta ngoạm ngay cho một miếng vào đùi thằng bé, rồi đi bài tẩu-mã.
Đứa bé kêu rầm, cả nhà xô ra đuổi Tớp, nhưng không kịp. Thế là con Tớp có
một một bọn thù nhân.
Họ bàn với nhau, rồi sẽ đánh Tớp chết, mà người anh em thì kệch, ba bốn
hôm không dám thò mõm ra ngoài.
Nhưng ngọn lửa dục bao giờ cũng cướp hết ánh sáng của sự suy xét; người
cũng vậy mà chó cũng vậy. Rồi chắc rằng Tớp ta nhớ người yêu ở nơi cao
tương kín cổng, suốt ngày bị cấm cung trong cửa buồng khuê. Ừ tội gì không
lẽ cá đã cắn câu lại chịu vứt cần đó để phí hoài mất cái bò lạc, rồi đứa khác
nó nước trước bẻ hoa thì dại hơn cầy, cho nên anh ta lại mon men đến đứng
ở bờ giậu nhìn vào để thăm tin tức. Khi tít mù nào thấy bóng hồng vào ra,
anh ta mới lách qua hàng rào, có lẽ định bàn với cô em cái chước xổ lồng
tháo cũi.
Nhưng mà khốn nạn cho con Tớp. Người ta biết tính quan viên mê gái hay
liều, nên đã quyết với nhau rằng thể nào rồi Tớp ta cũng còn đến nữa: Vì vậy
họ không thả con chó cái ra vội, để dùng kế mỹ-nhân, thì mới dử được con
Tớp vào tròng để đánh chết.
Cái số con Tớp đến ngày hôm nay là hết, hẳn các ngài cũng đoán như vậy
chứ gì! Phải, nhưng nó chết một cách thảm thiết, một cách đau đớn, khiến
cho ai được mắt trông thấy cái phứt sau cùng của đời nó, cũng phải rùng
mình ghê sợ cái bả tình, cũng phải thương xót những con người đương đắm
đuối trong bể ái.
Con Tớp nhìn trước nhìn sau, lững thững đến bên cạnh cũi. Khi nó tưởng
rằng được bình yên như mọi ngày, nó bèn ngoe nguẩy đuôi như phất cờ
thắng trận chạy xung quanh cũi như điên như cuồng, rít ầm lên rồi thò mõm
vào hít lấy hít để. Nó hôn chán như thế rồi nó thè lười ra liếm, liếm mặt, liếm
lưng, liếm cả chỗ không đáng liếm. Con chó cái thây tình lang ân ái hình như
sóng tình cũng xiêu xiêu nên nằm yên. Con Tớp thừa cơ, tiến đến gần, cố
chui lách cái đầu vào khe cũi Giữa lúc ấy, người ta thò dây thưng thòng lọng
vào cổ nó và dòng buộc vào cột.
Nó không biết rằng đã mắc vào tròng, nó cứ tuân theo mệnh lệnh của nữ thần
Vénus. Lách đầu vào khe không ăn thua, nó mới nhẩy hai chân trước lên mặt
cũi như lối mọi khi của nó. Nhưng cũng không thấy công hiệu gì, nó lại đành
nằm ẹp xuống đất, liếm lấp liếm để, rồi lại cố lấy đầu, muốn hẩy cho đổ cái
cũi.
Rành là nó muốn đạp tiêu phòng để vớt người trầm luân. Nhưng sức nó
không sao làm chuyển được cả cái cũi nặng trong nhốt một con chó phốp
pháp, nó đành chịu phép. Lúc này người ta thò dây vào hai chân trước nó,
thiết chặt lại, và trói ghì ra đắng lưng. Lạ cho con Tớp chẳng thấy cái tình
thế nghiêm trọng, hình như nó chỉ nghĩ làm sao cho đạt tới mục đích là được
cọ xát vào người yêu, còn ngoài ra, nó chẳng trông thấy, chẳng để ý cái gì
cả.
Con chó cái ở trong cũi, thấy sự nguy hiểm, cắn rống lên mấy tiếng để ra
hiệu cho bạn biết vụ bắt bớ quan trọng, nhưng con Tớp thì như bị mù mắt, cứ
rít, cứ liếm, cứ cố nhắc đầu lên cho vừa tầm. Thỉnh thoảng nó thấy vướng
víu khó chịu, thì cũng hục hặc cựa cạy nhưng hễ cái lưỡi nó còn được gần
bên mông con chó cái, thì nó lại yên ngay. Ấy thế rồi người ta cột nốt hai
chân sau nó lại.
Bây giờ thì nó chỉ còn cựa cạy được cái đuôi và cái lưỡi mà thôi, mà thật là
nó mê gái đến nỗi chết đến đít mà không biết? Chẳng thế, bị trói mất cựa mà
đầu nó còn hục vào bẹn con kia, đuôi còn ve vẩy ra dáng khoái trí lắm. Con
chó cái thấy tấn bi kịch bên cạnh, lồng lên và cắn rầm rầm, rồi cựa mình
sang chỗ khác. Con Tớp cũng lăn lộn theo đến gần, nhưng chân bị trói không
đi được vậy mà nó mặc kệ, nó cố lê bằng bụng để được đến gần chỗ la liếm
cho thỏa dục tình, rồi nó rít lên mấy tiếng đắc thắng!
Nếu ai chú ý nhìn cái chết của con Tớp mới thấy động tâm! Trói xong, người
ta dốc ngược nó lên xà nhà nhưng ác quá, họ tinh nghịch để cho cái, mõm nó
vừa đúng với bạn gái nó...
Bị đau đớn, nó cũng cựa cạy, cũng giẫy giụa. Nhưng khi mắt nó trông thấy
con chó cái, thì như nó lại quên hết mọi sự để cố chịu đựng nỗi khổ thống về
vật chất mà ngoe nguẩy đuôi và thè dài lưỡi ra, làm cái việc sung sướng về
tinh thần.
Lúc ấy, người ta bắt đầu xử tội nó. Người ta chằng hai đầu dây buộc cổ nó,
thiết thật chặt lại cho nó mất cựa, rồi thò đao nhọn vào họng nó, cứa mấy
nhát. Con Tớp ặc ặc kêu rú lên vài tiếng, tia máu vọt ra. Không hiểu nó có
biết là sắp chết hay không, nhưng sau khi không còn hơi sức mà giẫy nữa,
mà mắt nó vẫn chăm chắm vào con chó Tây, lưỡi nó vẫn thè lè ra để liếm la
liếm liệt, đuôi nó vẫn vẫy nhanh nhẩu như thường.
Nhưng chỉ được vài phút như thế, rồi mắt nó đờ đi đuôi nó yếu đi, lưỡi nó cố
thò dài ra mà liếm cả vào thanh cũi. Rồi dần dần, như chiếc đồng hồ hết giây
đuôi nó không vẫy được nữa, oặt lả xuống, mắt nó hết tinh thần, nhưng chỉ
còn có cái lưỡi là vẫn còn ít tinh lực sau cùng, thấy đưa đi đưa lại được đến
năm sáu cái nữa mới im hẳn.
- Thế là con Tớp hy sinh tính mệnh để thờ phụng ái tình, vậy mà đã chắc gì
nó biết là nó đã chết. Nhưng chó chết hết truyện...
17 Aout 1993
Anh xẩm
Từ chiều, lại bắt đầu trở rét.
Gió.
Mưa.
Não nùng.
Đường vắng ngắt. Chưa đến 8 giờ mà đường đã vắng ngắt. Thỉnh thoảng,
những chiếc xe cao-su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải tia ra hai bên
cánh gà hai dòng khói thuốc lá. Lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái
hiên, run rẩy, vội vàng. Thật là cả một đụn vải chỉ hở có cái mặt. Trên đầu
một cái mũ tủm hum xuống đến mi, quanh cổ, một cuộn khăn len dầy cộm.
Rồi áo, quần, giầy, bít tất, găng tay, có bao nhiêu thứ để chống nhau với rét,
đều quện cả vào người xù xù.
Mưa như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ trắng ra. Xung quanh ngọn
lửa điện đẫm lệ rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn. Đường
bòng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Gió giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường lăn theo nhau rào rào. Hơi
lạnh thấm buốt đến tận xương.
Cây và cột đèn rú lên.
Nhưng một giọng hát ảo não xen lẫn vào tiếng gió.
Hội Chùa Thầy anh em ơi còn đương lúc đua chen,
Hễ nhanh chân thì tới, chứ ươn hèn thì í xa.
Dưới mái hàng nước đầu ngã ba, một anh xẩm đương lắc lư, nghêu cổ lên
mà hát.
Anh ngồi trên manh chiếu, trước cái xoong sắt Tây thủng, một đùi ghếch lên
mặt đàn. Tay nắm cần, tay bật dây, anh uốn cung đàn trầm bổng theo tiếng
hát khàn khàn. Cái mũ dạ, trơn từ đỉnh đến rìa, mềm oặt theo khuôn đầu, che
cho anh khỏi lạnh gáy. Nhưng cái áo Tây vàng rộng thùng thình không giữ
nổi hơi rét cắt da. Mặt anh xám lại.
Hết bài xẩm chợ, anh quay ra cải lương. Anh ngâm:
Hai năm i i mới rõ la à mười i,
Hễ mà hai sáu ú ú, tôi i thời mười i hai ai...
Mà chứ tôi cảm tạ các à ngài...
Điệu hành vân bắt đầu.
Anh ngửa đầu, dúm gân mặt, há mồm ra mà hát. Tiếng đàn từng tưng hòa
theo, lúc khoan, lúc nhặt.
- Nào các ông các bà cho nhà cháu kiếm bữa.
Anh nhăn răng ra cười.
Nhưng mà...
Gió vẫn giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường lăn theo nhau rào rào.
Ho lạnh thấm buốt đến tận xương. Cây và cột đèn rú lên.
Mưa vẫn như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ, trắng ra. Xung quanh
ngọn lửa điện đẫm lệ, rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn.
Đương bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Đường vẫn vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao-su kín mít như
bưng, lép nhép, chạy uể oải, tia ra hai bên cánh gà hai dòng khói thuốc lá lại
thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên, run rầy, vội vàng.
Thế mà anh xẩm vẫn hát. Anh kể sa mạc:
Mà chứ anh khóa ơi, em tiễn chân anh xuống tận bến tàu,
Hai tay sém xách cái khăn giầu em lấy đưa anh.
Và đến Ma-đơ lông:
Là bá i a phố rrề.
Thau anh vẫn không một tiếng vang động. Một xu cũng chẳng có. Một chinh
to cũng chẳng có. Một chinh con cũng chẳng có. Anh càng hết sức để hát, để
đàn, và để... Không ai nghe.
Bởi vì...
Đường càng vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao-su kín mít như
bưng, lép nhép chạy uể oải, lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên,
run rẩy, vội vàng.
Bởi vì...
Mưa càng như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ trắng xóa. Xung quanh
ngọn lửa điện đẫm lệ, rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn.
Đường bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Bởi vì...
Gió vẫn g...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





