CHÀO XUÂN MỚI
Tuyển Tập Truyện Ngắn - Akutagawa Ryunosuke

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:51' 28-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:51' 28-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách
Tập truyện ngắn của Akutagawa Ryunosuke
Tác giả
Akutagawa Ryunosuke
Nhà Xuất Bản
NXB TP HCM
Ebook
Tổng hợp Shiba 2021 kindlekobovn
★
— —
MỤC LỤC | TABLE OF CONTENTS
Hội yêu đọc sách Kindle Việt Nam
Bức Họa Núi Thu
Cái mũi
Cháo Khoai
Chiếc Mùi soa
Chiếc xe goòng
Cổng Rashomon
Địa ngục trước mắt
Hà Đồng
Lòng đã trót yêu
Mộng Mị ( Yume )
Mùa thu
Niềm tin
Nước Giòng Sông Cái
Tiệc khiêu vũ
Tay đạo chích hào hiệp
Trinh tiết
Tu tiên
Akutagawa dựa vào đâu để viết Sợi Tơ Nhện
Bốn bề bờ bụi
Ảo thuật
Ảo Ảnh Cuộc Đời
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách
Bức Họa Núi Thu
Nguyên tác
Shuzanzu
Tác giả
Akutagawa Ryunosuke
Bức Họa Núi Thu
Một tối mùa thu, Vương Thạch Cốc (2) đến thăm Âu Hương Các và
khi đang nhấp mấy ngụm trà với chủ nhân Uẩn Nam Điền (3) , câu chuyện
đưa đẩy thế nào mà tự dưng khách đi vào câu hỏi đó.
- Thưa không, tôi chưa được xem ạ. Thế cụ đã có dịp thưởng thức
tranh ấy chưa ?
Đại Si Lão Nhân Hoàng Công Vọng tề danh với Mai Đạo Nhân (4) và
Hoàng Hạc Sơn Tiều (5) , đời coi là ba thánh thủ hội họa dưới triều
Nguyên. Uẩn Nam Điền vừa nói thế mà có cảm tưởng những bức danh họa
của Đại Si mình có dịp chiêm ngưỡng ngày xưa, nào Sa Tích Đồ, nào Phú
Xuân Quyển như phảng phất hiện về trong ký ức.
- Ấy, biết thưa thế nào đây, bảo là xem rồi thì vẫn đúng mà bảo chưa
xem cũng chẳng sai. Chuyện nói ra thật khó tin, bẩm cụ ...
- Cái gì mà xem rồi lại như chưa xem, thế nhỉ ...?
Uẩn Nam Điền lộ vẻ thắc mắc, nhìn Vương Thạch Cốc như dò hỏi.
- Hay tranh cụ xem là bức họa mô phỏng thôi chứ gì ?
- Thưa không, chẳng phải phỏng họa nào cả. Rõ ràng tôi được xem bản
chính đấy. Nào phải một mình tôi đâu., Cả Yên Khách tiên sinh (6)(Vương
Thì Mẫn) lẫn Liêm Châu tiên sinh (7)
(Vương Giám) đếu có chút duyên
may với bức Thu Sơn Đồ nầy cả đấy, cụ ạ !
Vương Thạch Cốc mới nhấp thêm ngụm trà, ra vẻ nghĩ ngợi lung lắm,
rồi mới mỉm cười.
- Nếu không nhàm tai cụ thì tôi xin được phép kể lại đầu đuôi câu
chuyện.
- Vâng, cụ tự nhiên cho.
Uẩn Nam Điền khêu lại ngọn lửa trên giá đuốc đồng, vừa ân cần thôi
thúc khách.
*
Chuyện xảy ra hồi Nguyên Tể tiên sinh (8) (Đổng Kỳ Xương) còn sinh
tiền cơ. Mùa thu năm ấy, có hôm đang cùng Yên Khách Ông luận về hội
họa, bất chợt tiên sinh hỏi Ông đã được xem Thu Sơn Đồ của Hoàng Nhất
Phong chưa. Như cụ thừa biết, trong ngành họa, Ông là môn hạ họa phái
Đại Si, nên có thể bảo đã là tác phẩm của Đại Si lưu lại trên cõi đời nầy,
Ông đều xem không sót. Thế mà mỗi một bức gọi là Thu Sơn Đồ, rốt cục
ông chưa hề được xem.
- Không ạ, tên còn chưa nghe tới, nói chi đến xem !
Yên Khách Ông vừa trả lời như thế vừa không khỏi thẹn thùa.
-Thế thì khi nào có dịp, xin ông xem một lần cho biết. So với Hạ Sơn
Đồ và Phù Băng Đồ, tranh ấy còn nổi hơn một bậc. Có lẽ trong số họa
phẩm của Hoàng Đại Si lão nhân, Thu Sơn Đồ chính là bạch mi ( 9 ) đấy ạ
!
- Kiệt tác như thế hở cụ. Tôi phải tìm xem mới được. Thế cụ có biết
hiện nay ai là chủ bức tranh ấy không?
- Nó nằm ở nhà họ Trương xứ Nhuận Châu. Trên đường vãng cảnh
Kim Các Tự chẳng hạn, ông nhớ tạt qua gõ cửa hỏi thăm chủ nhân xem.
Tôi sẽ xin vì ông mà thảo một phong thư giới thiệu.
Yên Khách Ông lãnh thư của tiên sinh, tức thời lên đường đi Nhuận
Châu. Nghĩ thầm nếu nhà họ Trương là nơi sở tàng một bức danh họa như
vậy thì đến đó, ngoài tranh Hoàng Nhất Phong chắc còn có cơ chiêm
ngưỡng được những bức họa tuyệt vời khác, nên Yên Khách Ông bồn
chồn bứt rứt không thể nào nán lại thư phòng Tây Viên (10) thêm một khắc
nào nữa.
Thế nhưng khi tới Nhuận Châu, Ông mới vỡ lẽ. Ngôi nhà họ Trương
mà ông thèm thuồng đến viếng kia, cơ ngơi đồ sộ thì có đấy nhưng sao
hoang phế tiêu điều quá. Giây trường xuân leo đầy tường dậu, cỏ dại um
tùm trên sân, một đàn gà vịt nhớn nhác nhìn khách lạ. Cảnh tượng như thế
làm cho một người trung hậu như Ông cũng bất giác nghi ngờ lời nói của
Nguyên Tể tiên sinh vì không nghĩ ra cớ gì mà tranh Đại Si lạc loài đến
chốn hoang vu thế nầy. Nhưng đã cất công đến lại chưa chìa danh thiếp mà
đã bỏ về thì sao gọi là sở nguyện bình sinh. Vừa vặn lúc ấy người canh cửa
bước ra, Ông đành phải trình bày việc làm khách viễn phương ghé xem
tranh Hoàng Nhất Phong, rồi trao phong thư giới thiệu của Tư Bạch Tiên
Sinh.
Chỉ trông chốc lát, Yên Khách Ông đã được mời lên đại sảnh. Ở đây
cũng vậy, tuy có đặt bộ trường kỷ bạch đàn nom rất trang nhã nhưng
thoang thoảng mốc meo, như thể mùi hoang phế bốc lên cả từ nền gạch.
May thay, khi chủ nhân bước ra thì dầu nhìn mặt thấy như người mang
bệnh nhưng tướng mạo nom ra cũng hiền lành. Không những thế, khuôn
mặt xanh xao và bàn tay thanh tú kia cho ta cảm tưởng người ấy có cái
phong thái con nhà dòng dõi. Sau khi hai bên phân chia ngôi thứ theo đúng
lễ sơ kiến, Ông bèn thưa với chủ nhân xin được chiêm bái tác phẩm cao
diệu của Hoàng Nhất Phong. Nghe giọng khẩn khoản mới thấy Ông có vẻ
đang bị ám ảnh bởi nỗi lo sợ nếu không tìm xem cho được bức họa bây
giờ, e nó sẽ biến thành sương thành khói mất.
Chủ nhân vui vẻ nhận lời và cho treo ngay lên tường của sảnh đường
một bức họa :
- Xin thưa đây là Thu Sơn Đồ mà quí khách hằng ao ước.
Yên Khách Ông mới nhìn bức tranh trên tường một lượt thôi đã bất
giác thốt ra tiếng kêu kinh ngạc.
Nền họa tuyền một màu xanh lục.Chỗ dòng khe uốn mình như rắn
lượn, lác đác xóm làng và mấy nhịp tiểu kiều. Bên sườn ngọn núi vút lên
cao nhất, chòm mây thu nhàn nhã được điểm đậm nhạt bằng mấy lớp phấn
trắng. Núi xếp giăng hàng theo phép hoành điểm (11) của Cao Phòng
Sơn (12) , tươi tắn sau cơn mưa như một nét mày xanh, lại ánh lên nét đẹp
của màu son rắc đó đây trên những khóm cây lá đỏ. Không biết dùng lời
nào để diễn tả cho hết ý, và còn lo đòi hỏi đó vượt cả khả năng của ngôn
ngữ nữa. Chỉ thấy bức họa vừa diễm lệ, vừa hùng tráng, bút mực lại rất đổi
nồng đượm. Có thể nói màu sắc rực rỡ như thế mà vẫn toát ra một cái gì xa
xưa, hư không lãng đãng.
Yên Khách Ông để thần hồn bay bổng, mắt mải mê không rời bức họa.
Càng nhìn càng ngắm, Ông khám phá hết chỗ ảo diệu nầy đến chỗ ảo diệu
khác.
- Thế nào, quí khách có hài lòng không ạ ?
Chủ nhân miệng hơi mỉm cười, nghiêng nhìn ông dò hỏi.
- Quả là thần phẩm ! Lời tán tụng của Nguyên Tể tiên sinh chẳng
những không quá đáng tị nào mà còn như là chưa đủ đấy ạ. Đem những
danh họa tôi xem được cho đến nay mà so với bức tranh nầy thì chúng đều
ở thế hạ phong cả.
Miệng thì nói nhưng mắt Yên Khách Ông vẫn không rời khỏi bức họa.
- Thế cơ, bức tranh nầy là kiệt tác đến mức đó sao, thưa quí khách ?
Yên Khách Ông lúc đó mới đảo mắt nhìn chủ nhân, ra dáng ngạc nhiên
:
- Tại sao bây giờ ngài lại tỏ ra mất tin tưởng như thế.
- Không ạ, tôi nào có mất tin tưởng gì đâu. Chẳng qua là........
Lúc đó, chủ nhân bỗng đâm ra bẽn lẽn như cậu thư sinh, mặt đỏ lên vì
lúng túng. Mãi sau mới nở một nụ cười buồn bã, tần ngần nhìn bức họa và
tiếp lời :
- Thực tình, mỗi lần nhìn bức họa nầy, dù mắt đang mở trao tráo, tôi
vẫn thấy mình như đang ở trong cõi mộng.Thu Sơn đẹp đến thế nầy ư ? Vẻ
đẹp ấy chỉ có mình tôi cảm nhận được thôi sao ? Ngoài tôi ra, dưới mắt
người khác nó chỉ là một bức họa tầm thường chăng ? Không hiểu tại sao
sự ngờ vực đó cứ dằn vặt tôi. Đâu là nguyên nhân ? Một là tâm trí tôi bấn
loạn vì nó hoặc giả bức tranh kia quá đẹp để có thực ở trên đời ? Mang một
tâm trạng lạ lùng như vậy nên lời tán thưởng mới đây của quí khách chỉ
làm tôi dao động thêm thôi.
Thật tình lúc đó Yên Khách Ông chẳng có vẻ để ý gì lời biện bạch của
chủ nhân. Đang bị Thu Sơn Đồ hớp hồn, ngoài nó Ông không thấy gì
khác. Ông chỉ có cảm tưởng từ đầu chí cuối, chủ nhân toàn ăn nói lung
tung nhằm che dấu sự yếu kém về khả năng thưởng thức hội họa của mình.
Sau khi trò chuyện một đỗi, Yên Khách Ông cáo từ họ Trương và rời
ngôi nhà hầu như hoang phế ấy để lên đường.
Thế nhưng làm sao thì làm, từ khi bức Thu Sơn Đồ mở bừng con mắt
cho Ông thì nó không rời khỏi tâm trí Ông nữa. Thực sự nếu ta đặt mình
vào địa vị Yên Khách Ông, người truyền thừa họa phong của Đại Si, thì
chắc chắn sẽ sẵn sàng lìa bỏ mọi thứ miễn sao bức họa kia lọt vào tay mình
cho được. Ngoài lý do tình cảm đó, cá nhân ông còn là nhà sưu tập tranh.
Những bức danh họa gia bảo trong đó kể cả Sơn Âm Phiếm Tuyết Đồ của
Lý Doanh Khâu (13) mà ông đã phải trả bằng hai mươi dật hoàng kim, so
với Thu Sơn Đồ thì vẫn còn thua sút về mặt thần diệu. Vì thế, ở cương vị
một người chơi tranh sành sõi, ông càng thèm thuồng bức họa hi hữu của
đại sư Hoàng Nhất Phong.
Trong thời gian ở Nhuận Châu, bao lần Ông cho người đến thương
lượng với họ Trương để nài Thu Sơn Đồ nhưng Trương thị trước sau
không khứng. Theo lời kể của người nhà được Ông phái đi, chủ nhân có
khuôn mặt xanh xao kia đã nhắn lại : " Nếu quí khách có lòng yêu bức
tranh ngần ấy thì tôi xin cho ngài mượn nhưng xin thứ cho việc bắt tôi phải
xa lìa nó vĩnh viễn". Đối với người hiếu thắng như Yên Khách Ông, lời từ
chối đó như chạm mạnh đến tự ái. Được rồi, thèm gì mà mượn, một ngày
nào đó bức tranh sẽ vào tay ta cho xem. Ông định bụng như vậy rồi, cuối
cùng tạm xa Thu Sơn Đồ và rời khỏi Nhuận Châu.
Vừa vặn một năm sau, Yên Khách Ông đã trở lại chốn cũ. Tới nơi,
Ông liền đến ngay nhà họ Trương. Cảnh vẫn chẳng có gì thay đổi , giây
trường xuân bò lan tường dậu và cỏ dại mọc đầy sân, màu sắc cứ như xưa.
Tuy nhiên khi hỏi thăm người giúp việc, mới hay chủ nhân đi vắng. Không
gặp được chủ nhân nhưng Ông cũng xin phép ngắm lại Thu Sơn Đồ. Có
điều dầu khẩn khoản bao lần, mượn cớ chủ không có nhà, gia nhân quyết
ngăn Ông vào. Cuối cùng, họ còn sập cửa, không thèm cả ừ hử. Ông chỉ
còn cách tơ tưởng đến cái bức danh họa hiện đang được cất giấu một xó
nào trong căn nhà điêu tàn ấy, bồi hồi trở gót quay về.
Sau lần đó, lúc Ông có dịp gặp Nguyên Tể tiên sinh thì cụ lại báo cho
biết ở nhà họ Trương, ngoài Thu Sơn Đồ của Đại Si, còn có cả những kiệt
tác khác như Vũ Dạ Chỉ Túc Đồ và Tự Thọ Đồ của Thẩm Thạch Điền (14)
nữa.
- Lần trước định nhắn ông rồi lại quên khuấy. Hai bức tranh tôi vừa kể
ra phải nói là những kỳ quan của họa đàn cũng như Thu Sơn Đồ đấy ạ.
Thế nào cũng phải tìm xem cho được, ông nhé.
Yên Khách Ông tức tốc phái người nhà đến Nhuận Châu gặp họ
Trương. Ngoài tờ thư với thủ bút của Nguyên Tể tiên sinh, người nhà còn
được soạn sẵn cho cả một đãy bạc để dùng vào mua tranh. Thế nhưng họ
Trương vẫn khăng khăng không chịu nhượng lại tác phẩm của Hoàng Nhất
Phong. Ông đành bấm bụng bỏ rơi chuyện Thu Sơn Đồ.
*
Vương Thạch Cốc chợt ngừng bặt trong giây lát.
- Những điều tôi kể đế đến đoạn này là nghe từ chính miệng Yên
Khách Ông đấy, thưa cụ.
- Thế thì chỉ có mỗi mình Yên Khách tiên sinh được chiêm ngưỡng
Thu Sơn Đồ thôi phỏng ?
Uẩn Nam Điền vừa mân mê chòm râu, vừa hỏi lại Vương Thạch Cốc
cho chắc.
-Tiên sinh bảo với tôi người đã xem rồi. Còn việc tiên sinh có thực
thấy nó chưa thì chẳng ai dám quả quyết.
- Nhưng qua nội dung câu chuyện dường như ... ... ... ... ....
- Ậy, để tôi kể thêm cái đã. Nếu mà nghe cho đến cuối thì e rằng cụ sẽ
đưa ra kết luận khác tôi cũng không chừng.
Lần này, Vương Thạch Cốc, trà cũng chẳng nhấp, kể luôn một mạch.
*
Yên Khách Ông cho tôi nghe câu chuyện trên, tính ra từ hồi cụ được
xem Thu Sơn Đồ lần đầu tiên là gần năm mươi năm sau, trải qua biết
mấy tinh sương rồi. Lúc đó Nguyên Tể tiên sinh ra người thiên cổ từ lâu
mà cơ nghiệp họ Trương cũng đã truyền đến đời thứ ba. Cho nên bấy giờ
tôi chẳng những không biết ai là người giữ bức Thu Sơn Đồ mà còn ngay
ngáy nỗi bức danh họa kia đã ngọc nát vàng phai. Lúc Yên Khách Ông tả
cho tôi xong cái thần diệu của bức tranh mà cụ như đang cầm chắc trên
tay, bèn ngậm ngùi than : " Cái bức Hoàng Nhất Phong ấy giống như
đường kiếm của Công Tôn Đại Nương (15) anh ạ. Bút mực có đó mà
không thấy bút mực. Cái thần khí của bức tranh như ụp lên trái tim mình.
Như thể nhìn rồng bay trong mây, không sao phân biệt đâu là người đâu là
kiếm ".
Chừng một tháng sau lần gặp gỡ nói trên, gặp lúc gió xuân sắp nổi, tôi
định một mình thăm thú phương nam. Đem chuyện đó thưa với Ông, Ông
mới bàn :
-Thế thì còn gì bằng. Anh cũng nhân cơ hội nầy tìm gặp Thu Sơn thử
xem. Nếu bức danh họa xuất hiện với đời lần nữa thì đúng là một tin vui
cho làng họa đấy.
Dĩ nhiên tôi chỉ mong chừng đó, liền phiền Ông thảo hộ phong thư.
Thế nhưng trên bước đường du lịch, hết xem chỗ nầy đến chỗ nọ, không
tìm ra thời giờ đến nhà họ Trương xứ Nhuận Châu. Tôi để lá thư giới
thiệu của Ông trong tay áo, mãi khi cuốc gọi vào hè vẫn quên bẵng việc
viếng Thu Sơn.
Chợt lúc ấy có tin đồn một vị quí thích họ Vương mới là người hiện
giữ Thu Sơn Đồ lọt vào tai tôi. Nếu thế thì là trong khi du lịch, tôi có lần
đem thư Yên Khách Ông cho một người quen xem và họ cũng là chỗ đi lại
với một tân khách của Vương. Chắc Vương thị nghe tin từ đó mới biết
bức tranh đang nằm ở nhà họ Trương Nhuận Châu. Theo lời thiên hạ kể
thì nào là khi cháu Trương thị tiếp người của vị họ Vương kia phái tới đã
mang hết đỉnh vạc thư tịch tổ tiên truyền lại, kể cả Thu Sơn Đồ của Hoàng
Đại Si, mà hiến dâng ngay. Rồi nào là Vương thị quá đỗi mừng rỡ, mời
cháu nhà họ Trương ngồi ghế trên, hết sai ca kỹ trong nhà ra tấu nhạc thù
tiếp, yến ẩm linh đình, lại còn tặng nghìn vàng làm lễ thọ...Tôi mừng
muốn nhảy tưng tưng vì trải qua năm mươi năm dâu bể Thu Sơn Đồ vẫn
bình yên vô sự ! Hơn nữa, nó đang nằm trong tay Vương thị, người mà tôi
có chút quen biết. Ngày xưa Yên Khách Ông lao khổ là thế, lại không
được nhìn lấy bức họa được lần thứ hai, hẳn là bị quỉ thần ghét bỏ để cuối
cùng đành nuốt hận. Trong khi họ Vương kia cứ đủng đỉnh chẳng phải chờ
mà bức họa lộ ra ngay trước mặt như lâu đài tiên xây cho. Chỉ có thể ví
với cái may sung chín rụng nhằm mồm. Tôi vội thu nhanh vén gọn tìm
đến ngay phủ đệ nguy nga của họ Vương để hội kiến Thu Sơn.
Đến nay tôi vẫn nhớ rõ như in mấy cành mẫu đơn khoe sắc thắm giữa
một buổi xế trưa đầu hè lặng gió ngoài hàng lan can đẹp như ngọc của
viên đình nhà họ Vương. Mới nhìn Vương thị, chưa chào hỏi xong xuôi
mà tôi đã không nén được tiếng reo vui :
- Giờ đây Thu Sơn là báu vật của quí phủ rồi. Yên Khách tiên sinh
mất ăn mất ngủ bao nhiêu vì nó nhưng chắc lần nầy cụ ấy đã an tâm. Chỉ
nghĩ chừng đó thôi đã đủ sung sướng.
Mặt Vương thị lộ vẻ mãn nguyện.
- Hôm nay cả Yên Khách tiên sinh và Liêm Châu tiên sinh cũng ghé
chơi. Thế nhưng ta cứ theo thứ tự, ông đã đến xin mời ông vào xem trước
cho.
Vương thị mới sai người treo bức Thu Sơn Đồ ấy lên trên tường bên
cạnh. Vẫn thôn làng trong rừng lá đỏ nhìn xuống giòng nước, vẫn chòm
mây trắng che khuất thung lũng, cả những ngọn núi gần xa vút lên như
mấy tấm bình phong, những gì Đại Si lão nhân tô vẽ đã hiện ra lồ lộ trước
mắt tôi. Quả thật là một cõi tiểu thiên địa mà xem còn thần diệu hơn cả đại
tự nhiên. Lòng rộn ràng, mắt tôi đăm đăm ngắm bức họa trên tường. Cái
cảnh khói mây gò trũng này, phân vân gì nữa, Hoàng Nhất Phong đây rồi.
Ngoài Si Ông ra, hỏi có mấy ai thành công được khi vừa gia phép tuấn
điểm (16) mà vẫn làm dậy nét mực, tô màu đậm đến thế mà không dấu
ngọn bút. Tuy nhiên, vâng, tuy nhiên bức Thu Sơn Đồ này so với bức
tranh mà ngày xưa Yên Khách tiên sinh đã được xem ở nhà họ Trương là
một Hoàng Nhất Phong khác mất. Bức này nếu đem ra mà so sánh với
Thu Sơn Đồ mà ông đã tả cho nghe, hẳn còn thua một bậc.
Từ họ Vương cho đến đám thực khách đang ngồi vây chung quanh
đều nhìn vẻ mặt tôi như chờ đợi. Chính vì vậy tôi cảm thấy cần giữ ý
không để một chút thất vọng nào lộ ra cả. Cố gắng được có bấy nhiêu, rốt
cuộc vẫn không tài nào dấu nỗi vẻ không phục. Vương thị mới từ từ quay
lại phía tôi, lo lắng cất tiếng hỏi :
- Thấy thế nào hở ông ?
Tôi mới làm bộ trả lời:
- Thần phẩm ! Bức tranh nầy xưa có làm điêu đứng Yên Khách tiên
sinh thì cũng chẳng lấy làm lạ. Mặt Vương thị mới tươi lên được một
chút. Dù sao giữa khoảng đôi mày vẫn thấy có gì không được hài lòng về
lời tán thưởng của tôi.
Vừa lúc đó, Yên Khách tiên sinh, người từng đem cái cao diệu của
Thu Sơn Đồ ra thuyết tôi nghe, đến nơi. Trong lúc chào hỏi họ Vương, tôi
thấy Ông tủm tỉm cười ra dáng vui mừng.
- Năm mươi năm trước được xem Thu Sơn Đồ trong ngôi nhà đổ nát
của Trương thị, ngày nay lại diện kiến Thu Sơn giữa khung cảnh dinh thự
phú quí như thế này, thật là một mối nhân duyên kỳ lạ.
Vừa nói thế, Yên Khách Ông ngước nhìn bức họa trên tường. Thu
Sơn này có đúng là Thu Sơn ông nhìn thấy năm xưa hay không, chuyện
đó ngoài ông ra không ai có thể rõ hơn. Biết vậy, cả họ Vương lẫn tôi đều
đổ dồn con mắt theo dõõi nét mặt Ông lúc xem tranh. Quả nhiên, tôi bỗng
nhận ra ngay khuôn mặt Ông như vương vướng chút mây mờ.
Sau một hồi im lặng trầm tư, Vương thị càng thêm lo lắng, nhìn về
hướng Ông, giọng run run:
- Sao hở cụ? Mới đây Thạch Cốc tiên sinh vừa không tiếc lời khen.
Lúc đó, bụng tôi sợ hết vía, không khéo một người thẳng thắn như
Yên Khách Ông sẽ trả lời bộc trực quá chăng. Nhưng chắc Ông chẳng
đành lòng để Vương thị chuốc lấy thất vọng. Mắt nhìn Thu Sơn xong,
ông mới nghiêm trang trả lời họ Vương:
- Ngài thật may mắn mới thu nạp được bức tranh nầy. Từ đây, kho
tàng gia bảo của quí phủ sẽ thêm mười phần hương sắc.
Thế nhưng nghe được lời nầy, nét mặt của Vương thị chỉ đắm chìm
trong u ẩn.
Nếu lúc đó không có Liêm Châu tiên sinh vì trễ hẹn hộc tốc chạy vào
thì bầu không khí giữa chúng tôi sẽ còn nặng nề hơn. May quá, lời bình
phẩm của Yên Khách Ông vừa đến chỗ ngúc ngắc thì tiên sinh đã khoái
hoạt nhập đám:
- Ủa, Thu Sơn Đồ vẫn được truyền tụng là đây à?
Chào hỏi vội vàng xong, tiên sinh đến đứng trước mặt bức tranh của
Hoàng Nhất Phong. Im lặng hồi lâu, tiên sinh chỉ cắn râu không thốt ra
một tiếng.
- Yên Khách tiên sinh cho biết năm mươi năm về trước cụ đã được
xem tranh nầy một lần rồi.
Vương thị ra chiều lo lắng, giải thích thêm. Thật ra, Liêm Châu tiên
sinh chưa hề được Yên Khách Ông bình phẩm cho nghe cái thần diệu của
Thu Sơn Đồ.
- Thế nào ? Cụ giám định ra sao ?
Tiên sinh chỉ khẻ thở hắt ra, mắt vẫn không rời bức họa.
- Xin cụ chớ ngại ngùng, cứ bảo ban cho chúng tôi biết.
Vương thị gượng cười, dục tiên sinh thêm lần nữa.
- Bức nầy đấy à, bức nầy nó ... .....
Mồm Liêm Châu tiên sinh mím lại.
- Bức nầy nó ... ... ... ... ... ... ... ... ....?
- Nó là danh tác số một của Si Ông đấy. Ngài cứ xem chỗ mây khói
đậm nhạt kìa ! Không tràn trề sức sống là gì. Cách cho màu rừng cây phải
gọi là thiên tạo mới đúng ! Nhìn cái đỉnh núi xa xa kia thử đi ! Toàn thể bố
cục hài hoà với nó, không có gì sinh động hơn được.
Sau một hồi im lặng mới thấy Liêm Châu tiên sinh quay về hướng
Vương thị không ngớt lời ca tụng và giảng giải từng chút cái cao diệu của
bức họa. Tôi không thưa chắc cụ cũng đoán được là nghe đến đâu, mặt
mày Vương thị rạng rỡ ra đến đấy.
Trong khi đó tôi và Yên Khách Ông ngầm đưa mắt nhìn nhau.
- Thưa thầy, đây là Thu Sơn Đồ thật sao ?
Thấy tôi hạ giọng hỏi, Ông khẻ lắc đầu, vừa nháy mắt một cái thật khó
hiểu :
- Tóm lại mọi sự ở đời chỉ là thoáng chiêm bao. Xem sự thểxảy ra mới
nghĩ thầm biết đâu chủ nhân họ Trương kia lại chẳng là một thứ tiên chồn!
*
- Chuyện Thu Sơn Đồ chỉ có thế thôi, thưa cụ !
Vương Thạch Cốc kể xong, mới chiêu trọn một chung trà.
- Thế à, câu chuyện quái lạ đấy chứ nhỉ !
Từ nãy giờ, Uẩn Nam Điền vẫn lặng ngắm ngọn lửa trên giá đuốc
đồng.
-Về sau, dường như Vương thị cũng hết lòng thăm hỏi nhiều nơi
nhưng nếu nói đến Thu Sơn Đồ của Si Ông thì ngoài bức ấy, ngay nhà họ
Trương chắc cũng chẳng biết gì khác. Do đó, Thu Sơn Đồ mà Yên Khách
Ông có lần được xem, một là có ai dấu biệt đâu đâu, hai là không gì khác
hơn một điều lầm lẫn trong trí nhớ của cụ ta thôi. Sự thật thế nào, tôi
không dám quyết. Có khi việc cụ khăn gói đến nhà họ Trương để tìm xem
Thu Sơn Đồ cũng chỉ là một câu chuyện hoàn toàn huyễn hoặc ... ... ... ...
....
- Thế nhưng trong tâm trí Yên Khách Ông vẫn ghi khắc rành rành hình
ảnh bức Thu Sơn Đồ kỳ quái kia chứ hở cụ ? Và trong tâm trí của cụ cũng
thế phải không ?
- Màu lục đậm của đá núi và màu son đỏ của rừng phong cho đến bây
giờ vẫn rõ mồn một trong đầu tôi.
- Nếu thế thì cho dù Thu Sơn Đồ không có thực chăng nữa, cụ có điều
gì để tiếc hận đâu nào !
Đến đây, Uẩn, Vương hai bậc đại gia một lượt vỗ tay, cùng cười ha
hả.
(Tháng 12 năm Taishô thứ 9)
Akutagawa Ryunosuke
Người dịch : Nguyễn Nam Trân
Chú thích
(1) - Hoàng Đại Si tức Hoàng Công Vọng (1269-1354) hiệu Nhất
Phong, họa gia đời Nguyên, nổi tiếng về tranh sơn thủy. Một trong Tứ Đại
Gia khoảng Tống mạt Nguyên sơ.
(2) - Vương Thạch Cốc tức Vương Kỳ (1631-1717), họa gia đời
Thanh, thiện tranh sơn thủy, tập đại thành họa pháp hai phái Nam Bắc
Tống.
(3) - Uẩn Nam Điền hay Uẩn Thọ Bình (1633-1690) họa gia đời
Thanh, sau khi xem tranh sơn thủy của Vương Thạch Cốc thì bỏ sơn thủy
mà chuyển qua tranh hoa điểu và thành công trong lĩnh vực nầy.
(4) - Mai Đạo Nhân Ngô Trấn (1280-1354), họa gia đời Nguyên, có
công nâng cao kỹ thuật của tranh sơn thủy, mặc trúc, mặc hoa, là một trong
Tứ Đại Gia cũng như Hoàng Đại Si.
(5) - Hoàng Hạc Sơn Tiều Vương Mông ( ? ? 1385) họa gia đời
Nguyên, một trong bốn đại gia, nổi tiếng về hội họa ( sơn thủy) lẫn văn
chương.
(6) - Yên Khách Ông Vương Thì Mẫn(1592-1680), họa gia thời Minh
mạt Thanh sơ. Cuối đời, về ở ẩn và đào tạo đệ tử trong đó có Vương
Thạch Cốc.
(7) - Liêm Châu Vương Giám (1598-1677) cũng là họa gia cuối Minh
đầu Thanh. Đứng ngang hàng với Vương Thì Mẫn, giỏi tranh sơn thủy.
(8) - Nguyên Tể tiên sinh Đổng Kỳ Xương (1554-1636), hiệu Tư
Bạch, họa gia thời Minh mạt. Đầu đàn họa phái Nam Tông. Giỏi thi phú.
(9) - Mã Lương đời Tam Quốc có đôi mày trắng, tài tuấn nhất trong
năm anh em, tất cả đều là người giỏi (Thục Chí, Mã Lương Truyện).
(10) - Tây Viên Thư Phòng là thảo am của Yên Khách Ông Vương Thì
Mẫn, người còn có biệt hiệu là Tây Lư Lão Nhân.
(11) - Hoành điểm là phép vẽ núi, khe, sương, khói bằng cách chấm
chấm nhiều điểm theo hàng ngang bên nhau.
(12) - Cao Phòng Sơn tức Cao Khắc Cung (? - 1310) hoạ gia đời
Nguyên, hiệu là Tú Sơn, vẽ sơn thủy có tiếng.
(13) - Lý Doanh Khâu tức Lý Thành ( ?-967), họa gia Đường mạt
Tống sơ, đại sư về tranh sơn thủy.
(14) - Thẩm Thạch Điền tự Thẩm Chu (1426-1509), họa gia sơn thủy,
sống giửa đời Minh, ông tổ của Ngô phái.
(15) - Công Tôn Đại Nương là người diễn trò dưới đời Đường Huyền
Tông, múa kiếm cực giỏi. Đổ Phủ từng làm thơ ca ngợi (Quan Công Tôn
Đại Nương Đệ Tử Vũ Kiếm Khí Hành)
(16) - Tuấn điểm: thủ pháp chấm phá từ thời Bắc Tống để làm khói
mây, núi non đất đá trên mặt tranh nổi bật lên cả chiều dày, sinh động như
thực.
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách
Cái mũi
Nguyên tác
Shuzanzu
Tác giả
Akutagawa Ryunosuke
Cái mũi
Nói đến cái lỗ mũi của sư Thiền Trí cả xóm Đuôi Ao không ai là không
biết. Nó dài hơn một tấc rưỡi, nằm lòng thòng từ trên môi cho đến dưới
cằm, đầu đuôi đều to như nhau, chẳng khác gì một khúc xúc xích treo lủng
lẳng trên mặt.
Từ khi còn là sa-di để chỏm cho đến nay hơn 50 tuổi, đã thành cao tăng
được chọn vào cung vua giữ việc tu hành mà trong lòng sư lúc nào cũng
canh cánh một nỗi khổ tâm vì cái lỗ mũi của mình. Dĩ nhiên, ngoài mặt vẫn
cố làm ra vẻ như chẳng có gì lo nghĩ. Nhưng đó chẳng phải vì mình đã là vị
sư hết lòng tu hành cho kiếp sau nên lo cho cái lỗ mũi thì hóa ra không hay,
mà chính vì rất sợ người ta biết tâm trạng mình cứ lo lắng cho cái lỗ mũi.
Có hai nguyên do khiến sư luôn rầu rĩ về cái lỗ mũi. Thứ nhất là nó dài
quá, rất bất tiện. Ăn cơm chẳng ăn một mình được. Ăn một mình thì lỗ
mũi sẽ đụng cơm trong bát mất. Cho nên mỗi khi ăn, sư cho đệ tử ngồi kế
bên dùng miếng gỗ lớn, bề ngang cỡ 3 phân, dài cỡ 6 tấc để mà nâng cái lỗ
mũi lên giùm. Việc này thật ra chẳng phải đơn giản đối với sư lẫn đệ tử.
Mọi người ở Kyoto đều biết chuyện, có lần một người nâng lỗ mũi thay
cho đệ tử nhà sư bị hắt xì một cái làm rung tay, khiến cho lỗ mũi rớt luôn
vào bát cháo. Tuy nhiên, đó cũng không phải là lý do chính khiến cho nhà
sư khổ tâm vì cái lỗ mũi. Mà thật ra nhà sư đau khổ vì cái lỗ mũi đã làm tổn
thương lòng tự trọng của mình. Dân chúng xóm Đuôi Ao cho rằng với cái
lỗ mũi như thế, chắc hẳn nhà sư hạnh phúc vì mình không phải là người
thường. Bởi vì chẳng có cô gái nào chịu làm vợ người có lỗ mũi như vậy.
Thậm chí có người còn suy luận chắc vì có lỗ mũi như vậy nên sư mới
xuất gia. Tuy nhiên, nhà sư thì lại chẳng mảy may nghĩ rằng nhờ đi tu mà
giảm bớt được phần nào nỗi sầu muộn do cái lỗ mũi gây nên. Nhà sư tìm
đủ cách khôi phục lại lòng tự trọng bị tổn thương, tích cực lẫn tiêu cực.
Trước hết, nhà sư cố làm sao để cho lỗ mũi thấy ngắn hơn thực tế. Những
lúc chẳng có ai, sư nhìn vào kiếng, quay qua quay lại đủ kiểu để ngắm. Rồi
có lúc cảm thấy không yên tâm lắm nếu chỉ có thay đổi vị trí khuôn mặt,
nhà sư còn tìm nhiều cách khác như chống tay vào má, tỳ ngón tay vào
cằm,… để ngắm nghía. Thế nhưng chưa lần nào nhà sư thoả mãn là thấy lỗ
mũi mình ngắn hơn. Thậm chí vì phiền muộn quá, đôi khi ngược lại thấy
lỗ mũi lại dài hơn. Những lúc đó, nhà sư cất kiếng vào hộp, lặng lẽ thở dài
rồi miễn cưỡng trở lại bàn tụng kinh Quan Âm.
Từ đó, nhà sư luôn để ý đến lỗ mũi người khác. Ngôi chùa ở Đuôi Ao
thường xuyên có thuyết pháp. Trong chùa nhà ở san sát nhau, các vị sư
luôn nấu nước hàng ngày. Do đó đủ mọi hạng người ra vào chùa từ tăng
lẫn tục. Sư Thiền Trí kiên nhẫn quan sát khuôn mặt từng người, những
mong sẽ gặp được ai đó có cái lỗ mũi giống mình để tự an ủi phần nào.
Con mắt nhà sư chẳng thèm để tâm đến quần áo của mọi người, nhất là mũ
áo của sư sãi thì đã thường quá, chẳng lọt vào mắt. Tóm lại sư không nhìn
người mà chỉ nhìn lỗ mũi. Trong số người qua lại, cũng có người mũi quặp
như mũi két, thế nhưng tuyệt nhiên không ai có mũi giống như của mình.
Cứ thế, ngày qua ngày, sư lại càng buồn thêm. Chính nỗi buồn miên man
đó đã khiến cho lúc nói chuyện với người khác sư cứ vô tình rờ vào đầu lỗ
mũi mà đỏ mặt thẹn thùng thấy chẳng xứng với cái tuổi đã ngoại ngũ tuần.
Cuối cùng, sư cố tìm trong kinh điển và cả sách vở ngoài đời xem có ai có
lỗ mũi giống mình không để gọi là đỡ buồn đôi chút. Nhưng không thấy
kinh điển nào ghi Mục Kiền Liên hay Xá Lợi Phất có lỗ mũi dài cả. Long
Thọ, Mã Minh cũng là bồ tát có lỗ mũi bình thường. Khi nghe chuyện Lưu
Huyền Đức của nhà Thục Hán có lỗ tai dài, sư thầm nghĩ phải chi đó không
phải là lỗ tai mà là lỗ mũi thì đỡ khổ cho mình biết bao nhiêu.
Không cần phải nói cũng biết rằng ngoài các biện pháp tiêu cực như
vừa kể, sư còn tích cực tìm cách làm cho mũi ngắn đi. Về mặt này, sư cũng
đã làm hết cách. Từ nấu trái bình bát để uống cho đến lấy nước đái chuột
quẹt lên mũi. Nhưng dù làm cách nào đi nữa, cái lỗ mũi vẫn nằm dài lủng
lẳng trên mặt hơn một tấc rưỡi.
Thế rồi vào mùa thu năm nọ, có một đệ tử đi lên kinh đô làm công việc
cho nhà sư đã được một y sĩ quen biết chỉ cách làm cho lỗ mũi ngắn đi. Y
sĩ đó nguyên là người từ Trung Quốc đến tu ở chùa Trường Lạc. Tuy
nhiên, sư Thiền Trí cố tình không thử ngay phương pháp đó, giả bộ như
mọi khi là làm như chẳng quan tâm đến cái lỗ mũi của mình. Mặt khác, mỗi
khi ăn cơm, sư đều nhẹ nhàng nói rằng thật khổ tâm vì đã làm phiền đệ tử
quá. Đương nhiên trong lòng thì vẫn chờ đệ tử thuyết phục mình dùng thử
phương pháp đó. Phía đệ tử cũng chẳng phải không biết tâm trạng của sư.
Thế nhưng đệ tử không ghét mà còn thương tình khi thấy sư phải cố tình
làm như thế. Đệ tử bèn đem ba tấc lưỡi ra khuyên sư hãy thử phương pháp
vừa học được. Thế là cuối cùng sư đã nghe theo lời khuyên nhiệt tình của
đệ tử. Phương pháp này thật ra vô cùng đơn giản: dùng nước nóng trần lỗ
mũi rồi cho người đạp lên. Nước nóng thì đã có sẵn, hàng ngày vẫn được
đun trong bếp. Vị đệ tử bèn đi vào bếp lấy chậu nước nóng mang ra. Nước
nóng đến nổi không thể cho ngón tay vào được. Do đó, nếu cho lỗ mũi
thẳng vào trong nước này thì không khéo hơi nóng bốc lên sẽ làm phỏng
mặt. Vị đệ tử bèn lấy nắp đục lỗ đậy lên chậu rồi đút lỗ mũi sư vào chậu
qua cái lỗ đó. Chỉ cho lỗ mũi vào chậu nước nóng như thế thì sẽ chẳng thấy
nóng. Được một lúc vị đệ tử lên tiếng:
-Chắc là đã trần xong rồi?
Sư cười đau khổ nghĩ rằng nếu ai có nghe hỏi như thế thì cũng chẳng
làm sao biết được đó là câu chuyện cái lỗ mũi. Lỗ mũi hấp trong nước
nóng cảm giác rất nhột nhạt giống như bị rận cắn. Sư nhấc lỗ mũi còn ngút
khói ra khỏi chậu nước nóng để lên sàn cho đệ tử co hai chân đạp lên. Sư
nằm nhìn cặp chân đệ tử co lên đạp xuống ngay trước mắt mình. Vị đệ tử
nhìn xuống cái đầu hói của nhà sư, thỉnh thoảng thoáng vẻ tội nghiệp hỏi:
-Thầy có đau lắm không? Y sĩ bảo là đạp cho mạnh. Chắc là đau lắm
phải không? Sư định lắc đầu ra dấu không đau. Thế nhưng lỗ mũi bị đạp
nên cái cổ chẳng nhút nhích được. Sư bèn nhướng mắt lên nhìn cái chân
nứt nẻ của đệ tử vừa trả lời như giận dữ:
-Chẳng có đau.
Thật ra lỗ mũi ngứa mà được đạp như thế thì thay vì đau, nó lại có cảm
giác dễ chịu hơn. Đạp một lúc thì xung quanh lỗ mũi xuất hiện những đốm
như hạt kê, trông giống như con chim bị vặt lông mà quay. Thấy thế, đệ tử
thôi đạp, lẩm bẩm như thầm nói với mình:
-Y sĩ biểu dùng cây nhíp để vặt bỏ.
Sư bèn phùng má lên như có vẻ không bằng lòng, để mặc cho đệ tử
muốn làm gì thì làm. Không phải là không biết đệ tử tử tế với mình nhưng
sư không vui khi thấy lỗ mũi mình bị xem như một thứ đồ vật. Gương mặt
sư giống như bịnh nhân không tin tưởng bác sĩ mà phải chịu giải phẫu, bất
đắc dĩ ngắm nhìn đệ tử dùng chiếc nhíp vặt lấy các mụt mỡ ở lỗ chân lông
trên mũi. Mụt mỡ vặt ra dài hơn một phân, giống như cộng lông chim.
Một lúc xong, đệ tử nói như thở phào nhẹ nhõm:
-Trần thêm một lần nữa mới được.
Gương mặt sư vẫn lộ vẻ bất mãn, mặc cho đệ tử muốn làm gì thì làm.
Trần xong lần nữa lấy ra thì thấy lỗ mũi đã ngắn lại hơn mọi khi. Thế này
thì chẳng khác gì lỗ mũi quặp vẫn thấy. Sư Thiền Trí vừa vuốt mũi vừa đưa
mắt bẽn lẽn nhìn vào kính do đệ tử mang tới với vẻ ngượng ngùng. Lỗ mũi,
cái lỗ mũi dài tận dưới cằm trước kia giờ đây đã rút ngắn lại như chuyện
không tưởng, chỉ còn hơi cao hơn môi trên một chút. Những đốm đỏ rải
rác trên mũi có lẽ là dấu vết do bị đạp mà ra. Thế này thì chắc chắn không
còn ai cười nữa. Gương mặt trong kính của sư nhìn gương mặt bên ngoài
kính mà nháy mắt cười như mãn nguyện. Tuy nhiên, đó mới là hôm đầu
tiên thôi, sư vẫn còn lo âu không biết lỗ mũi có dài ra lại không. Cho nên
dù tụng kinh hay ăn uống, mỗi khi có chút rảnh rổi là sư đưa tay lên rờ lỗ
mũi thăm chừng. Nhưng lỗ mũi vẫn ngoan ngoãn nằm phía trên môi, hoàn
toàn không có vẻ gì dài ra. Từ đó, mỗi lần ngủ dậy, điều đầu tiên là sư đưa
tay lên rờ lỗ mũi. Nó vẫn ngắn. Thế là lòng sư thanh thản như đã t...
Tên sách
Tập truyện ngắn của Akutagawa Ryunosuke
Tác giả
Akutagawa Ryunosuke
Nhà Xuất Bản
NXB TP HCM
Ebook
Tổng hợp Shiba 2021 kindlekobovn
★
— —
MỤC LỤC | TABLE OF CONTENTS
Hội yêu đọc sách Kindle Việt Nam
Bức Họa Núi Thu
Cái mũi
Cháo Khoai
Chiếc Mùi soa
Chiếc xe goòng
Cổng Rashomon
Địa ngục trước mắt
Hà Đồng
Lòng đã trót yêu
Mộng Mị ( Yume )
Mùa thu
Niềm tin
Nước Giòng Sông Cái
Tiệc khiêu vũ
Tay đạo chích hào hiệp
Trinh tiết
Tu tiên
Akutagawa dựa vào đâu để viết Sợi Tơ Nhện
Bốn bề bờ bụi
Ảo thuật
Ảo Ảnh Cuộc Đời
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách
Bức Họa Núi Thu
Nguyên tác
Shuzanzu
Tác giả
Akutagawa Ryunosuke
Bức Họa Núi Thu
Một tối mùa thu, Vương Thạch Cốc (2) đến thăm Âu Hương Các và
khi đang nhấp mấy ngụm trà với chủ nhân Uẩn Nam Điền (3) , câu chuyện
đưa đẩy thế nào mà tự dưng khách đi vào câu hỏi đó.
- Thưa không, tôi chưa được xem ạ. Thế cụ đã có dịp thưởng thức
tranh ấy chưa ?
Đại Si Lão Nhân Hoàng Công Vọng tề danh với Mai Đạo Nhân (4) và
Hoàng Hạc Sơn Tiều (5) , đời coi là ba thánh thủ hội họa dưới triều
Nguyên. Uẩn Nam Điền vừa nói thế mà có cảm tưởng những bức danh họa
của Đại Si mình có dịp chiêm ngưỡng ngày xưa, nào Sa Tích Đồ, nào Phú
Xuân Quyển như phảng phất hiện về trong ký ức.
- Ấy, biết thưa thế nào đây, bảo là xem rồi thì vẫn đúng mà bảo chưa
xem cũng chẳng sai. Chuyện nói ra thật khó tin, bẩm cụ ...
- Cái gì mà xem rồi lại như chưa xem, thế nhỉ ...?
Uẩn Nam Điền lộ vẻ thắc mắc, nhìn Vương Thạch Cốc như dò hỏi.
- Hay tranh cụ xem là bức họa mô phỏng thôi chứ gì ?
- Thưa không, chẳng phải phỏng họa nào cả. Rõ ràng tôi được xem bản
chính đấy. Nào phải một mình tôi đâu., Cả Yên Khách tiên sinh (6)(Vương
Thì Mẫn) lẫn Liêm Châu tiên sinh (7)
(Vương Giám) đếu có chút duyên
may với bức Thu Sơn Đồ nầy cả đấy, cụ ạ !
Vương Thạch Cốc mới nhấp thêm ngụm trà, ra vẻ nghĩ ngợi lung lắm,
rồi mới mỉm cười.
- Nếu không nhàm tai cụ thì tôi xin được phép kể lại đầu đuôi câu
chuyện.
- Vâng, cụ tự nhiên cho.
Uẩn Nam Điền khêu lại ngọn lửa trên giá đuốc đồng, vừa ân cần thôi
thúc khách.
*
Chuyện xảy ra hồi Nguyên Tể tiên sinh (8) (Đổng Kỳ Xương) còn sinh
tiền cơ. Mùa thu năm ấy, có hôm đang cùng Yên Khách Ông luận về hội
họa, bất chợt tiên sinh hỏi Ông đã được xem Thu Sơn Đồ của Hoàng Nhất
Phong chưa. Như cụ thừa biết, trong ngành họa, Ông là môn hạ họa phái
Đại Si, nên có thể bảo đã là tác phẩm của Đại Si lưu lại trên cõi đời nầy,
Ông đều xem không sót. Thế mà mỗi một bức gọi là Thu Sơn Đồ, rốt cục
ông chưa hề được xem.
- Không ạ, tên còn chưa nghe tới, nói chi đến xem !
Yên Khách Ông vừa trả lời như thế vừa không khỏi thẹn thùa.
-Thế thì khi nào có dịp, xin ông xem một lần cho biết. So với Hạ Sơn
Đồ và Phù Băng Đồ, tranh ấy còn nổi hơn một bậc. Có lẽ trong số họa
phẩm của Hoàng Đại Si lão nhân, Thu Sơn Đồ chính là bạch mi ( 9 ) đấy ạ
!
- Kiệt tác như thế hở cụ. Tôi phải tìm xem mới được. Thế cụ có biết
hiện nay ai là chủ bức tranh ấy không?
- Nó nằm ở nhà họ Trương xứ Nhuận Châu. Trên đường vãng cảnh
Kim Các Tự chẳng hạn, ông nhớ tạt qua gõ cửa hỏi thăm chủ nhân xem.
Tôi sẽ xin vì ông mà thảo một phong thư giới thiệu.
Yên Khách Ông lãnh thư của tiên sinh, tức thời lên đường đi Nhuận
Châu. Nghĩ thầm nếu nhà họ Trương là nơi sở tàng một bức danh họa như
vậy thì đến đó, ngoài tranh Hoàng Nhất Phong chắc còn có cơ chiêm
ngưỡng được những bức họa tuyệt vời khác, nên Yên Khách Ông bồn
chồn bứt rứt không thể nào nán lại thư phòng Tây Viên (10) thêm một khắc
nào nữa.
Thế nhưng khi tới Nhuận Châu, Ông mới vỡ lẽ. Ngôi nhà họ Trương
mà ông thèm thuồng đến viếng kia, cơ ngơi đồ sộ thì có đấy nhưng sao
hoang phế tiêu điều quá. Giây trường xuân leo đầy tường dậu, cỏ dại um
tùm trên sân, một đàn gà vịt nhớn nhác nhìn khách lạ. Cảnh tượng như thế
làm cho một người trung hậu như Ông cũng bất giác nghi ngờ lời nói của
Nguyên Tể tiên sinh vì không nghĩ ra cớ gì mà tranh Đại Si lạc loài đến
chốn hoang vu thế nầy. Nhưng đã cất công đến lại chưa chìa danh thiếp mà
đã bỏ về thì sao gọi là sở nguyện bình sinh. Vừa vặn lúc ấy người canh cửa
bước ra, Ông đành phải trình bày việc làm khách viễn phương ghé xem
tranh Hoàng Nhất Phong, rồi trao phong thư giới thiệu của Tư Bạch Tiên
Sinh.
Chỉ trông chốc lát, Yên Khách Ông đã được mời lên đại sảnh. Ở đây
cũng vậy, tuy có đặt bộ trường kỷ bạch đàn nom rất trang nhã nhưng
thoang thoảng mốc meo, như thể mùi hoang phế bốc lên cả từ nền gạch.
May thay, khi chủ nhân bước ra thì dầu nhìn mặt thấy như người mang
bệnh nhưng tướng mạo nom ra cũng hiền lành. Không những thế, khuôn
mặt xanh xao và bàn tay thanh tú kia cho ta cảm tưởng người ấy có cái
phong thái con nhà dòng dõi. Sau khi hai bên phân chia ngôi thứ theo đúng
lễ sơ kiến, Ông bèn thưa với chủ nhân xin được chiêm bái tác phẩm cao
diệu của Hoàng Nhất Phong. Nghe giọng khẩn khoản mới thấy Ông có vẻ
đang bị ám ảnh bởi nỗi lo sợ nếu không tìm xem cho được bức họa bây
giờ, e nó sẽ biến thành sương thành khói mất.
Chủ nhân vui vẻ nhận lời và cho treo ngay lên tường của sảnh đường
một bức họa :
- Xin thưa đây là Thu Sơn Đồ mà quí khách hằng ao ước.
Yên Khách Ông mới nhìn bức tranh trên tường một lượt thôi đã bất
giác thốt ra tiếng kêu kinh ngạc.
Nền họa tuyền một màu xanh lục.Chỗ dòng khe uốn mình như rắn
lượn, lác đác xóm làng và mấy nhịp tiểu kiều. Bên sườn ngọn núi vút lên
cao nhất, chòm mây thu nhàn nhã được điểm đậm nhạt bằng mấy lớp phấn
trắng. Núi xếp giăng hàng theo phép hoành điểm (11) của Cao Phòng
Sơn (12) , tươi tắn sau cơn mưa như một nét mày xanh, lại ánh lên nét đẹp
của màu son rắc đó đây trên những khóm cây lá đỏ. Không biết dùng lời
nào để diễn tả cho hết ý, và còn lo đòi hỏi đó vượt cả khả năng của ngôn
ngữ nữa. Chỉ thấy bức họa vừa diễm lệ, vừa hùng tráng, bút mực lại rất đổi
nồng đượm. Có thể nói màu sắc rực rỡ như thế mà vẫn toát ra một cái gì xa
xưa, hư không lãng đãng.
Yên Khách Ông để thần hồn bay bổng, mắt mải mê không rời bức họa.
Càng nhìn càng ngắm, Ông khám phá hết chỗ ảo diệu nầy đến chỗ ảo diệu
khác.
- Thế nào, quí khách có hài lòng không ạ ?
Chủ nhân miệng hơi mỉm cười, nghiêng nhìn ông dò hỏi.
- Quả là thần phẩm ! Lời tán tụng của Nguyên Tể tiên sinh chẳng
những không quá đáng tị nào mà còn như là chưa đủ đấy ạ. Đem những
danh họa tôi xem được cho đến nay mà so với bức tranh nầy thì chúng đều
ở thế hạ phong cả.
Miệng thì nói nhưng mắt Yên Khách Ông vẫn không rời khỏi bức họa.
- Thế cơ, bức tranh nầy là kiệt tác đến mức đó sao, thưa quí khách ?
Yên Khách Ông lúc đó mới đảo mắt nhìn chủ nhân, ra dáng ngạc nhiên
:
- Tại sao bây giờ ngài lại tỏ ra mất tin tưởng như thế.
- Không ạ, tôi nào có mất tin tưởng gì đâu. Chẳng qua là........
Lúc đó, chủ nhân bỗng đâm ra bẽn lẽn như cậu thư sinh, mặt đỏ lên vì
lúng túng. Mãi sau mới nở một nụ cười buồn bã, tần ngần nhìn bức họa và
tiếp lời :
- Thực tình, mỗi lần nhìn bức họa nầy, dù mắt đang mở trao tráo, tôi
vẫn thấy mình như đang ở trong cõi mộng.Thu Sơn đẹp đến thế nầy ư ? Vẻ
đẹp ấy chỉ có mình tôi cảm nhận được thôi sao ? Ngoài tôi ra, dưới mắt
người khác nó chỉ là một bức họa tầm thường chăng ? Không hiểu tại sao
sự ngờ vực đó cứ dằn vặt tôi. Đâu là nguyên nhân ? Một là tâm trí tôi bấn
loạn vì nó hoặc giả bức tranh kia quá đẹp để có thực ở trên đời ? Mang một
tâm trạng lạ lùng như vậy nên lời tán thưởng mới đây của quí khách chỉ
làm tôi dao động thêm thôi.
Thật tình lúc đó Yên Khách Ông chẳng có vẻ để ý gì lời biện bạch của
chủ nhân. Đang bị Thu Sơn Đồ hớp hồn, ngoài nó Ông không thấy gì
khác. Ông chỉ có cảm tưởng từ đầu chí cuối, chủ nhân toàn ăn nói lung
tung nhằm che dấu sự yếu kém về khả năng thưởng thức hội họa của mình.
Sau khi trò chuyện một đỗi, Yên Khách Ông cáo từ họ Trương và rời
ngôi nhà hầu như hoang phế ấy để lên đường.
Thế nhưng làm sao thì làm, từ khi bức Thu Sơn Đồ mở bừng con mắt
cho Ông thì nó không rời khỏi tâm trí Ông nữa. Thực sự nếu ta đặt mình
vào địa vị Yên Khách Ông, người truyền thừa họa phong của Đại Si, thì
chắc chắn sẽ sẵn sàng lìa bỏ mọi thứ miễn sao bức họa kia lọt vào tay mình
cho được. Ngoài lý do tình cảm đó, cá nhân ông còn là nhà sưu tập tranh.
Những bức danh họa gia bảo trong đó kể cả Sơn Âm Phiếm Tuyết Đồ của
Lý Doanh Khâu (13) mà ông đã phải trả bằng hai mươi dật hoàng kim, so
với Thu Sơn Đồ thì vẫn còn thua sút về mặt thần diệu. Vì thế, ở cương vị
một người chơi tranh sành sõi, ông càng thèm thuồng bức họa hi hữu của
đại sư Hoàng Nhất Phong.
Trong thời gian ở Nhuận Châu, bao lần Ông cho người đến thương
lượng với họ Trương để nài Thu Sơn Đồ nhưng Trương thị trước sau
không khứng. Theo lời kể của người nhà được Ông phái đi, chủ nhân có
khuôn mặt xanh xao kia đã nhắn lại : " Nếu quí khách có lòng yêu bức
tranh ngần ấy thì tôi xin cho ngài mượn nhưng xin thứ cho việc bắt tôi phải
xa lìa nó vĩnh viễn". Đối với người hiếu thắng như Yên Khách Ông, lời từ
chối đó như chạm mạnh đến tự ái. Được rồi, thèm gì mà mượn, một ngày
nào đó bức tranh sẽ vào tay ta cho xem. Ông định bụng như vậy rồi, cuối
cùng tạm xa Thu Sơn Đồ và rời khỏi Nhuận Châu.
Vừa vặn một năm sau, Yên Khách Ông đã trở lại chốn cũ. Tới nơi,
Ông liền đến ngay nhà họ Trương. Cảnh vẫn chẳng có gì thay đổi , giây
trường xuân bò lan tường dậu và cỏ dại mọc đầy sân, màu sắc cứ như xưa.
Tuy nhiên khi hỏi thăm người giúp việc, mới hay chủ nhân đi vắng. Không
gặp được chủ nhân nhưng Ông cũng xin phép ngắm lại Thu Sơn Đồ. Có
điều dầu khẩn khoản bao lần, mượn cớ chủ không có nhà, gia nhân quyết
ngăn Ông vào. Cuối cùng, họ còn sập cửa, không thèm cả ừ hử. Ông chỉ
còn cách tơ tưởng đến cái bức danh họa hiện đang được cất giấu một xó
nào trong căn nhà điêu tàn ấy, bồi hồi trở gót quay về.
Sau lần đó, lúc Ông có dịp gặp Nguyên Tể tiên sinh thì cụ lại báo cho
biết ở nhà họ Trương, ngoài Thu Sơn Đồ của Đại Si, còn có cả những kiệt
tác khác như Vũ Dạ Chỉ Túc Đồ và Tự Thọ Đồ của Thẩm Thạch Điền (14)
nữa.
- Lần trước định nhắn ông rồi lại quên khuấy. Hai bức tranh tôi vừa kể
ra phải nói là những kỳ quan của họa đàn cũng như Thu Sơn Đồ đấy ạ.
Thế nào cũng phải tìm xem cho được, ông nhé.
Yên Khách Ông tức tốc phái người nhà đến Nhuận Châu gặp họ
Trương. Ngoài tờ thư với thủ bút của Nguyên Tể tiên sinh, người nhà còn
được soạn sẵn cho cả một đãy bạc để dùng vào mua tranh. Thế nhưng họ
Trương vẫn khăng khăng không chịu nhượng lại tác phẩm của Hoàng Nhất
Phong. Ông đành bấm bụng bỏ rơi chuyện Thu Sơn Đồ.
*
Vương Thạch Cốc chợt ngừng bặt trong giây lát.
- Những điều tôi kể đế đến đoạn này là nghe từ chính miệng Yên
Khách Ông đấy, thưa cụ.
- Thế thì chỉ có mỗi mình Yên Khách tiên sinh được chiêm ngưỡng
Thu Sơn Đồ thôi phỏng ?
Uẩn Nam Điền vừa mân mê chòm râu, vừa hỏi lại Vương Thạch Cốc
cho chắc.
-Tiên sinh bảo với tôi người đã xem rồi. Còn việc tiên sinh có thực
thấy nó chưa thì chẳng ai dám quả quyết.
- Nhưng qua nội dung câu chuyện dường như ... ... ... ... ....
- Ậy, để tôi kể thêm cái đã. Nếu mà nghe cho đến cuối thì e rằng cụ sẽ
đưa ra kết luận khác tôi cũng không chừng.
Lần này, Vương Thạch Cốc, trà cũng chẳng nhấp, kể luôn một mạch.
*
Yên Khách Ông cho tôi nghe câu chuyện trên, tính ra từ hồi cụ được
xem Thu Sơn Đồ lần đầu tiên là gần năm mươi năm sau, trải qua biết
mấy tinh sương rồi. Lúc đó Nguyên Tể tiên sinh ra người thiên cổ từ lâu
mà cơ nghiệp họ Trương cũng đã truyền đến đời thứ ba. Cho nên bấy giờ
tôi chẳng những không biết ai là người giữ bức Thu Sơn Đồ mà còn ngay
ngáy nỗi bức danh họa kia đã ngọc nát vàng phai. Lúc Yên Khách Ông tả
cho tôi xong cái thần diệu của bức tranh mà cụ như đang cầm chắc trên
tay, bèn ngậm ngùi than : " Cái bức Hoàng Nhất Phong ấy giống như
đường kiếm của Công Tôn Đại Nương (15) anh ạ. Bút mực có đó mà
không thấy bút mực. Cái thần khí của bức tranh như ụp lên trái tim mình.
Như thể nhìn rồng bay trong mây, không sao phân biệt đâu là người đâu là
kiếm ".
Chừng một tháng sau lần gặp gỡ nói trên, gặp lúc gió xuân sắp nổi, tôi
định một mình thăm thú phương nam. Đem chuyện đó thưa với Ông, Ông
mới bàn :
-Thế thì còn gì bằng. Anh cũng nhân cơ hội nầy tìm gặp Thu Sơn thử
xem. Nếu bức danh họa xuất hiện với đời lần nữa thì đúng là một tin vui
cho làng họa đấy.
Dĩ nhiên tôi chỉ mong chừng đó, liền phiền Ông thảo hộ phong thư.
Thế nhưng trên bước đường du lịch, hết xem chỗ nầy đến chỗ nọ, không
tìm ra thời giờ đến nhà họ Trương xứ Nhuận Châu. Tôi để lá thư giới
thiệu của Ông trong tay áo, mãi khi cuốc gọi vào hè vẫn quên bẵng việc
viếng Thu Sơn.
Chợt lúc ấy có tin đồn một vị quí thích họ Vương mới là người hiện
giữ Thu Sơn Đồ lọt vào tai tôi. Nếu thế thì là trong khi du lịch, tôi có lần
đem thư Yên Khách Ông cho một người quen xem và họ cũng là chỗ đi lại
với một tân khách của Vương. Chắc Vương thị nghe tin từ đó mới biết
bức tranh đang nằm ở nhà họ Trương Nhuận Châu. Theo lời thiên hạ kể
thì nào là khi cháu Trương thị tiếp người của vị họ Vương kia phái tới đã
mang hết đỉnh vạc thư tịch tổ tiên truyền lại, kể cả Thu Sơn Đồ của Hoàng
Đại Si, mà hiến dâng ngay. Rồi nào là Vương thị quá đỗi mừng rỡ, mời
cháu nhà họ Trương ngồi ghế trên, hết sai ca kỹ trong nhà ra tấu nhạc thù
tiếp, yến ẩm linh đình, lại còn tặng nghìn vàng làm lễ thọ...Tôi mừng
muốn nhảy tưng tưng vì trải qua năm mươi năm dâu bể Thu Sơn Đồ vẫn
bình yên vô sự ! Hơn nữa, nó đang nằm trong tay Vương thị, người mà tôi
có chút quen biết. Ngày xưa Yên Khách Ông lao khổ là thế, lại không
được nhìn lấy bức họa được lần thứ hai, hẳn là bị quỉ thần ghét bỏ để cuối
cùng đành nuốt hận. Trong khi họ Vương kia cứ đủng đỉnh chẳng phải chờ
mà bức họa lộ ra ngay trước mặt như lâu đài tiên xây cho. Chỉ có thể ví
với cái may sung chín rụng nhằm mồm. Tôi vội thu nhanh vén gọn tìm
đến ngay phủ đệ nguy nga của họ Vương để hội kiến Thu Sơn.
Đến nay tôi vẫn nhớ rõ như in mấy cành mẫu đơn khoe sắc thắm giữa
một buổi xế trưa đầu hè lặng gió ngoài hàng lan can đẹp như ngọc của
viên đình nhà họ Vương. Mới nhìn Vương thị, chưa chào hỏi xong xuôi
mà tôi đã không nén được tiếng reo vui :
- Giờ đây Thu Sơn là báu vật của quí phủ rồi. Yên Khách tiên sinh
mất ăn mất ngủ bao nhiêu vì nó nhưng chắc lần nầy cụ ấy đã an tâm. Chỉ
nghĩ chừng đó thôi đã đủ sung sướng.
Mặt Vương thị lộ vẻ mãn nguyện.
- Hôm nay cả Yên Khách tiên sinh và Liêm Châu tiên sinh cũng ghé
chơi. Thế nhưng ta cứ theo thứ tự, ông đã đến xin mời ông vào xem trước
cho.
Vương thị mới sai người treo bức Thu Sơn Đồ ấy lên trên tường bên
cạnh. Vẫn thôn làng trong rừng lá đỏ nhìn xuống giòng nước, vẫn chòm
mây trắng che khuất thung lũng, cả những ngọn núi gần xa vút lên như
mấy tấm bình phong, những gì Đại Si lão nhân tô vẽ đã hiện ra lồ lộ trước
mắt tôi. Quả thật là một cõi tiểu thiên địa mà xem còn thần diệu hơn cả đại
tự nhiên. Lòng rộn ràng, mắt tôi đăm đăm ngắm bức họa trên tường. Cái
cảnh khói mây gò trũng này, phân vân gì nữa, Hoàng Nhất Phong đây rồi.
Ngoài Si Ông ra, hỏi có mấy ai thành công được khi vừa gia phép tuấn
điểm (16) mà vẫn làm dậy nét mực, tô màu đậm đến thế mà không dấu
ngọn bút. Tuy nhiên, vâng, tuy nhiên bức Thu Sơn Đồ này so với bức
tranh mà ngày xưa Yên Khách tiên sinh đã được xem ở nhà họ Trương là
một Hoàng Nhất Phong khác mất. Bức này nếu đem ra mà so sánh với
Thu Sơn Đồ mà ông đã tả cho nghe, hẳn còn thua một bậc.
Từ họ Vương cho đến đám thực khách đang ngồi vây chung quanh
đều nhìn vẻ mặt tôi như chờ đợi. Chính vì vậy tôi cảm thấy cần giữ ý
không để một chút thất vọng nào lộ ra cả. Cố gắng được có bấy nhiêu, rốt
cuộc vẫn không tài nào dấu nỗi vẻ không phục. Vương thị mới từ từ quay
lại phía tôi, lo lắng cất tiếng hỏi :
- Thấy thế nào hở ông ?
Tôi mới làm bộ trả lời:
- Thần phẩm ! Bức tranh nầy xưa có làm điêu đứng Yên Khách tiên
sinh thì cũng chẳng lấy làm lạ. Mặt Vương thị mới tươi lên được một
chút. Dù sao giữa khoảng đôi mày vẫn thấy có gì không được hài lòng về
lời tán thưởng của tôi.
Vừa lúc đó, Yên Khách tiên sinh, người từng đem cái cao diệu của
Thu Sơn Đồ ra thuyết tôi nghe, đến nơi. Trong lúc chào hỏi họ Vương, tôi
thấy Ông tủm tỉm cười ra dáng vui mừng.
- Năm mươi năm trước được xem Thu Sơn Đồ trong ngôi nhà đổ nát
của Trương thị, ngày nay lại diện kiến Thu Sơn giữa khung cảnh dinh thự
phú quí như thế này, thật là một mối nhân duyên kỳ lạ.
Vừa nói thế, Yên Khách Ông ngước nhìn bức họa trên tường. Thu
Sơn này có đúng là Thu Sơn ông nhìn thấy năm xưa hay không, chuyện
đó ngoài ông ra không ai có thể rõ hơn. Biết vậy, cả họ Vương lẫn tôi đều
đổ dồn con mắt theo dõõi nét mặt Ông lúc xem tranh. Quả nhiên, tôi bỗng
nhận ra ngay khuôn mặt Ông như vương vướng chút mây mờ.
Sau một hồi im lặng trầm tư, Vương thị càng thêm lo lắng, nhìn về
hướng Ông, giọng run run:
- Sao hở cụ? Mới đây Thạch Cốc tiên sinh vừa không tiếc lời khen.
Lúc đó, bụng tôi sợ hết vía, không khéo một người thẳng thắn như
Yên Khách Ông sẽ trả lời bộc trực quá chăng. Nhưng chắc Ông chẳng
đành lòng để Vương thị chuốc lấy thất vọng. Mắt nhìn Thu Sơn xong,
ông mới nghiêm trang trả lời họ Vương:
- Ngài thật may mắn mới thu nạp được bức tranh nầy. Từ đây, kho
tàng gia bảo của quí phủ sẽ thêm mười phần hương sắc.
Thế nhưng nghe được lời nầy, nét mặt của Vương thị chỉ đắm chìm
trong u ẩn.
Nếu lúc đó không có Liêm Châu tiên sinh vì trễ hẹn hộc tốc chạy vào
thì bầu không khí giữa chúng tôi sẽ còn nặng nề hơn. May quá, lời bình
phẩm của Yên Khách Ông vừa đến chỗ ngúc ngắc thì tiên sinh đã khoái
hoạt nhập đám:
- Ủa, Thu Sơn Đồ vẫn được truyền tụng là đây à?
Chào hỏi vội vàng xong, tiên sinh đến đứng trước mặt bức tranh của
Hoàng Nhất Phong. Im lặng hồi lâu, tiên sinh chỉ cắn râu không thốt ra
một tiếng.
- Yên Khách tiên sinh cho biết năm mươi năm về trước cụ đã được
xem tranh nầy một lần rồi.
Vương thị ra chiều lo lắng, giải thích thêm. Thật ra, Liêm Châu tiên
sinh chưa hề được Yên Khách Ông bình phẩm cho nghe cái thần diệu của
Thu Sơn Đồ.
- Thế nào ? Cụ giám định ra sao ?
Tiên sinh chỉ khẻ thở hắt ra, mắt vẫn không rời bức họa.
- Xin cụ chớ ngại ngùng, cứ bảo ban cho chúng tôi biết.
Vương thị gượng cười, dục tiên sinh thêm lần nữa.
- Bức nầy đấy à, bức nầy nó ... .....
Mồm Liêm Châu tiên sinh mím lại.
- Bức nầy nó ... ... ... ... ... ... ... ... ....?
- Nó là danh tác số một của Si Ông đấy. Ngài cứ xem chỗ mây khói
đậm nhạt kìa ! Không tràn trề sức sống là gì. Cách cho màu rừng cây phải
gọi là thiên tạo mới đúng ! Nhìn cái đỉnh núi xa xa kia thử đi ! Toàn thể bố
cục hài hoà với nó, không có gì sinh động hơn được.
Sau một hồi im lặng mới thấy Liêm Châu tiên sinh quay về hướng
Vương thị không ngớt lời ca tụng và giảng giải từng chút cái cao diệu của
bức họa. Tôi không thưa chắc cụ cũng đoán được là nghe đến đâu, mặt
mày Vương thị rạng rỡ ra đến đấy.
Trong khi đó tôi và Yên Khách Ông ngầm đưa mắt nhìn nhau.
- Thưa thầy, đây là Thu Sơn Đồ thật sao ?
Thấy tôi hạ giọng hỏi, Ông khẻ lắc đầu, vừa nháy mắt một cái thật khó
hiểu :
- Tóm lại mọi sự ở đời chỉ là thoáng chiêm bao. Xem sự thểxảy ra mới
nghĩ thầm biết đâu chủ nhân họ Trương kia lại chẳng là một thứ tiên chồn!
*
- Chuyện Thu Sơn Đồ chỉ có thế thôi, thưa cụ !
Vương Thạch Cốc kể xong, mới chiêu trọn một chung trà.
- Thế à, câu chuyện quái lạ đấy chứ nhỉ !
Từ nãy giờ, Uẩn Nam Điền vẫn lặng ngắm ngọn lửa trên giá đuốc
đồng.
-Về sau, dường như Vương thị cũng hết lòng thăm hỏi nhiều nơi
nhưng nếu nói đến Thu Sơn Đồ của Si Ông thì ngoài bức ấy, ngay nhà họ
Trương chắc cũng chẳng biết gì khác. Do đó, Thu Sơn Đồ mà Yên Khách
Ông có lần được xem, một là có ai dấu biệt đâu đâu, hai là không gì khác
hơn một điều lầm lẫn trong trí nhớ của cụ ta thôi. Sự thật thế nào, tôi
không dám quyết. Có khi việc cụ khăn gói đến nhà họ Trương để tìm xem
Thu Sơn Đồ cũng chỉ là một câu chuyện hoàn toàn huyễn hoặc ... ... ... ...
....
- Thế nhưng trong tâm trí Yên Khách Ông vẫn ghi khắc rành rành hình
ảnh bức Thu Sơn Đồ kỳ quái kia chứ hở cụ ? Và trong tâm trí của cụ cũng
thế phải không ?
- Màu lục đậm của đá núi và màu son đỏ của rừng phong cho đến bây
giờ vẫn rõ mồn một trong đầu tôi.
- Nếu thế thì cho dù Thu Sơn Đồ không có thực chăng nữa, cụ có điều
gì để tiếc hận đâu nào !
Đến đây, Uẩn, Vương hai bậc đại gia một lượt vỗ tay, cùng cười ha
hả.
(Tháng 12 năm Taishô thứ 9)
Akutagawa Ryunosuke
Người dịch : Nguyễn Nam Trân
Chú thích
(1) - Hoàng Đại Si tức Hoàng Công Vọng (1269-1354) hiệu Nhất
Phong, họa gia đời Nguyên, nổi tiếng về tranh sơn thủy. Một trong Tứ Đại
Gia khoảng Tống mạt Nguyên sơ.
(2) - Vương Thạch Cốc tức Vương Kỳ (1631-1717), họa gia đời
Thanh, thiện tranh sơn thủy, tập đại thành họa pháp hai phái Nam Bắc
Tống.
(3) - Uẩn Nam Điền hay Uẩn Thọ Bình (1633-1690) họa gia đời
Thanh, sau khi xem tranh sơn thủy của Vương Thạch Cốc thì bỏ sơn thủy
mà chuyển qua tranh hoa điểu và thành công trong lĩnh vực nầy.
(4) - Mai Đạo Nhân Ngô Trấn (1280-1354), họa gia đời Nguyên, có
công nâng cao kỹ thuật của tranh sơn thủy, mặc trúc, mặc hoa, là một trong
Tứ Đại Gia cũng như Hoàng Đại Si.
(5) - Hoàng Hạc Sơn Tiều Vương Mông ( ? ? 1385) họa gia đời
Nguyên, một trong bốn đại gia, nổi tiếng về hội họa ( sơn thủy) lẫn văn
chương.
(6) - Yên Khách Ông Vương Thì Mẫn(1592-1680), họa gia thời Minh
mạt Thanh sơ. Cuối đời, về ở ẩn và đào tạo đệ tử trong đó có Vương
Thạch Cốc.
(7) - Liêm Châu Vương Giám (1598-1677) cũng là họa gia cuối Minh
đầu Thanh. Đứng ngang hàng với Vương Thì Mẫn, giỏi tranh sơn thủy.
(8) - Nguyên Tể tiên sinh Đổng Kỳ Xương (1554-1636), hiệu Tư
Bạch, họa gia thời Minh mạt. Đầu đàn họa phái Nam Tông. Giỏi thi phú.
(9) - Mã Lương đời Tam Quốc có đôi mày trắng, tài tuấn nhất trong
năm anh em, tất cả đều là người giỏi (Thục Chí, Mã Lương Truyện).
(10) - Tây Viên Thư Phòng là thảo am của Yên Khách Ông Vương Thì
Mẫn, người còn có biệt hiệu là Tây Lư Lão Nhân.
(11) - Hoành điểm là phép vẽ núi, khe, sương, khói bằng cách chấm
chấm nhiều điểm theo hàng ngang bên nhau.
(12) - Cao Phòng Sơn tức Cao Khắc Cung (? - 1310) hoạ gia đời
Nguyên, hiệu là Tú Sơn, vẽ sơn thủy có tiếng.
(13) - Lý Doanh Khâu tức Lý Thành ( ?-967), họa gia Đường mạt
Tống sơ, đại sư về tranh sơn thủy.
(14) - Thẩm Thạch Điền tự Thẩm Chu (1426-1509), họa gia sơn thủy,
sống giửa đời Minh, ông tổ của Ngô phái.
(15) - Công Tôn Đại Nương là người diễn trò dưới đời Đường Huyền
Tông, múa kiếm cực giỏi. Đổ Phủ từng làm thơ ca ngợi (Quan Công Tôn
Đại Nương Đệ Tử Vũ Kiếm Khí Hành)
(16) - Tuấn điểm: thủ pháp chấm phá từ thời Bắc Tống để làm khói
mây, núi non đất đá trên mặt tranh nổi bật lên cả chiều dày, sinh động như
thực.
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách
Cái mũi
Nguyên tác
Shuzanzu
Tác giả
Akutagawa Ryunosuke
Cái mũi
Nói đến cái lỗ mũi của sư Thiền Trí cả xóm Đuôi Ao không ai là không
biết. Nó dài hơn một tấc rưỡi, nằm lòng thòng từ trên môi cho đến dưới
cằm, đầu đuôi đều to như nhau, chẳng khác gì một khúc xúc xích treo lủng
lẳng trên mặt.
Từ khi còn là sa-di để chỏm cho đến nay hơn 50 tuổi, đã thành cao tăng
được chọn vào cung vua giữ việc tu hành mà trong lòng sư lúc nào cũng
canh cánh một nỗi khổ tâm vì cái lỗ mũi của mình. Dĩ nhiên, ngoài mặt vẫn
cố làm ra vẻ như chẳng có gì lo nghĩ. Nhưng đó chẳng phải vì mình đã là vị
sư hết lòng tu hành cho kiếp sau nên lo cho cái lỗ mũi thì hóa ra không hay,
mà chính vì rất sợ người ta biết tâm trạng mình cứ lo lắng cho cái lỗ mũi.
Có hai nguyên do khiến sư luôn rầu rĩ về cái lỗ mũi. Thứ nhất là nó dài
quá, rất bất tiện. Ăn cơm chẳng ăn một mình được. Ăn một mình thì lỗ
mũi sẽ đụng cơm trong bát mất. Cho nên mỗi khi ăn, sư cho đệ tử ngồi kế
bên dùng miếng gỗ lớn, bề ngang cỡ 3 phân, dài cỡ 6 tấc để mà nâng cái lỗ
mũi lên giùm. Việc này thật ra chẳng phải đơn giản đối với sư lẫn đệ tử.
Mọi người ở Kyoto đều biết chuyện, có lần một người nâng lỗ mũi thay
cho đệ tử nhà sư bị hắt xì một cái làm rung tay, khiến cho lỗ mũi rớt luôn
vào bát cháo. Tuy nhiên, đó cũng không phải là lý do chính khiến cho nhà
sư khổ tâm vì cái lỗ mũi. Mà thật ra nhà sư đau khổ vì cái lỗ mũi đã làm tổn
thương lòng tự trọng của mình. Dân chúng xóm Đuôi Ao cho rằng với cái
lỗ mũi như thế, chắc hẳn nhà sư hạnh phúc vì mình không phải là người
thường. Bởi vì chẳng có cô gái nào chịu làm vợ người có lỗ mũi như vậy.
Thậm chí có người còn suy luận chắc vì có lỗ mũi như vậy nên sư mới
xuất gia. Tuy nhiên, nhà sư thì lại chẳng mảy may nghĩ rằng nhờ đi tu mà
giảm bớt được phần nào nỗi sầu muộn do cái lỗ mũi gây nên. Nhà sư tìm
đủ cách khôi phục lại lòng tự trọng bị tổn thương, tích cực lẫn tiêu cực.
Trước hết, nhà sư cố làm sao để cho lỗ mũi thấy ngắn hơn thực tế. Những
lúc chẳng có ai, sư nhìn vào kiếng, quay qua quay lại đủ kiểu để ngắm. Rồi
có lúc cảm thấy không yên tâm lắm nếu chỉ có thay đổi vị trí khuôn mặt,
nhà sư còn tìm nhiều cách khác như chống tay vào má, tỳ ngón tay vào
cằm,… để ngắm nghía. Thế nhưng chưa lần nào nhà sư thoả mãn là thấy lỗ
mũi mình ngắn hơn. Thậm chí vì phiền muộn quá, đôi khi ngược lại thấy
lỗ mũi lại dài hơn. Những lúc đó, nhà sư cất kiếng vào hộp, lặng lẽ thở dài
rồi miễn cưỡng trở lại bàn tụng kinh Quan Âm.
Từ đó, nhà sư luôn để ý đến lỗ mũi người khác. Ngôi chùa ở Đuôi Ao
thường xuyên có thuyết pháp. Trong chùa nhà ở san sát nhau, các vị sư
luôn nấu nước hàng ngày. Do đó đủ mọi hạng người ra vào chùa từ tăng
lẫn tục. Sư Thiền Trí kiên nhẫn quan sát khuôn mặt từng người, những
mong sẽ gặp được ai đó có cái lỗ mũi giống mình để tự an ủi phần nào.
Con mắt nhà sư chẳng thèm để tâm đến quần áo của mọi người, nhất là mũ
áo của sư sãi thì đã thường quá, chẳng lọt vào mắt. Tóm lại sư không nhìn
người mà chỉ nhìn lỗ mũi. Trong số người qua lại, cũng có người mũi quặp
như mũi két, thế nhưng tuyệt nhiên không ai có mũi giống như của mình.
Cứ thế, ngày qua ngày, sư lại càng buồn thêm. Chính nỗi buồn miên man
đó đã khiến cho lúc nói chuyện với người khác sư cứ vô tình rờ vào đầu lỗ
mũi mà đỏ mặt thẹn thùng thấy chẳng xứng với cái tuổi đã ngoại ngũ tuần.
Cuối cùng, sư cố tìm trong kinh điển và cả sách vở ngoài đời xem có ai có
lỗ mũi giống mình không để gọi là đỡ buồn đôi chút. Nhưng không thấy
kinh điển nào ghi Mục Kiền Liên hay Xá Lợi Phất có lỗ mũi dài cả. Long
Thọ, Mã Minh cũng là bồ tát có lỗ mũi bình thường. Khi nghe chuyện Lưu
Huyền Đức của nhà Thục Hán có lỗ tai dài, sư thầm nghĩ phải chi đó không
phải là lỗ tai mà là lỗ mũi thì đỡ khổ cho mình biết bao nhiêu.
Không cần phải nói cũng biết rằng ngoài các biện pháp tiêu cực như
vừa kể, sư còn tích cực tìm cách làm cho mũi ngắn đi. Về mặt này, sư cũng
đã làm hết cách. Từ nấu trái bình bát để uống cho đến lấy nước đái chuột
quẹt lên mũi. Nhưng dù làm cách nào đi nữa, cái lỗ mũi vẫn nằm dài lủng
lẳng trên mặt hơn một tấc rưỡi.
Thế rồi vào mùa thu năm nọ, có một đệ tử đi lên kinh đô làm công việc
cho nhà sư đã được một y sĩ quen biết chỉ cách làm cho lỗ mũi ngắn đi. Y
sĩ đó nguyên là người từ Trung Quốc đến tu ở chùa Trường Lạc. Tuy
nhiên, sư Thiền Trí cố tình không thử ngay phương pháp đó, giả bộ như
mọi khi là làm như chẳng quan tâm đến cái lỗ mũi của mình. Mặt khác, mỗi
khi ăn cơm, sư đều nhẹ nhàng nói rằng thật khổ tâm vì đã làm phiền đệ tử
quá. Đương nhiên trong lòng thì vẫn chờ đệ tử thuyết phục mình dùng thử
phương pháp đó. Phía đệ tử cũng chẳng phải không biết tâm trạng của sư.
Thế nhưng đệ tử không ghét mà còn thương tình khi thấy sư phải cố tình
làm như thế. Đệ tử bèn đem ba tấc lưỡi ra khuyên sư hãy thử phương pháp
vừa học được. Thế là cuối cùng sư đã nghe theo lời khuyên nhiệt tình của
đệ tử. Phương pháp này thật ra vô cùng đơn giản: dùng nước nóng trần lỗ
mũi rồi cho người đạp lên. Nước nóng thì đã có sẵn, hàng ngày vẫn được
đun trong bếp. Vị đệ tử bèn đi vào bếp lấy chậu nước nóng mang ra. Nước
nóng đến nổi không thể cho ngón tay vào được. Do đó, nếu cho lỗ mũi
thẳng vào trong nước này thì không khéo hơi nóng bốc lên sẽ làm phỏng
mặt. Vị đệ tử bèn lấy nắp đục lỗ đậy lên chậu rồi đút lỗ mũi sư vào chậu
qua cái lỗ đó. Chỉ cho lỗ mũi vào chậu nước nóng như thế thì sẽ chẳng thấy
nóng. Được một lúc vị đệ tử lên tiếng:
-Chắc là đã trần xong rồi?
Sư cười đau khổ nghĩ rằng nếu ai có nghe hỏi như thế thì cũng chẳng
làm sao biết được đó là câu chuyện cái lỗ mũi. Lỗ mũi hấp trong nước
nóng cảm giác rất nhột nhạt giống như bị rận cắn. Sư nhấc lỗ mũi còn ngút
khói ra khỏi chậu nước nóng để lên sàn cho đệ tử co hai chân đạp lên. Sư
nằm nhìn cặp chân đệ tử co lên đạp xuống ngay trước mắt mình. Vị đệ tử
nhìn xuống cái đầu hói của nhà sư, thỉnh thoảng thoáng vẻ tội nghiệp hỏi:
-Thầy có đau lắm không? Y sĩ bảo là đạp cho mạnh. Chắc là đau lắm
phải không? Sư định lắc đầu ra dấu không đau. Thế nhưng lỗ mũi bị đạp
nên cái cổ chẳng nhút nhích được. Sư bèn nhướng mắt lên nhìn cái chân
nứt nẻ của đệ tử vừa trả lời như giận dữ:
-Chẳng có đau.
Thật ra lỗ mũi ngứa mà được đạp như thế thì thay vì đau, nó lại có cảm
giác dễ chịu hơn. Đạp một lúc thì xung quanh lỗ mũi xuất hiện những đốm
như hạt kê, trông giống như con chim bị vặt lông mà quay. Thấy thế, đệ tử
thôi đạp, lẩm bẩm như thầm nói với mình:
-Y sĩ biểu dùng cây nhíp để vặt bỏ.
Sư bèn phùng má lên như có vẻ không bằng lòng, để mặc cho đệ tử
muốn làm gì thì làm. Không phải là không biết đệ tử tử tế với mình nhưng
sư không vui khi thấy lỗ mũi mình bị xem như một thứ đồ vật. Gương mặt
sư giống như bịnh nhân không tin tưởng bác sĩ mà phải chịu giải phẫu, bất
đắc dĩ ngắm nhìn đệ tử dùng chiếc nhíp vặt lấy các mụt mỡ ở lỗ chân lông
trên mũi. Mụt mỡ vặt ra dài hơn một phân, giống như cộng lông chim.
Một lúc xong, đệ tử nói như thở phào nhẹ nhõm:
-Trần thêm một lần nữa mới được.
Gương mặt sư vẫn lộ vẻ bất mãn, mặc cho đệ tử muốn làm gì thì làm.
Trần xong lần nữa lấy ra thì thấy lỗ mũi đã ngắn lại hơn mọi khi. Thế này
thì chẳng khác gì lỗ mũi quặp vẫn thấy. Sư Thiền Trí vừa vuốt mũi vừa đưa
mắt bẽn lẽn nhìn vào kính do đệ tử mang tới với vẻ ngượng ngùng. Lỗ mũi,
cái lỗ mũi dài tận dưới cằm trước kia giờ đây đã rút ngắn lại như chuyện
không tưởng, chỉ còn hơi cao hơn môi trên một chút. Những đốm đỏ rải
rác trên mũi có lẽ là dấu vết do bị đạp mà ra. Thế này thì chắc chắn không
còn ai cười nữa. Gương mặt trong kính của sư nhìn gương mặt bên ngoài
kính mà nháy mắt cười như mãn nguyện. Tuy nhiên, đó mới là hôm đầu
tiên thôi, sư vẫn còn lo âu không biết lỗ mũi có dài ra lại không. Cho nên
dù tụng kinh hay ăn uống, mỗi khi có chút rảnh rổi là sư đưa tay lên rờ lỗ
mũi thăm chừng. Nhưng lỗ mũi vẫn ngoan ngoãn nằm phía trên môi, hoàn
toàn không có vẻ gì dài ra. Từ đó, mỗi lần ngủ dậy, điều đầu tiên là sư đưa
tay lên rờ lỗ mũi. Nó vẫn ngắn. Thế là lòng sư thanh thản như đã t...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





