CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Tuyển Tập Truyện Ngắn - Akutagawa Ryunosuke

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 20h:51' 28-04-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    THÔNG TIN EBOOK

    Tên sách

    Tập truyện ngắn của Akutagawa Ryunosuke
    Tác giả

    Akutagawa Ryunosuke
    Nhà Xuất Bản

    NXB TP HCM
    Ebook

    Tổng hợp Shiba 2021 kindlekobovn



    — —

    MỤC LỤC | TABLE OF CONTENTS
    Hội yêu đọc sách Kindle Việt Nam
    Bức Họa Núi Thu
    Cái mũi
    Cháo Khoai
    Chiếc Mùi soa
    Chiếc xe goòng
    Cổng Rashomon
    Địa ngục trước mắt
    Hà Đồng
    Lòng đã trót yêu
    Mộng Mị ( Yume )
    Mùa thu
    Niềm tin
    Nước Giòng Sông Cái
    Tiệc khiêu vũ
    Tay đạo chích hào hiệp
    Trinh tiết
    Tu tiên
    Akutagawa dựa vào đâu để viết Sợi Tơ Nhện
    Bốn bề bờ bụi
    Ảo thuật
    Ảo Ảnh Cuộc Đời

    THÔNG TIN EBOOK
    Tên sách

    Bức Họa Núi Thu
    Nguyên tác

    Shuzanzu
    Tác giả

    Akutagawa Ryunosuke

    Bức Họa Núi Thu
    Một tối mùa thu, Vương Thạch Cốc (2) đến thăm Âu Hương Các và
    khi đang nhấp mấy ngụm trà với chủ nhân Uẩn Nam Điền (3) , câu chuyện
    đưa đẩy thế nào mà tự dưng khách đi vào câu hỏi đó.
    - Thưa không, tôi chưa được xem ạ. Thế cụ đã có dịp thưởng thức
    tranh ấy chưa ?
    Đại Si Lão Nhân Hoàng Công Vọng tề danh với Mai Đạo Nhân (4) và
    Hoàng Hạc Sơn Tiều  (5) , đời coi là ba thánh thủ hội họa dưới triều
    Nguyên. Uẩn Nam Điền vừa nói thế mà có cảm tưởng những bức danh họa
    của Đại Si mình có dịp chiêm ngưỡng ngày xưa, nào Sa Tích Đồ, nào Phú
    Xuân Quyển như phảng phất hiện về trong ký ức.
    - Ấy, biết thưa thế nào đây, bảo là xem rồi thì vẫn đúng mà bảo chưa
    xem cũng chẳng sai. Chuyện nói ra thật khó tin, bẩm cụ ...
    - Cái gì mà xem rồi lại như chưa xem, thế nhỉ ...?
    Uẩn Nam Điền lộ vẻ thắc mắc, nhìn Vương Thạch Cốc như dò hỏi.
    - Hay tranh cụ xem là bức họa mô phỏng thôi chứ gì ?
    - Thưa không, chẳng phải phỏng họa nào cả. Rõ ràng tôi được xem bản
    chính đấy. Nào phải một mình tôi đâu., Cả Yên Khách tiên sinh (6)(Vương
    Thì Mẫn) lẫn Liêm Châu tiên sinh  (7)
    (Vương Giám) đếu có chút duyên
    may với bức Thu Sơn Đồ nầy cả đấy, cụ ạ !
    Vương Thạch Cốc mới nhấp thêm ngụm trà, ra vẻ nghĩ ngợi lung lắm,
    rồi mới mỉm cười.
    - Nếu không nhàm tai cụ thì tôi xin được phép kể lại đầu đuôi câu
    chuyện.

    - Vâng, cụ tự nhiên cho.
    Uẩn Nam Điền khêu lại ngọn lửa trên giá đuốc đồng, vừa ân cần thôi
    thúc khách.
    *
    Chuyện xảy ra hồi Nguyên Tể tiên sinh (8)  (Đổng Kỳ Xương) còn sinh
    tiền cơ. Mùa thu năm ấy, có hôm đang cùng Yên Khách Ông luận về hội
    họa, bất chợt tiên sinh hỏi Ông đã được xem Thu Sơn Đồ của Hoàng Nhất
    Phong chưa. Như cụ thừa biết, trong ngành họa, Ông là môn hạ họa phái
    Đại Si, nên có thể bảo đã là tác phẩm của Đại Si lưu lại trên cõi đời nầy,
    Ông đều xem không sót. Thế mà mỗi một bức gọi là Thu Sơn Đồ, rốt cục
    ông chưa hề được xem.
    - Không ạ, tên còn chưa nghe tới, nói chi đến xem !
    Yên Khách Ông vừa trả lời như thế vừa không khỏi thẹn thùa.
    -Thế thì khi nào có dịp, xin ông xem một lần cho biết. So với Hạ Sơn
    Đồ và Phù Băng Đồ, tranh ấy còn nổi hơn một bậc. Có lẽ trong số họa
    phẩm của Hoàng Đại Si lão nhân, Thu Sơn Đồ chính là bạch mi ( 9 ) đấy ạ
    !
    - Kiệt tác như thế hở cụ. Tôi phải tìm xem mới được. Thế cụ có biết
    hiện nay ai là chủ bức tranh ấy không?
    - Nó nằm ở nhà họ Trương xứ Nhuận Châu. Trên đường vãng cảnh
    Kim Các Tự chẳng hạn, ông nhớ tạt qua gõ cửa hỏi thăm chủ nhân xem.
    Tôi sẽ xin vì ông mà thảo một phong thư giới thiệu.
    Yên Khách Ông lãnh thư của tiên sinh, tức thời lên đường đi Nhuận
    Châu. Nghĩ thầm nếu nhà họ Trương là nơi sở tàng một bức danh họa như
    vậy thì đến đó, ngoài tranh Hoàng Nhất Phong chắc còn có cơ chiêm
    ngưỡng được những bức họa tuyệt vời khác, nên Yên Khách Ông bồn

    chồn bứt rứt không thể nào nán lại thư phòng Tây Viên (10) thêm một khắc
    nào nữa.
    Thế nhưng khi tới Nhuận Châu, Ông mới vỡ lẽ. Ngôi nhà họ Trương
    mà ông thèm thuồng đến viếng kia, cơ ngơi đồ sộ thì có đấy nhưng sao
    hoang phế tiêu điều quá. Giây trường xuân leo đầy tường dậu, cỏ dại um
    tùm trên sân, một đàn gà vịt nhớn nhác nhìn khách lạ. Cảnh tượng như thế
    làm cho một người trung hậu như Ông cũng bất giác nghi ngờ lời nói của
    Nguyên Tể tiên sinh vì không nghĩ ra cớ gì mà tranh Đại Si lạc loài đến
    chốn hoang vu thế nầy. Nhưng đã cất công đến lại chưa chìa danh thiếp mà
    đã bỏ về thì sao gọi là sở nguyện bình sinh. Vừa vặn lúc ấy người canh cửa
    bước ra, Ông đành phải trình bày việc làm khách viễn phương ghé xem
    tranh Hoàng Nhất Phong, rồi trao phong thư giới thiệu của Tư Bạch Tiên
    Sinh.
    Chỉ trông chốc lát, Yên Khách Ông đã được mời lên đại sảnh. Ở đây
    cũng vậy, tuy có đặt bộ trường kỷ bạch đàn nom rất trang nhã nhưng
    thoang thoảng mốc meo, như thể mùi hoang phế bốc lên cả từ nền gạch.
    May thay, khi chủ nhân bước ra thì dầu nhìn mặt thấy như người mang
    bệnh nhưng tướng mạo nom ra cũng hiền lành. Không những thế, khuôn
    mặt xanh xao và bàn tay thanh tú kia cho ta cảm tưởng người ấy có cái
    phong thái con nhà dòng dõi. Sau khi hai bên phân chia ngôi thứ theo đúng
    lễ sơ kiến, Ông bèn thưa với chủ nhân xin được chiêm bái tác phẩm cao
    diệu của Hoàng Nhất Phong. Nghe giọng khẩn khoản mới thấy Ông có vẻ
    đang bị ám ảnh bởi nỗi lo sợ nếu không tìm xem cho được bức họa bây
    giờ, e nó sẽ biến thành sương thành khói mất.
    Chủ nhân vui vẻ nhận lời và cho treo ngay lên tường của sảnh đường
    một bức họa :
    - Xin thưa đây là Thu Sơn Đồ mà quí khách hằng ao ước.

    Yên Khách Ông mới nhìn bức tranh trên tường một lượt thôi đã bất
    giác thốt ra tiếng kêu kinh ngạc.
    Nền họa tuyền một màu xanh lục.Chỗ dòng khe uốn mình như rắn
    lượn, lác đác xóm làng và mấy nhịp tiểu kiều. Bên sườn ngọn núi vút lên
    cao nhất, chòm mây thu nhàn nhã được điểm đậm nhạt bằng mấy lớp phấn
    trắng. Núi xếp giăng hàng theo phép hoành điểm  (11)  của Cao Phòng
    Sơn (12) , tươi tắn sau cơn mưa như một nét mày xanh, lại ánh lên nét đẹp
    của màu son rắc đó đây trên những khóm cây lá đỏ. Không biết dùng lời
    nào để diễn tả cho hết ý, và còn lo đòi hỏi đó vượt cả khả năng của ngôn
    ngữ nữa. Chỉ thấy bức họa vừa diễm lệ, vừa hùng tráng, bút mực lại rất đổi
    nồng đượm. Có thể nói màu sắc rực rỡ như thế mà vẫn toát ra một cái gì xa
    xưa, hư không lãng đãng.
    Yên Khách Ông để thần hồn bay bổng, mắt mải mê không rời bức họa.
    Càng nhìn càng ngắm, Ông khám phá hết chỗ ảo diệu nầy đến chỗ ảo diệu
    khác.
    - Thế nào, quí khách có hài lòng không ạ ?
    Chủ nhân miệng hơi mỉm cười, nghiêng nhìn ông dò hỏi.
    - Quả là thần phẩm ! Lời tán tụng của Nguyên Tể tiên sinh chẳng
    những không quá đáng tị nào mà còn như là chưa đủ đấy ạ. Đem những
    danh họa tôi xem được cho đến nay mà so với bức tranh nầy thì chúng đều
    ở thế hạ phong cả.
    Miệng thì nói nhưng mắt Yên Khách Ông vẫn không rời khỏi bức họa.
    - Thế cơ, bức tranh nầy là kiệt tác đến mức đó sao, thưa quí khách ?
    Yên Khách Ông lúc đó mới đảo mắt nhìn chủ nhân, ra dáng ngạc nhiên
    :
    - Tại sao bây giờ ngài lại tỏ ra mất tin tưởng như thế.
    - Không ạ, tôi nào có mất tin tưởng gì đâu. Chẳng qua là........

    Lúc đó, chủ nhân bỗng đâm ra bẽn lẽn như cậu thư sinh, mặt đỏ lên vì
    lúng túng. Mãi sau mới nở một nụ cười buồn bã, tần ngần nhìn bức họa và
    tiếp lời :
    - Thực tình, mỗi lần nhìn bức họa nầy, dù mắt đang mở trao tráo, tôi
    vẫn thấy mình như đang ở trong cõi mộng.Thu Sơn đẹp đến thế nầy ư ? Vẻ
    đẹp ấy chỉ có mình tôi cảm nhận được thôi sao ? Ngoài tôi ra, dưới mắt
    người khác nó chỉ là một bức họa tầm thường chăng ? Không hiểu tại sao
    sự ngờ vực đó cứ dằn vặt tôi. Đâu là nguyên nhân ? Một là tâm trí tôi bấn
    loạn vì nó hoặc giả bức tranh kia quá đẹp để có thực ở trên đời ? Mang một
    tâm trạng lạ lùng như vậy nên lời tán thưởng mới đây của quí khách chỉ
    làm tôi dao động thêm thôi.
    Thật tình lúc đó Yên Khách Ông chẳng có vẻ để ý gì lời biện bạch của
    chủ nhân. Đang bị Thu Sơn Đồ hớp hồn, ngoài nó Ông không thấy gì
    khác. Ông chỉ có cảm tưởng từ đầu chí cuối, chủ nhân toàn ăn nói lung
    tung nhằm che dấu sự yếu kém về khả năng thưởng thức hội họa của mình.
    Sau khi trò chuyện một đỗi, Yên Khách Ông cáo từ họ Trương và rời
    ngôi nhà hầu như hoang phế ấy để lên đường.
    Thế nhưng làm sao thì làm, từ khi bức Thu Sơn Đồ mở bừng con mắt
    cho Ông thì nó không rời khỏi tâm trí Ông nữa. Thực sự nếu ta đặt mình
    vào địa vị Yên Khách Ông, người truyền thừa họa phong của Đại Si, thì
    chắc chắn sẽ sẵn sàng lìa bỏ mọi thứ miễn sao bức họa kia lọt vào tay mình
    cho được. Ngoài lý do tình cảm đó, cá nhân ông còn là nhà sưu tập tranh.
    Những bức danh họa gia bảo trong đó kể cả Sơn Âm Phiếm Tuyết Đồ của
    Lý Doanh Khâu (13) mà ông đã phải trả bằng hai mươi dật hoàng kim, so
    với Thu Sơn Đồ thì vẫn còn thua sút về mặt thần diệu. Vì thế, ở cương vị
    một người chơi tranh sành sõi, ông càng thèm thuồng bức họa hi hữu của
    đại sư Hoàng Nhất Phong.

    Trong thời gian ở Nhuận Châu, bao lần Ông cho người đến thương
    lượng với họ Trương để nài Thu Sơn Đồ nhưng Trương thị trước sau
    không khứng. Theo lời kể của người nhà được Ông phái đi, chủ nhân có
    khuôn mặt xanh xao kia đã nhắn lại : " Nếu quí khách có lòng yêu bức
    tranh ngần ấy thì tôi xin cho ngài mượn nhưng xin thứ cho việc bắt tôi phải
    xa lìa nó vĩnh viễn". Đối với người hiếu thắng như Yên Khách Ông, lời từ
    chối đó như chạm mạnh đến tự ái. Được rồi, thèm gì mà mượn, một ngày
    nào đó bức tranh sẽ vào tay ta cho xem. Ông định bụng như vậy rồi, cuối
    cùng tạm xa Thu Sơn Đồ và rời khỏi Nhuận Châu.
    Vừa vặn một năm sau, Yên Khách Ông đã trở lại chốn cũ. Tới nơi,
    Ông liền đến ngay nhà họ Trương. Cảnh vẫn chẳng có gì thay đổi , giây
    trường xuân bò lan tường dậu và cỏ dại mọc đầy sân, màu sắc cứ như xưa.
    Tuy nhiên khi hỏi thăm người giúp việc, mới hay chủ nhân đi vắng. Không
    gặp được chủ nhân nhưng Ông cũng xin phép ngắm lại Thu Sơn Đồ. Có
    điều dầu khẩn khoản bao lần, mượn cớ chủ không có nhà, gia nhân quyết
    ngăn Ông vào. Cuối cùng, họ còn sập cửa, không thèm cả ừ hử. Ông chỉ
    còn cách tơ tưởng đến cái bức danh họa hiện đang được cất giấu một xó
    nào trong căn nhà điêu tàn ấy, bồi hồi trở gót quay về.
    Sau lần đó, lúc Ông có dịp gặp Nguyên Tể tiên sinh thì cụ lại báo cho
    biết ở nhà họ Trương, ngoài Thu Sơn Đồ của Đại Si, còn có cả những kiệt
    tác khác như Vũ Dạ Chỉ Túc Đồ và Tự Thọ Đồ của Thẩm Thạch Điền (14)
    nữa.
    - Lần trước định nhắn ông rồi lại quên khuấy. Hai bức tranh tôi vừa kể
    ra phải nói là những kỳ quan của họa đàn cũng như Thu Sơn Đồ đấy ạ.
    Thế nào cũng phải tìm xem cho được, ông nhé.
    Yên Khách Ông tức tốc phái người nhà đến Nhuận Châu gặp họ
    Trương. Ngoài tờ thư với thủ bút của Nguyên Tể tiên sinh, người nhà còn

    được soạn sẵn cho cả một đãy bạc để dùng vào mua tranh. Thế nhưng họ
    Trương vẫn khăng khăng không chịu nhượng lại tác phẩm của Hoàng Nhất
    Phong. Ông đành bấm bụng bỏ rơi chuyện Thu Sơn Đồ.
    *
    Vương Thạch Cốc chợt ngừng bặt trong giây lát.
    - Những điều tôi kể đế đến đoạn này là nghe từ chính miệng Yên
    Khách Ông đấy, thưa cụ.
    - Thế thì chỉ có mỗi mình Yên Khách tiên sinh được chiêm ngưỡng
    Thu Sơn Đồ thôi phỏng ?
    Uẩn Nam Điền vừa mân mê chòm râu, vừa hỏi lại Vương Thạch Cốc
    cho chắc.
    -Tiên sinh bảo với tôi người đã xem rồi. Còn việc tiên sinh có thực
    thấy nó chưa thì chẳng ai dám quả quyết.
    - Nhưng qua nội dung câu chuyện dường như ... ... ... ... ....
    - Ậy, để tôi kể thêm cái đã. Nếu mà nghe cho đến cuối thì e rằng cụ sẽ
    đưa ra kết luận khác tôi cũng không chừng.
    Lần này, Vương Thạch Cốc, trà cũng chẳng nhấp, kể luôn một mạch.
    *
    Yên Khách Ông cho tôi nghe câu chuyện trên, tính ra từ hồi cụ được
    xem Thu Sơn Đồ lần đầu tiên là gần năm mươi năm sau, trải qua biết
    mấy tinh sương rồi. Lúc đó Nguyên Tể tiên sinh ra người thiên cổ từ lâu
    mà cơ nghiệp họ Trương cũng đã truyền đến đời thứ ba. Cho nên bấy giờ
    tôi chẳng những không biết ai là người giữ bức Thu Sơn Đồ mà còn ngay
    ngáy nỗi bức danh họa kia đã ngọc nát vàng phai. Lúc Yên Khách Ông tả
    cho tôi xong cái thần diệu của bức tranh mà cụ như đang cầm chắc trên
    tay, bèn ngậm ngùi than : " Cái bức Hoàng Nhất Phong ấy giống như

    đường kiếm của Công Tôn Đại Nương  (15) anh ạ. Bút mực có đó mà
    không thấy bút mực. Cái thần khí của bức tranh như ụp lên trái tim mình.
    Như thể nhìn rồng bay trong mây, không sao phân biệt đâu là người đâu là
    kiếm ".
    Chừng một tháng sau lần gặp gỡ nói trên, gặp lúc gió xuân sắp nổi, tôi
    định một mình thăm thú phương nam. Đem chuyện đó thưa với Ông, Ông
    mới bàn :
    -Thế thì còn gì bằng. Anh cũng nhân cơ hội nầy tìm gặp Thu Sơn thử
    xem. Nếu bức danh họa xuất hiện với đời lần nữa thì đúng là một tin vui
    cho làng họa đấy.
    Dĩ nhiên tôi chỉ mong chừng đó, liền phiền Ông thảo hộ phong thư.
    Thế nhưng trên bước đường du lịch, hết xem chỗ nầy đến chỗ nọ, không
    tìm ra thời giờ đến nhà họ Trương xứ Nhuận Châu. Tôi để lá thư giới
    thiệu của Ông trong tay áo, mãi khi cuốc gọi vào hè vẫn quên bẵng việc
    viếng Thu Sơn.
    Chợt lúc ấy có tin đồn một vị quí thích họ Vương mới là người hiện
    giữ Thu Sơn Đồ lọt vào tai tôi. Nếu thế thì là trong khi du lịch, tôi có lần
    đem thư Yên Khách Ông cho một người quen xem và họ cũng là chỗ đi lại
    với một tân khách của Vương. Chắc Vương thị nghe tin từ đó mới biết
    bức tranh đang nằm ở nhà họ Trương Nhuận Châu. Theo lời thiên hạ kể
    thì nào là khi cháu Trương thị tiếp người của vị họ Vương kia phái tới đã
    mang hết đỉnh vạc thư tịch tổ tiên truyền lại, kể cả Thu Sơn Đồ của Hoàng
    Đại Si, mà hiến dâng ngay. Rồi nào là Vương thị quá đỗi mừng rỡ, mời
    cháu nhà họ Trương ngồi ghế trên, hết sai ca kỹ trong nhà ra tấu nhạc thù
    tiếp, yến ẩm linh đình, lại còn tặng nghìn vàng làm lễ thọ...Tôi mừng
    muốn nhảy tưng tưng vì trải qua năm mươi năm dâu bể Thu Sơn Đồ vẫn
    bình yên vô sự ! Hơn nữa, nó đang nằm trong tay Vương thị, người mà tôi

    có chút quen biết. Ngày xưa Yên Khách Ông lao khổ là thế, lại không
    được nhìn lấy bức họa được lần thứ hai, hẳn là bị quỉ thần ghét bỏ để cuối
    cùng đành nuốt hận. Trong khi họ Vương kia cứ đủng đỉnh chẳng phải chờ
    mà bức họa lộ ra ngay trước mặt như lâu đài tiên xây cho. Chỉ có thể ví
    với cái may sung chín rụng nhằm mồm. Tôi vội thu nhanh vén gọn tìm
    đến ngay phủ đệ nguy nga của họ Vương để hội kiến Thu Sơn.
    Đến nay tôi vẫn nhớ rõ như in mấy cành mẫu đơn khoe sắc thắm giữa
    một buổi xế trưa đầu hè lặng gió ngoài hàng lan can đẹp như ngọc của
    viên đình nhà họ Vương. Mới nhìn Vương thị, chưa chào hỏi xong xuôi
    mà tôi đã không nén được tiếng reo vui :
    - Giờ đây Thu Sơn là báu vật của quí phủ rồi. Yên Khách tiên sinh
    mất ăn mất ngủ bao nhiêu vì nó nhưng chắc lần nầy cụ ấy đã an tâm. Chỉ
    nghĩ chừng đó thôi đã đủ sung sướng.
    Mặt Vương thị lộ vẻ mãn nguyện.
    - Hôm nay cả Yên Khách tiên sinh và Liêm Châu tiên sinh cũng ghé
    chơi. Thế nhưng ta cứ theo thứ tự, ông đã đến xin mời ông vào xem trước
    cho.
    Vương thị mới sai người treo bức Thu Sơn Đồ ấy lên trên tường bên
    cạnh. Vẫn thôn làng trong rừng lá đỏ nhìn xuống giòng nước, vẫn chòm
    mây trắng che khuất thung lũng, cả những ngọn núi gần xa vút lên như
    mấy tấm bình phong, những gì Đại Si lão nhân tô vẽ đã hiện ra lồ lộ trước
    mắt tôi. Quả thật là một cõi tiểu thiên địa mà xem còn thần diệu hơn cả đại
    tự nhiên. Lòng rộn ràng, mắt tôi đăm đăm ngắm bức họa trên tường. Cái
    cảnh khói mây gò trũng này, phân vân gì nữa, Hoàng Nhất Phong đây rồi.
    Ngoài Si Ông ra, hỏi có mấy ai thành công được khi vừa gia phép tuấn
    điểm (16) mà vẫn làm dậy nét mực, tô màu đậm đến thế mà không dấu
    ngọn bút. Tuy nhiên, vâng, tuy nhiên bức Thu Sơn Đồ này so với bức

    tranh mà ngày xưa Yên Khách tiên sinh đã được xem ở nhà họ Trương là
    một Hoàng Nhất Phong khác mất. Bức này nếu đem ra mà so sánh với
    Thu Sơn Đồ mà ông đã tả cho nghe, hẳn còn thua một bậc.
    Từ họ Vương cho đến đám thực khách đang ngồi vây chung quanh
    đều nhìn vẻ mặt tôi như chờ đợi. Chính vì vậy tôi cảm thấy cần giữ ý
    không để một chút thất vọng nào lộ ra cả. Cố gắng được có bấy nhiêu, rốt
    cuộc vẫn không tài nào dấu nỗi vẻ không phục. Vương thị mới từ từ quay
    lại phía tôi, lo lắng cất tiếng hỏi :
    - Thấy thế nào hở ông ?
    Tôi mới làm bộ trả lời:
    - Thần phẩm ! Bức tranh nầy xưa có làm điêu đứng Yên Khách tiên
    sinh thì cũng chẳng lấy làm lạ. Mặt Vương thị mới tươi lên được một
    chút. Dù sao giữa khoảng đôi mày vẫn thấy có gì không được hài lòng về
    lời tán thưởng của tôi.
    Vừa lúc đó, Yên Khách tiên sinh, người từng đem cái cao diệu của
    Thu Sơn Đồ ra thuyết tôi nghe, đến nơi. Trong lúc chào hỏi họ Vương, tôi
    thấy Ông tủm tỉm cười ra dáng vui mừng.
    - Năm mươi năm trước được xem Thu Sơn Đồ trong ngôi nhà đổ nát
    của Trương thị, ngày nay lại diện kiến Thu Sơn giữa khung cảnh dinh thự
    phú quí như thế này, thật là một mối nhân duyên kỳ lạ.
    Vừa nói thế, Yên Khách Ông ngước nhìn bức họa trên tường. Thu
    Sơn này có đúng là Thu Sơn ông nhìn thấy năm xưa hay không, chuyện
    đó ngoài ông ra không ai có thể rõ hơn. Biết vậy, cả họ Vương lẫn tôi đều
    đổ dồn con mắt theo dõõi nét mặt Ông lúc xem tranh. Quả nhiên, tôi bỗng
    nhận ra ngay khuôn mặt Ông như vương vướng chút mây mờ.
    Sau một hồi im lặng trầm tư, Vương thị càng thêm lo lắng, nhìn về
    hướng Ông, giọng run run:

    - Sao hở cụ? Mới đây Thạch Cốc tiên sinh vừa không tiếc lời khen.
    Lúc đó, bụng tôi sợ hết vía, không khéo một người thẳng thắn như
    Yên Khách Ông sẽ trả lời bộc trực quá chăng. Nhưng chắc Ông chẳng
    đành lòng để Vương thị chuốc lấy thất vọng. Mắt nhìn Thu Sơn xong,
    ông mới nghiêm trang trả lời họ Vương:
    - Ngài thật may mắn mới thu nạp được bức tranh nầy. Từ đây, kho
    tàng gia bảo của quí phủ sẽ thêm mười phần hương sắc.
    Thế nhưng nghe được lời nầy, nét mặt của Vương thị chỉ đắm chìm
    trong u ẩn.
    Nếu lúc đó không có Liêm Châu tiên sinh vì trễ hẹn hộc tốc chạy vào
    thì bầu không khí giữa chúng tôi sẽ còn nặng nề hơn. May quá, lời bình
    phẩm của Yên Khách Ông vừa đến chỗ ngúc ngắc thì tiên sinh đã khoái
    hoạt nhập đám:
    - Ủa, Thu Sơn Đồ vẫn được truyền tụng là đây à?
    Chào hỏi vội vàng xong, tiên sinh đến đứng trước mặt bức tranh của
    Hoàng Nhất Phong. Im lặng hồi lâu, tiên sinh chỉ cắn râu không thốt ra
    một tiếng.
    - Yên Khách tiên sinh cho biết năm mươi năm về trước cụ đã được
    xem tranh nầy một lần rồi.
    Vương thị ra chiều lo lắng, giải thích thêm. Thật ra, Liêm Châu tiên
    sinh chưa hề được Yên Khách Ông bình phẩm cho nghe cái thần diệu của
    Thu Sơn Đồ.
    - Thế nào ? Cụ giám định ra sao ?
    Tiên sinh chỉ khẻ thở hắt ra, mắt vẫn không rời bức họa.
    - Xin cụ chớ ngại ngùng, cứ bảo ban cho chúng tôi biết.
    Vương thị gượng cười, dục tiên sinh thêm lần nữa.
    - Bức nầy đấy à, bức nầy nó ... .....

    Mồm Liêm Châu tiên sinh mím lại.
    - Bức nầy nó ... ... ... ... ... ... ... ... ....?
    - Nó là danh tác số một của Si Ông đấy. Ngài cứ xem chỗ mây khói
    đậm nhạt kìa ! Không tràn trề sức sống là gì. Cách cho màu rừng cây phải
    gọi là thiên tạo mới đúng ! Nhìn cái đỉnh núi xa xa kia thử đi ! Toàn thể bố
    cục hài hoà với nó, không có gì sinh động hơn được.
    Sau một hồi im lặng mới thấy Liêm Châu tiên sinh quay về hướng
    Vương thị không ngớt lời ca tụng và giảng giải từng chút cái cao diệu của
    bức họa. Tôi không thưa chắc cụ cũng đoán được là nghe đến đâu, mặt
    mày Vương thị rạng rỡ ra đến đấy.
    Trong khi đó tôi và Yên Khách Ông ngầm đưa mắt nhìn nhau.
    - Thưa thầy, đây là Thu Sơn Đồ thật sao ?
    Thấy tôi hạ giọng hỏi, Ông khẻ lắc đầu, vừa nháy mắt một cái thật khó
    hiểu :
    - Tóm lại mọi sự ở đời chỉ là thoáng chiêm bao. Xem sự thểxảy ra mới
    nghĩ thầm biết đâu chủ nhân họ Trương kia lại chẳng là một thứ tiên chồn!
    *
    - Chuyện Thu Sơn Đồ chỉ có thế thôi, thưa cụ !
    Vương Thạch Cốc kể xong, mới chiêu trọn một chung trà.
    - Thế à, câu chuyện quái lạ đấy chứ nhỉ !
    Từ nãy giờ, Uẩn Nam Điền vẫn lặng ngắm ngọn lửa trên giá đuốc
    đồng.
    -Về sau, dường như Vương thị cũng hết lòng thăm hỏi nhiều nơi
    nhưng nếu nói đến Thu Sơn Đồ của Si Ông thì ngoài bức ấy, ngay nhà họ
    Trương chắc cũng chẳng biết gì khác. Do đó, Thu Sơn Đồ mà Yên Khách
    Ông có lần được xem, một là có ai dấu biệt đâu đâu, hai là không gì khác
    hơn một điều lầm lẫn trong trí nhớ của cụ ta thôi. Sự thật thế nào, tôi

    không dám quyết. Có khi việc cụ khăn gói đến nhà họ Trương để tìm xem
    Thu Sơn Đồ cũng chỉ là một câu chuyện hoàn toàn huyễn hoặc ... ... ... ...
    ....
    - Thế nhưng trong tâm trí Yên Khách Ông vẫn ghi khắc rành rành hình
    ảnh bức Thu Sơn Đồ kỳ quái kia chứ hở cụ ? Và trong tâm trí của cụ cũng
    thế phải không ?
    - Màu lục đậm của đá núi và màu son đỏ của rừng phong cho đến bây
    giờ vẫn rõ mồn một trong đầu tôi.
    - Nếu thế thì cho dù Thu Sơn Đồ không có thực chăng nữa, cụ có điều
    gì để tiếc hận đâu nào !
    Đến đây, Uẩn, Vương hai bậc đại gia một lượt vỗ tay, cùng cười ha
    hả.
    (Tháng 12 năm Taishô thứ 9)
     Akutagawa Ryunosuke
    Người dịch : Nguyễn Nam Trân
     
     Chú thích
    (1) - Hoàng Đại Si tức Hoàng Công Vọng (1269-1354) hiệu Nhất
    Phong, họa gia đời Nguyên, nổi tiếng về tranh sơn thủy. Một trong Tứ Đại
    Gia khoảng Tống mạt Nguyên sơ.
    (2) - Vương Thạch Cốc tức Vương Kỳ (1631-1717), họa gia đời
    Thanh, thiện tranh sơn thủy, tập đại thành họa pháp hai phái Nam Bắc
    Tống.
    (3) - Uẩn Nam Điền hay Uẩn Thọ Bình (1633-1690) họa gia đời
    Thanh, sau khi xem tranh sơn thủy của Vương Thạch Cốc thì bỏ sơn thủy
    mà chuyển qua tranh hoa điểu và thành công trong lĩnh vực nầy.

    (4)  - Mai Đạo Nhân Ngô Trấn (1280-1354), họa gia đời Nguyên, có
    công nâng cao kỹ thuật của tranh sơn thủy, mặc trúc, mặc hoa, là một trong
    Tứ Đại Gia cũng như Hoàng Đại Si.
    (5) - Hoàng Hạc Sơn Tiều Vương Mông ( ? ? 1385) họa gia đời
    Nguyên, một trong bốn đại gia, nổi tiếng về hội họa ( sơn thủy) lẫn văn
    chương.
    (6) - Yên Khách Ông Vương Thì Mẫn(1592-1680), họa gia thời Minh
    mạt Thanh sơ. Cuối đời, về ở ẩn và đào tạo đệ tử trong đó có Vương
    Thạch Cốc.
    (7) - Liêm Châu Vương Giám (1598-1677) cũng là họa gia cuối Minh
    đầu Thanh. Đứng ngang hàng với Vương Thì Mẫn, giỏi tranh sơn thủy.
    (8) - Nguyên Tể tiên sinh Đổng Kỳ Xương (1554-1636), hiệu Tư
    Bạch, họa gia thời Minh mạt. Đầu đàn họa phái Nam Tông. Giỏi thi phú.
    (9) - Mã Lương đời Tam Quốc có đôi mày trắng, tài tuấn nhất trong
    năm anh em, tất cả đều là người giỏi (Thục Chí, Mã Lương Truyện).
    (10) - Tây Viên Thư Phòng là thảo am của Yên Khách Ông Vương Thì
    Mẫn, người còn có biệt hiệu là Tây Lư Lão Nhân.
    (11) - Hoành điểm là phép vẽ núi, khe, sương, khói bằng cách chấm
    chấm nhiều điểm theo hàng ngang bên nhau.
    (12) - Cao Phòng Sơn tức Cao Khắc Cung (? - 1310) hoạ gia đời
    Nguyên, hiệu là Tú Sơn, vẽ sơn thủy có tiếng.
    (13) - Lý Doanh Khâu tức Lý Thành ( ?-967), họa gia Đường mạt
    Tống sơ, đại sư về tranh sơn thủy.
    (14) - Thẩm Thạch Điền tự Thẩm Chu (1426-1509), họa gia sơn thủy,
    sống giửa đời Minh, ông tổ của Ngô phái.
    (15) - Công Tôn Đại Nương là người diễn trò dưới đời Đường Huyền
    Tông, múa kiếm cực giỏi. Đổ Phủ từng làm thơ ca ngợi (Quan Công Tôn

    Đại Nương Đệ Tử Vũ Kiếm Khí Hành)
    (16) - Tuấn điểm: thủ pháp chấm phá từ thời Bắc Tống để làm khói
    mây, núi non đất đá trên mặt tranh nổi bật lên cả chiều dày, sinh động như
    thực.

    THÔNG TIN EBOOK
    Tên sách

    Cái mũi
    Nguyên tác

    Shuzanzu
    Tác giả

    Akutagawa Ryunosuke

    Cái mũi
    Nói đến cái lỗ mũi của sư Thiền Trí cả xóm Đuôi Ao không ai là không
    biết. Nó dài hơn một tấc rưỡi, nằm lòng thòng từ trên môi cho đến dưới
    cằm, đầu đuôi đều to như nhau, chẳng khác gì một khúc xúc xích treo lủng
    lẳng trên mặt.
    Từ khi còn là sa-di để chỏm cho đến nay hơn 50 tuổi, đã thành cao tăng
    được chọn vào cung vua giữ việc tu hành mà trong lòng sư lúc nào cũng
    canh cánh một nỗi khổ tâm vì cái lỗ mũi của mình. Dĩ nhiên, ngoài mặt vẫn
    cố làm ra vẻ như chẳng có gì lo nghĩ. Nhưng đó chẳng phải vì mình đã là vị
    sư hết lòng tu hành cho kiếp sau nên lo cho cái lỗ mũi thì hóa ra không hay,
    mà chính vì rất sợ người ta biết tâm trạng mình cứ lo lắng cho cái lỗ mũi.
    Có hai nguyên do khiến sư luôn rầu rĩ về cái lỗ mũi. Thứ nhất là nó dài
    quá, rất bất tiện. Ăn cơm chẳng ăn một mình được. Ăn một mình thì lỗ
    mũi sẽ đụng cơm trong bát mất. Cho nên mỗi khi ăn, sư cho đệ tử ngồi kế
    bên dùng miếng gỗ lớn, bề ngang cỡ 3 phân, dài cỡ 6 tấc để mà nâng cái lỗ
    mũi lên giùm. Việc này thật ra chẳng phải đơn giản đối với sư lẫn đệ tử.
    Mọi người ở Kyoto đều biết chuyện, có lần một người nâng lỗ mũi thay
    cho đệ tử nhà sư bị hắt xì một cái làm rung tay, khiến cho lỗ mũi rớt luôn
    vào bát cháo. Tuy nhiên, đó cũng không phải là lý do chính khiến cho nhà
    sư khổ tâm vì cái lỗ mũi. Mà thật ra nhà sư đau khổ vì cái lỗ mũi đã làm tổn
    thương lòng tự trọng của mình. Dân chúng xóm Đuôi Ao cho rằng với cái
    lỗ mũi như thế, chắc hẳn nhà sư hạnh phúc vì mình không phải là người
    thường. Bởi vì chẳng có cô gái nào chịu làm vợ người có lỗ mũi như vậy.
    Thậm chí có người còn suy luận chắc vì có lỗ mũi như vậy nên sư mới

    xuất gia. Tuy nhiên, nhà sư thì lại chẳng mảy may nghĩ rằng nhờ đi tu mà
    giảm bớt được phần nào nỗi sầu muộn do cái lỗ mũi gây nên. Nhà sư tìm
    đủ cách khôi phục lại lòng tự trọng bị tổn thương, tích cực lẫn tiêu cực.
    Trước hết, nhà sư cố làm sao để cho lỗ mũi thấy ngắn hơn thực tế. Những
    lúc chẳng có ai, sư nhìn vào kiếng, quay qua quay lại đủ kiểu để ngắm. Rồi
    có lúc cảm thấy không yên tâm lắm nếu chỉ có thay đổi vị trí khuôn mặt,
    nhà sư còn tìm nhiều cách khác như chống tay vào má, tỳ ngón tay vào
    cằm,… để ngắm nghía. Thế nhưng chưa lần nào nhà sư thoả mãn là thấy lỗ
    mũi mình ngắn hơn. Thậm chí vì phiền muộn quá, đôi khi ngược lại thấy
    lỗ mũi lại dài hơn. Những lúc đó, nhà sư cất kiếng vào hộp, lặng lẽ thở dài
    rồi miễn cưỡng trở lại bàn tụng kinh Quan Âm.
    Từ đó, nhà sư luôn để ý đến lỗ mũi người khác. Ngôi chùa ở Đuôi Ao
    thường xuyên có thuyết pháp. Trong chùa nhà ở san sát nhau, các vị sư
    luôn nấu nước hàng ngày. Do đó đủ mọi hạng người ra vào chùa từ tăng
    lẫn tục. Sư Thiền Trí kiên nhẫn quan sát khuôn mặt từng người, những
    mong sẽ gặp được ai đó có cái lỗ mũi giống mình để tự an ủi phần nào.
    Con mắt nhà sư chẳng thèm để tâm đến quần áo của mọi người, nhất là mũ
    áo của sư sãi thì đã thường quá, chẳng lọt vào mắt. Tóm lại sư không nhìn
    người mà chỉ nhìn lỗ mũi. Trong số người qua lại, cũng có người mũi quặp
    như mũi két, thế nhưng tuyệt nhiên không ai có mũi giống như của mình.
    Cứ thế, ngày qua ngày, sư lại càng buồn thêm. Chính nỗi buồn miên man
    đó đã khiến cho lúc nói chuyện với người khác sư cứ vô tình rờ vào đầu lỗ
    mũi mà đỏ mặt thẹn thùng thấy chẳng xứng với cái tuổi đã ngoại ngũ tuần.
    Cuối cùng, sư cố tìm trong kinh điển và cả sách vở ngoài đời xem có ai có
    lỗ mũi giống mình không để gọi là đỡ buồn đôi chút. Nhưng không thấy
    kinh điển nào ghi Mục Kiền Liên hay Xá Lợi Phất có lỗ mũi dài cả. Long
    Thọ, Mã Minh cũng là bồ tát có lỗ mũi bình thường. Khi nghe chuyện Lưu

    Huyền Đức của nhà Thục Hán có lỗ tai dài, sư thầm nghĩ phải chi đó không
    phải là lỗ tai mà là lỗ mũi thì đỡ khổ cho mình biết bao nhiêu.
    Không cần phải nói cũng biết rằng ngoài các biện pháp tiêu cực như
    vừa kể, sư còn tích cực tìm cách làm cho mũi ngắn đi. Về mặt này, sư cũng
    đã làm hết cách. Từ nấu trái bình bát để uống cho đến lấy nước đái chuột
    quẹt lên mũi. Nhưng dù làm cách nào đi nữa, cái lỗ mũi vẫn nằm dài lủng
    lẳng trên mặt hơn một tấc rưỡi.
    Thế rồi vào mùa thu năm nọ, có một đệ tử đi lên kinh đô làm công việc
    cho nhà sư đã được một y sĩ quen biết chỉ cách làm cho lỗ mũi ngắn đi. Y
    sĩ đó nguyên là người từ Trung Quốc đến tu ở chùa Trường Lạc. Tuy
    nhiên, sư Thiền Trí cố tình không thử ngay phương pháp đó, giả bộ như
    mọi khi là làm như chẳng quan tâm đến cái lỗ mũi của mình. Mặt khác, mỗi
    khi ăn cơm, sư đều nhẹ nhàng nói rằng thật khổ tâm vì đã làm phiền đệ tử
    quá. Đương nhiên trong lòng thì vẫn chờ đệ tử thuyết phục mình dùng thử
    phương pháp đó. Phía đệ tử cũng chẳng phải không biết tâm trạng của sư.
    Thế nhưng đệ tử không ghét mà còn thương tình khi thấy sư phải cố tình
    làm như thế. Đệ tử bèn đem ba tấc lưỡi ra khuyên sư hãy thử phương pháp
    vừa học được. Thế là cuối cùng sư đã nghe theo lời khuyên nhiệt tình của
    đệ tử. Phương pháp này thật ra vô cùng đơn giản: dùng nước nóng trần lỗ
    mũi rồi cho người đạp lên. Nước nóng thì đã có sẵn, hàng ngày vẫn được
    đun trong bếp. Vị đệ tử bèn đi vào bếp lấy chậu nước nóng mang ra. Nước
    nóng đến nổi không thể cho ngón tay vào được. Do đó, nếu cho lỗ mũi
    thẳng vào trong nước này thì không khéo hơi nóng bốc lên sẽ làm phỏng
    mặt. Vị đệ tử bèn lấy nắp đục lỗ đậy lên chậu rồi đút lỗ mũi sư vào chậu
    qua cái lỗ đó. Chỉ cho lỗ mũi vào chậu nước nóng như thế thì sẽ chẳng thấy
    nóng. Được một lúc vị đệ tử lên tiếng:
    -Chắc là đã trần xong rồi?

    Sư cười đau khổ nghĩ rằng nếu ai có nghe hỏi như thế thì cũng chẳng
    làm sao biết được đó là câu chuyện cái lỗ mũi. Lỗ mũi hấp trong nước
    nóng cảm giác rất nhột nhạt giống như bị rận cắn. Sư nhấc lỗ mũi còn ngút
    khói ra khỏi chậu nước nóng để lên sàn cho đệ tử co hai chân đạp lên. Sư
    nằm nhìn cặp chân đệ tử co lên đạp xuống ngay trước mắt mình. Vị đệ tử
    nhìn xuống cái đầu hói của nhà sư, thỉnh thoảng thoáng vẻ tội nghiệp hỏi:
    -Thầy có đau lắm không? Y sĩ bảo là đạp cho mạnh. Chắc là đau lắm
    phải không? Sư định lắc đầu ra dấu không đau. Thế nhưng lỗ mũi bị đạp
    nên cái cổ chẳng nhút nhích được. Sư bèn nhướng mắt lên nhìn cái chân
    nứt nẻ của đệ tử vừa trả lời như giận dữ:
    -Chẳng có đau.
    Thật ra lỗ mũi ngứa mà được đạp như thế thì thay vì đau, nó lại có cảm
    giác dễ chịu hơn. Đạp một lúc thì xung quanh lỗ mũi xuất hiện những đốm
    như hạt kê, trông giống như con chim bị vặt lông mà quay. Thấy thế, đệ tử
    thôi đạp, lẩm bẩm như thầm nói với mình:
    -Y sĩ biểu dùng cây nhíp để vặt bỏ.
    Sư bèn phùng má lên như có vẻ không bằng lòng, để mặc cho đệ tử
    muốn làm gì thì làm. Không phải là không biết đệ tử tử tế với mình nhưng
    sư không vui khi thấy lỗ mũi mình bị xem như một thứ đồ vật. Gương mặt
    sư giống như bịnh nhân không tin tưởng bác sĩ mà phải chịu giải phẫu, bất
    đắc dĩ ngắm nhìn đệ tử dùng chiếc nhíp vặt lấy các mụt mỡ ở lỗ chân lông
    trên mũi. Mụt mỡ vặt ra dài hơn một phân, giống như cộng lông chim.
    Một lúc xong, đệ tử nói như thở phào nhẹ nhõm:
    -Trần thêm một lần nữa mới được.
    Gương mặt sư vẫn lộ vẻ bất mãn, mặc cho đệ tử muốn làm gì thì làm.
    Trần xong lần nữa lấy ra thì thấy lỗ mũi đã ngắn lại hơn mọi khi. Thế này
    thì chẳng khác gì lỗ mũi quặp vẫn thấy. Sư Thiền Trí vừa vuốt mũi vừa đưa

    mắt bẽn lẽn nhìn vào kính do đệ tử mang tới với vẻ ngượng ngùng. Lỗ mũi,
    cái lỗ mũi dài tận dưới cằm trước kia giờ đây đã rút ngắn lại như chuyện
    không tưởng, chỉ còn hơi cao hơn môi trên một chút. Những đốm đỏ rải
    rác trên mũi có lẽ là dấu vết do bị đạp mà ra. Thế này thì chắc chắn không
    còn ai cười nữa. Gương mặt trong kính của sư nhìn gương mặt bên ngoài
    kính mà nháy mắt cười như mãn nguyện. Tuy nhiên, đó mới là hôm đầu
    tiên thôi, sư vẫn còn lo âu không biết lỗ mũi có dài ra lại không. Cho nên
    dù tụng kinh hay ăn uống, mỗi khi có chút rảnh rổi là sư đưa tay lên rờ lỗ
    mũi thăm chừng. Nhưng lỗ mũi vẫn ngoan ngoãn nằm phía trên môi, hoàn
    toàn không có vẻ gì dài ra. Từ đó, mỗi lần ngủ dậy, điều đầu tiên là sư đưa
    tay lên rờ lỗ mũi. Nó vẫn ngắn. Thế là lòng sư thanh thản như đã t...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML