CHÀO XUÂN MỚI
Tuyển Tập Văn Xuôi - Mạnh Phú Tư

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:04' 26-04-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:04' 26-04-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
MẠNH PHÚ TƯ
NHẠT TÌNH
Tiểu thuyết
NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. Hồ CHÍ MINH
Năm xuất bản: 2002
Nguồn pdf scan: yen0985
Chuyển text: CaruriTlkd
LỜI NÓI ĐẦU
Trước nay, qua Làm lẽ, Nhạt tình, Gây dựng, Sống nhờ... xuất bản trước 1945 và
Cách Mạng nhà quê, Rãnh cày nổi dậy viết trong thời kỳ Cách mạng tháng tám, ai nấy
đều công nhận Mạnh Phú Tư là một cây bút hiện thực đặc sắc.
So với các cây bút hiện thực nổi tiếng khác, Mạnh Phú Tư có địa hạt riêng và nhất là
một phương pháp riêng. Nguyễn Công Hoan sở trường về những mảnh sống trào lộng.
Vũ Trọng Phụng thiên về những ung nhọt xã hội. Ngô Tất Tố tìm những bóng tối của
cuộc đời. Nguyên Hồng quen với thế giới của bọn tội lỗi. Chỗ đứng để nhìn của Mạnh
Phú Tư gần với Nam Cao hơn - không phải Nam Cao của Chí Phèo vì Chí Phèo dù
sao cũng là một hiện tượng đặc biệt, Nam Cao của Sống mòn, của những cuộc đời
bình thường hàng ngày.
Mạnh Phú Tư không tìm những đề tài, những cốt truyện kỳ dị, ghê gớm, khốc liệt gay
cấn. Nhà văn dường như chẳng cần thám hiểm, săn tìm gì cả. Ông lấy ngay những sự
việc mà ai cũng biết; cũng có thể đã chứng kiến. Ông không dắt độc giả đi du lịch đâu
xa, đến những nơi bí mật kỳ lạ nào hết, mà ông đưa họ đi chơi trong cuộc sống chung
quanh họ, ngay ở đường phố của họ, ngay trong nhà của họ không chừng. Và cuộc đi
chơi ấy không buồn tẻ, chán phèo mà đầy hứng thú. Là vì người ta thường ít chịu quan
sát kỹ cuộc sống, cũng biết nó có chuyện này chuyện nọ, nhưng vì chỉ nhìn qua loa,
không xem xét kỹ, không mổ xẻ để tìm hiểu chiều sâu thẳm của nó, cho nên chỉ hiểu
biết chung chung, không thấy gì đáng chú ý cả. Kịp đến khi Mạnh Phú Tư nhặt một
mảnh đời rất bình thường ấy đặt dưới “Kính lúp nghệ thuật” cho xem, ta mới giật
mình thấy cả một thế giới phức tạp không đơn giản như ta tưởng.
Trong tiểu thuyết, cốt truyện giữ vai trò quan trọng. Tác giả thường gia công xây dựng
cốt truyện để tạo một sức cuốn hút mạnh. Tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư thì lại dường
như ít cần xây dựng cốt truyện. Dường như tác giả khoanh nguyên một quãng đời và
cứ thế đưa vào tiểu thuyết, không sắp xếp, đạo diễn gì hết. Các sự việc cứ tự nhiên
diễn ra như nó phải diễn ra. Tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư không có những ngoắt
ngoéo, những bất ngờ, những thủ thuật tâm lý đối với độc giả..., lối văn cũng đều đều
bình dị không có những từ ngữ, những cách đặt câu gây ấn tượng. Vậy mà, đã mở một
cuốn tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư, độc giả khó lòng mà gấp nó lại nếu chưa đọc hết.
Ấy là vì sự quan sát rất kỹ, sự phân tích rất sâu, sự trình bày rất cặn kẽ của tác giả.
Câu chuyện của Nhạt tình là một truyện rất thông thường trong xã hội thời Pháp
thuộc, thông thường đến mức chẳng ai cần chú ý. Một ông phán mê người vợ lẽ cô đầu
hắt hủi ruồng bỏ vợ cả. Vợ cả phải đưa con về ở với mẹ, mẹ con làm ăn khổ sở nuôi
nhau. Cô gái đầu vất vả quá lăn ra chết. Người con trai thứ hai vừa đi làm kiếm ăn
vừa cố gắng học và thi đỗ thông phán. Cốt truyện có thể gọi là “nhạt phèo” như thế
thôi. Nhưng Mạnh Phú Tư đã miêu tả thật trúng tủ một anh công chức hiền lành vì mê
gái trở nên vũ phu như thế nào, sự điêu toa, gian manh của bọn cô đầu tranh chồng
cướp của và về phía bên kia, người vợ hiền thục nhẫn nhục, người con gái hiếu hạnh
nết na, người con trai ngoan ngoãn đức độ, người vú già thật thà trung hậu, người bạn
gái tốt bụng, những tính cách đậm đà bản sắc dân tộc mà độc giả vừa thương vừa
phục.
Mạnh Phú Tư cho ta chứng kiến một cảnh đời công chức “thường thường bậc trung”
thời Pháp thuộc, nó lặng lẽ, cạn hẹp như vũng ao tù, nhưng lội xuống ta sẽ thấy bao
nhiêu chuyện: trong vũng nước đục bùn ấy có bao nhiêu sinh vật đang nỗ lực sống,
bao nhiêu số phận đáng thương. Qua một gia đình, người ta nghĩ đến hàng vạn gia
đình tương tự...
Thời kỳ trước 1945, được tiếp xúc với văn hóa phương Tây người ta đã công kích kịch
liệt chế độ gia đình Việt Nam. Sau 1945, gia đình lại bị lên án vì đồng bọn với chế độ
phong kiến. Đối với những người bênh vực những cái hay của gia đình Việt Nam,
người ta đánh giá là bảo thủ. Những ai là nạn nhân mà không vùng lên đập phá, chối
bỏ gia đình, người ta coi là khiếp nhược, nô lệ. Những sự quá khích ấy đang được xem
lại. Gia đình Việt Nam có những cái không hợp thời, nhưng cũng có nhiều truyền
thống tốt đẹp phải duy trì. Những người đã thành nạn nhân của chế độ gia đình như
bà Sinh, cô Huệ, anh Tài - không có những hành động như cô Loan (Đoạn Tuyệt) cô
Tuyết (Đời mưa gió). Nhưng cô Loan, cô Tuyết gặt hái được những kết quả gì cho xã
hội, cho bản thân? Bà Sinh, Huệ, Tài cũng có cách tự giải phóng cho cái gia đình trở
thành cái hầm tối đối với họ. Bằng lao động, bằng sự giữ gìn nhân phẩm, họ đã tự
cứu, đã tìm được con đường sống mà sự đổ vỡ vô ích không xảy ra, như thế chẳng hay
hơn sao?
Nhạt tình là cuốn sách đáng đọc.
Giáo sư HOÀNG NHƯ MAI
Mặn tình cát lũy nhạt tình tao khang.
NGUYỄN DU
PHẦN THỨ NHẤT
Tài ngáp hai ba cái liền rồi hỏi mẹ:
- Sao mãi không thấy cậu về mợ nhỉ...?
Bà Sinh vẻ mặt buồn buồn bảo con:
- Nào tao biết đâu với cậu mày!
Câu nói vừa dứt, bà thở dài rồi tự bảo: “Nghĩ mà thêm chán. Nhà với cửa, chẳng còn ra
sao cả!”
Tài thoảng nghe thấy câu nói của mẹ. Tuy cậu còn nhỏ - cậu mới lên bảy - nhưng cậu
đã mang máng hiểu rằng câu hỏi của mình đã làm mẹ phải suy nghĩ, buồn nản. Cậu
hơi hối hận. Như muốn cho mẹ khỏi phải nghĩ ngợi lan man, cậu đã thông minh tìm
cách lảng sang chuyện khác. Cậu âu yếm bá vai mẹ rồi khoe lấy khoe để: Mợ ạ, hôm
nay con làm tính đúng cả, thầy giáo cho “dix”. Bà Sinh không hiểu “dix” là thế nào,
nhưng thấy con có vẻ ngộ nghĩnh cũng khen con:
- Gớm nhỉ! Con tôi giỏi quá!
Tài thấy mẹ như đã bớt vẻ buồn, mừng rỡ nhảy nhót trên sập liến thoắng đọc một bài
thơ mới học ở nhà trường:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Bà Sinh nhìn con, nhưng không nói gì, cứ để mặc con đọc tiếp:
Một lòng thờ mẹ kính cha.
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Đến đó, thấy con ngừng, bà chắc con đã quên những câu sau bèn hỏi:
- Rồi làm sao nữa?
- Thưa mợ hết ạ.
- Người ta dạy rằng “một lòng thờ mẹ kính cha” thế Tài có kính cậu và mợ không?
Tài lại ôm chặt lấy cổ mẹ
- Có, con yêu cậu mợ lắm... Nhưng con yêu mợ hơn.
- Tại sao thế?
- Vì cậu cứ hay đi chơi cả đêm để mợ phải chờ.
Câu nói chất phác của Tài lại làm bà nghĩ lan man. Cái ngộ nghĩnh đượm vẻ vô tư lự ở
cái tuổi thơ ấu của con giai như phản tượng với tâm hồn buồn rầu của bà lúc đó.
Tài lại ngáp. Bà giục con đi ngủ vì đã hơn mười giờ đêm. Tài lại nhảy nhót trên
giường:
- Con chưa buồn ngủ. Con hãy còn tỉnh táo thế này cơ mà!
Nói xong, Tài nhảy mạnh hơn như để tỏ cho mẹ biết rõ rằng mình chưa buồn ngủ.
Giữa lúc đó, Huệ, chị Tài ở trong buồng đi ra, giục em: “Chị buông màn cho Tài rồi
đấy. Vào mà ngủ. Mười giờ hơn rồi còn gì! Học vệ sinh thì bảo không nên thức khuya
mà bây giờ hãy còn nô nghịch mãi!”
Nghe lời chị, Tài rón rén từ trên giường bước xuống, rồi vào buồng trong đi ngủ. Huệ
xếp mấy chiếc chén và khay trầu để trên giường, ngay chỗ mẹ ngồi, vào góc một chiếc
bàn kê gần đó rồi bảo mẹ:
- Mợ hãy đứng xuống đất một tý, để con buông màn cho mợ ngủ.
Bà Sinh vẫn cứ ngồi yên chỗ cũ, thở dài:
- Thôi được, mày cứ đi ngủ trước đi. Bao giờ tao ngủ tao buông màn lấy cũng được.
Huệ biết ngay rằng mẹ lại cố thức để chờ cha mình. Nhìn thấy cái vẻ mặt gầy còm,
buồn nản của mẹ, nàng bỗng đem lòng thương mẹ và có chút ác cảm với cha. Nàng hơi
xẵng tiếng nói với mẹ:
- Mợ lẩn thẩn quá! Biết bao giờ cậu về mà chờ mới được chứ! Chẳng làm gì mà tối
nào mợ cũng thức đến một hai giờ đêm cho gầy cả người đi!
Trong lời trách móc đó, bà Sinh cảm thấy rõ tình thương của con đối với mình hơn là
sự vô lễ, nên bà không những chẳng hề mắng con mà lại còn ra ý nể nang. Bà khẽ bảo
con: “Mày cứ nói thế chứ! Hôm nào thì tao cũng thức đến chừng hơn mười một giờ là
cùng!”
- Thì mới đêm hôm qua chứ lâu la gì! Con nghe thấy rõ ràng đồng hồ đánh một giờ mà
mợ vẫn còn ngồi ở góc giường này - Nàng đưa tay trỏ một góc giường rồi lại nói tiếp:
- Con thấy mợ mệt quá, hết tựa lưng vào tường lại nắm tay đấm lưng bình bịch.
Thấy con nói đúng sự thực quá, bà Sinh lẳng lặng, Huệ lại giục mẹ đứng dậy để nàng
buông màn. Bà đành chiều ý con. Bà vừa đặt chân xuống đất vừa nói:
- Lúc mà đã không ngủ được thì mày nhốt tao vào trong lồng tao cũng không ngủ được
nữa là trong màn.
- Mợ cứ nghe con, tắt đèn rồi đi vào giường nằm là dần dần sẽ ngủ đi được.
Nàng nhanh nhẹn dắt diềm màn xuống dưới chiếu, rồi lấy gối bỏ trong giường. Nàng
sai vú già thắp ngọn đèn dầu con để vào một góc bàn rồi nàng tắt đèn điện vào buồng
trong đi ngủ. Sắp bước chân lên giường nàng còn giục mẹ:
- Mợ đi ngủ đi.
Thấy con cứ giục giã mãi, bà phát gắt nói to:
- Thì mày cứ mặc tao, việc gì mà phải rối lên thế! Ai khiến mày. Có dễ ai cũng dễ ăn
dễ ngủ như mày được hay sao?
Câu nói cuối cùng như để thổ lộ cái buồn chán, nỗi lo nghĩ trong lòng bà hơn là để
mắng lại con.
Đã mấy tháng nay, rất ít khi chồng bà ở lại nhà. Ngày nào cũng vậy, bữa cơm chiều
xong, ông lại quần áo ra đi. Thường thường vào quãng một hai giờ đêm mới về. Có khi
đi suốt đêm, rồi sáng sau đi thẳng ngay tới sở cho tới trưa mới lại trở về ăn cơm. Bà có
hỏi han vì lẽ gì, ông chỉ nói là đi xem chiếu bóng hoặc đánh tổ tôm tại nhà một người
bạn.
Cái lối vắng nhà đó từ trước tới nay chưa hề có. Bà đem lòng suy nghĩ. Mới đầu bà
cũng tin lời chồng. Nhưng dần dần bà nghiệm thấy rằng không phải là đi xem chiếu
bóng hoặc đánh tổ tôm. Bà nghĩ:
- Có thực như thế, thì mỗi tháng chỉ độ một hai lần thôi chứ! Sao lại tuần lễ bảy ngày
thì tới bốn, năm ngày vắng nhà.
Từ đó bà đem lòng ngờ vực là chồng đã dan díu với một người nào. Bà ra công dò xét.
Đã mấy lần, chờ cho chồng ra đi được một lúc bà lẽo đẽo theo sau ngay, cố trốn lẩn để
chồng không nhìn thấy rồi dò la cho dễ. Lần thứ nhất, bà thấy chồng vào nhà một
người bạn. Bà ngồi ở một hàng xén gần ngay đó. Bà chờ mãi không thấy chồng ra, bà
tin ngay là đã thành bàn tổ tôm. Bà yên lòng ra về. Lần thứ hai bà đi theo cũng lại thấy
chồng vào nhà quen. Sau hai lần đó, bà tin rằng chồng bà chỉ mê man bài bạc thôi. Cái
mê hám đó tuy không làm hài lòng bà nhưng đã khiến bà bớt được sự lo lắng rằng
chồng bà đã đa mang thêm vợ con riêng. Một hai lần bà gặp chồng đi chơi quanh
ngoài phố với ông Tùng. Bà bớt hẳn lo nghĩ, vì bà biết ông Tùng là người cùng làm
một sở với chồng mà lại đứng đắn không chơi bời. Bà đã quen thân với ông vì cái nhà
bà đang ở là thuê của ông và tháng tháng ông vẫn tới thu tiền.
Song bà Sinh cũng chỉ bớt lo được một dạo bởi lẽ ông Sinh cứ đi chơi tối luôn luôn...
Sự ngờ vực lại trở lại trí óc bà; nhất là bà mới được một người quen kể chuyện rằng
ông chỉ tới đó chơi cho đến chừng mười giờ thôi, rồi lại đi chơi chỗ khác và không khi
nào ngủ lại nhà người đó. Bà lại bắt đầu dò xét, nhưng cũng chẳng có hiệu quả gì.
Chẳng lẽ bà lại đi hỏi dò từng nhà quen xem chồng bà có lại đó chơi không và tới vào
giờ nào rồi ra về vào lúc nào. Tuy có giận chồng thực nhưng lòng tự trọng đã can ngăn
bà hạ mình làm việc đó. Đêm nay chẳng biết là đêm thứ mấy mươi bà thui thủi ngồi
một mình bên ngọn đèn hoa kỳ để chờ chồng. Bà muốn rằng chồng sẽ biết đến lòng
tận tâm của bà và nhất là sự ngóng trông của bà trong đêm khuya rồi đem lòng thương
đến bà mà tự sửa, sống lại cuộc đời cũ. Bà cũng muốn chờ đợi như thế để hòng có dịp
rồi khuyên ngăn chồng. Nhưng đã bao lâu, bà uổng công chờ đợi các dịp đó. Bà ngồi
chờ chán buồn ngủ rồi đi ngủ. Chẳng hề thấy bóng chồng về. Hoặc chồng có về thì vừa
mới đặt chân vào tới nhà đã mắng át ngay bà:
- Sao không đi ngủ, lại cứ chờ đợi người ta làm gì!
Không để bà nói xen một câu, ông nói dồn ngay:
- Vui chúng vui bạn thì đánh dăm ba hội tổ tôm chứ ai đi ăn trộm ăn cướp gì mà phải
đợi với chờ rồi lại than thân là khổ với sở.
Bà nhớ rõ rằng lần nào chồng bà cũng có những câu nói như vậy, hay gần giống như
vậy và lần nào chồng bà cũng có cái bộ dạng cau có, làm bà rất khó chịu. Cứ nghĩ rằng
cố chịu thức suốt đêm để mở cửa cho chồng mà lại bị chồng gắt gỏng ra vẻ hắt hủi như
vậy, bà đã thấy trong lòng uất ức đến cực điểm. Rồi lại những tiếng nói lãnh đạm mà
bà thấy chồng thường dùng ít lâu nay như tiếng “ai” hay “người ta”, lại càng khiến bà
bực tức, luôn luôn phải suy nghĩ. Trước sự thay đổi về cách cư xử của chồng đối với
mình, bà chỉ biết thở dài, giữ kín nỗi buồn riêng trong lòng. Thỉnh thoảng Huệ có dò la
hỏi bà xem có chuyện gì, bà chỉ buồn buồn bảo con:
- Chuyện gì! Hình như cậu mày có vợ lẽ giấu giếm ở đâu chứ còn chuyện gì?
Đồng hồ thong thả đánh mười hai tiếng. Các đồng hồ của những nhà gần đấy cũng liên
tiếp nhau đánh chuông. Mỗi cái có một thứ tiếng riêng. Có khi len lẫn nhau có khi tách
hẳn. Trong đêm khuya yên lặng bà nghe rõ thấy tiếng đó vang ra mồn một. Tất cả nhà
đã ngủ. Tiếng ngáy đều đều của Tài từ trong buồng đưa ra yếu ớt như một thứ tiếng từ
xa lại, bị luồng gió đánh bạt. Chỉ có những tiếng tíc tắc của chiếc đồng hồ treo trong
góc tường là rõ rệt, bật hẳn lên.
Bà Sinh đã thấy người mỏi mệt, xương sống nhức và hai vai nặng trĩu. Bà ngáp mấy
cái liền, dựa lưng vào thành ghế, nhưng vẫn còn thấy mỏi. Bà chắc rằng hôm nay cũng
như đêm qua chồng bà chẳng về, có cố thức ngồi chờ cũng vô ích, bà mở màn vào
giường.
Nằm thẳng người, gối đầu trên chiếc gối bông bà thấy gân cốt như nở giãn. Một cảm
giác rất dễ chịu khiến bà không còn thấy mệt nhọc nữa. Bà tưởng rằng đặt mình xuống
giường, tất sẽ ngủ ngay được. Nhưng bà vẫn còn trằn trọc mãi. Và bà lại liên miên
nghĩ ngợi. Bà nghĩ đến những điều bà đã thường nghĩ tới trong ban ngày. Và ít lâu nay,
bà chỉ quanh quẩn ra vào thơ thẩn như người không hồn. Mọi công việc bà bỏ mặc
người vú già và Huệ; bà chẳng hề muốn trông nom tới. Cái buồn nản luôn luôn gặm
nhấm trí óc, cõi lòng bà, khiến bà không còn thiết tha đến một điều gì. Cả đến Tài mà
bà vẫn thường nâng niu âu yếm nay bà cũng như quên hẳn đi, coi như không có đứa
con giai đó. Bà chỉ quan tâm đến một người: chồng bà. Vì bà đã hiểu rằng nếu người
làm trụ cột đó trong gia đình mà thành ra chơi bời, rồi vợ nọ con kia thì cả nhà sẽ sa
vào cái cảnh khổ sở thương tâm. Đã bao nhiêu gia đình, vì người cha ham mê ngườỉ
vợ lẽ rồi ruồng bỏ vợ cả, ruồng bỏ cả đàn con phải lâm vào những cảnh đau thương.
Bà đã được biết những người đó, bà thương họ và bà lại ghê sợ cho chính bà. Bà nơm
nớp sợ rằng sau này bà sẽ không tránh được cái khổ đó. Bà lo cho chính bà thì ít, bà lo
cho hai đứa con bà thì nhiều. Bà thường tự bảo: “Con gái thì phải tìm cách gả chồng,
mà con giai thì phải lo liệu cho nó ăn học, còn thi cử rồi cũng phải kiếm vợ cho nó.
Bỗng dưng mà tay không ra đứng đường thì rồi lấy gì mà lo liệu cho chúng nó!”
Cái ý nghĩ ấy đã làm bà buồn phiền mất ăn mất ngủ. Và bao giờ nó tới óc bà, bà lại thì
thầm cầu nguyện: “Lạy trời, lạy phật, đừng có để mẹ con tôi phải đến cái đận ấy”. Cứ
mỗi lần bà thốt ra lời cầu nguyện đó, bà lại tin rằng không lẽ nào bà lại sẽ phải sống
khổ sở, và không có lý nào chồng bà lại ruồng bỏ bà được. Từ trước đến nay, trong gia
đình, bà vẫn giữ địa vị một người vợ hiền, và một người mẹ tận tâm. Càng đi ngược lại
những ngày đã qua bà lại tự hiểu rằng mình không hề có điều gì đáng tự trách. Bà
chẳng dám khoe là giỏi giang hơn mọi người đàn bà, nhưng cứ so sánh kỹ càng, bà
còn hơn nhiều người đàn bà khác, việc nhà bỏ bừa bỏ bãi, không hề chăm nom gì tới.
Bà đi lấy chồng từ năm mười tám tuổi. Và bắt đầu từ cái tuổi đó cho tới năm hai mươi
bốn, ròng rã sáu năm trời bà đã phải chịu không biết bao nỗi khó nhọc; bởi lẽ gia đình
chồng bà không được dồi dào đồng tiền cho lắm. Ở vào cái thời còn là con gái, bà
cũng có nhan sắc. Mấy ông phán, ông tham và nhiều gia đình giàu có trong tỉnh muốn
hỏi. Nhưng người mẹ sợ rằng gả vào những chỗ chức tước, nhiều tiền của rồi người ta
sẽ khinh nghèo mà hành hạ con gái chăng. Vì vậy mẹ bà đã gả bà cho một nơi quen,
cùng tỉnh cùng nghèo như gia đình bà. Sự không chênh lệch ấy, mẹ bà tin rằng sẽ có
lợi cho cặp vợ chồng. Khi bà bước chân về nhà chồng thì chồng mới thi đỗ sơ học
Pháp Việt và vào trường Bưởi theo học. Chồng bà mồ côi cha ngay từ thuở nhỏ nên cả
nhà chỉ quanh quẩn có một đứa ở, người mẹ chồng với bà. Khi mới lấy nhau thì còn ở
Kiến An, mọi món tiền chi tiêu trong nhà và tiền học của chồng đều trông mong vào
cái cửa hàng xén khá to dọn ngay ở một phố lớn nhất trong tỉnh. Được gần một năm
sau công việc buôn bán ở Kiến An không được phát đạt, người mẹ chồng bèn thu xếp
về quê ở để trông nom gần chục mẫu ruộng đã tậu được trong thời kỳ buôn bán có lãi
nhiều. Hoa lợi của mấy mẫu ruộng không đủ chi tiêu trong nhà và không đủ cho chồng
bà ăn học, bà lại phải xoay cách cân gạo bán cho khách buôn. Vì quê bà về ở là một
huyện lỵ nhỏ, huyện Kim Thành cách ga xe lửa có hơn hai cây số nên công việc cân
gạo cũng dễ dàng. Thường thường một tháng ba hay bốn kỳ bà tải gạo đi Hải Dương
hoặc Hải Phòng bán tại bến chợ Sắt. Nhờ sự siêng năng, tháo vát và nhất là cái đức
tính tằn tiện của bà, trong nhà cũng bớt túng bấn. Năm chồng bà lên học năm thứ hai
thì người mẹ chồng mất. Một mình bà phải cáng đáng lo liệu mọi việc ma chay cho
được yên ổn. Cách đó mấy tháng thì bà đẻ Huệ. Thế là trơ trọi chỉ có một mình bà phải
vật lộn lo liệu đủ mọi cái để nuôi con trong nhà và nuôi chồng ăn học cho tới lúc thi ra.
Chồng bà cũng có mấy người anh họ giàu và đã đi làm có lương cao, có thể giúp được
bà trong lúc thiếu quẫn đó; nhưng bà không muốn phiền lụy đến một người nào. Và
những người ấy đối với chồng bà cũng ra vẻ lãnh đạm, gần như muốn xa lánh nên bà
đã không muốn nối tình thân thiện. Thực là những năm khó nhọc mà có lẽ không bao
giờ bà quên được. Bà bắt đầu được an nhàn đôi chút từ năm chồng thi đỗ Thành
Chung rồi vào làm Tòa Sứ. Mới đầu bổ về Phúc Yên. Bà thu xếp công việc nhà rồi
cùng con gái đi theo chồng, ở Phúc Yên mấy năm thì phải đi Sơn Tây chừng ba bốn
năm cho đến bây giờ đổi về Nam Định đã được hơn hai năm.
Từ ngày chồng đi làm là bắt đầu những ngày êm ấm của bà. Cái cảnh chồng một vợ
một không có chú, bác, cô, dì nào dính dáng tới để xảy ra chuyện này, chuyện khác
không hay cho gia đình đã nhiều lần khiến bà sung sướng, thầm ơn mẹ đã không tham
lam những nơi giàu sang để gán gả mình, mà chỉ cầu lấy sự thân yêu lẫn nhau. Đôi vợ
chồng đã cùng qua những ngày túng thiếu nên khi nhàn hạ càng thương yêu nhau hơn.
Thực không còn cảnh gia đình nào đầm ấm hơn nữa. Ngày ngày người chồng đi làm,
bà ở nhà trông nom, thu vén việc nhà và săn sóc đến con cái. Ngày hai buổi đi làm về,
chồng bà chỉ quanh quẩn trong nhà, xem báo, hoặc bàn bạc về các việc chi tiêu trong
nhà để cố tằn tiện số tiền lương hàng tháng. Cái cảnh sống êm đềm, đầy thân yêu đó đã
có ngay từ khi chồng bà mới được bổ đi làm. Cảnh gia đình lại vui sướng thêm khi bà
đẻ Tài. Cả ngày bà thấy chồng nô giỡn với đứa con giai, không còn muốn rời nó ra.
Trước sự vui vẻ đó mà nghĩ đến những ngày vất vả đã qua, bà cũng thấy ấm áp cõi
lòng, bà thấy cả thân thể như rung động bởi một nguồn vui sống, hăng hái. Thực
không khác một kẻ đang ở một nơi ẩm thấp, giá rét được vùng vẫy ở một nơi khoáng
đạt đầy ánh nắng dịu.
Nhớ lại cái thời qua đó và so sánh với cái cảnh chơi bời đi suốt đêm của chồng trong
mấy tháng nay, bà Sinh lại càng lo sợ, buồn rầu. Bà cố suy nghĩ để tìm được mưu kế
mà khuyên răn chồng trở lại con đường cũ. Và suy nghĩ mãi bà vẫn chỉ thấy có hai
cách: Một là ngọt, hai là xẵng, rồi “làm cho ra chuyện, muốn sao thì sao”. Chỉ có thế.
Không cách nọ tất phải dùng cách kia. Càng suy nghĩ bà càng thấy rõ rằng bất cứ bằng
cách nào, rồi câu chuyện cũng cần phải “cho vỡ lẽ”, chứ bà không muốn sống trong sự
mập mờ mãi như thế này được.
Đồng hồ đánh một giờ. Bà cố lắng tai nghe. Ngoài cửa vẫn không có một tiếng động.
Chắc hẳn rằng chồng bà đêm nay lại không về. Bà thở dài:
- Hai đêm liền!
Bà lại suy nghĩ lan man, dần dần người mệt lả rồi bà ngủ thiếp lúc nào không rõ.
Ông Sinh đã thoát. Ông vẫn không quên rằng vợ mình vẫn tìm cách dò la, nên bao giờ
cũng vậy, trước khi tới nhà người vợ lẽ, ông hay dùng cái lối rẽ qua vào nhà một người
bạn hay một người nào quen uống nước, nói chuyện có khi mất tới hai, ba giờ ông mới
ra đi. Nếu chẳng dùng cái mưu kế đó thì ông lại lang thang qua hết phố này sang phố
khác rồi mới đến chỗ nhà riêng. Ông đã biết được rằng vợ ông vẫn dò la, vì một buổi
tối bất ngờ ông đã nhìn thấy người vợ theo sau: Ông vừa qua một cửa hàng xén, bày
bừa bộn những hàng mới sang: nào giây lưng da, nào mùi-xoa và cà-vạt mới, đủ các
màu. Ông dừng lại nhìn và trong khi quay trước, quay sau, ông nhác thấy bà Sinh vừa
dừng chân ở đầu phố, có lẽ vì đã nhìn thấy ông đứng lại. Từ ngày đó, ông bắt đầu giữ
gìn để vợ không biết được đường lối và cũng để nói dối vợ cho dễ, mỗi khi bà hỏi han
câu nọ câu kia.
Ông đã đi thoát. Vừa tới nơi, mở cửa bước vào, ông đã thấy Nga ăn mặc chỉnh tề, kem
phấn hẳn hoi ngồi chờ ở phòng khách. Nàng đon đả chạy ra, cười cười nói nói, bá vai
ông Sinh rồi cố lấy giọng giọt ngào:
- Em chờ anh mãi.
Trả lời câu nói đó, ông Sinh chỉ mỉm cười rồi ôm chặt đầu Nga trên ngực, hôn liền hai
cái. Mùi thơm của nước hoa và phấn làm ông thấy rộn rực trong người bởi những cảm
xúc mới lạ. Cửa ngoài đã đóng chặt. Nga rót một chén nước to đặt trên bàn và cất tiếng
mời:
- Anh uống nước.
Nàng lại vừa cười vừa nhìn chồng nói thêm:
- Nước chè mạn ướp sen, em gửi mua tận Phú Thọ về cơ đấy.
Ông Sinh vui mừng, nâng chén nước uống một hớp to và tấm tắc khen:
- Ngon thật! Kể ra mình cũng sành ăn, sành uống đấy!
Nga lộ ra vẻ sung sướng trên nét mặt. Hai người cùng đắc chí, lẳng lơ nhìn nhau. Nga
vào nhà trong mang bộ pỵjama cho chồng thay rồi cả đôi đưa nhau vào trong buồng
nằm trên một chiếc giường tây kiểu mới; người nọ gối lên cánh tay người kia thì thầm
nói chuyện. Tiếng cười len tiếng nói. Sự vui vẻ, đầm ấm như bao phủ cả người và vật
trong gian phòng.
Có hôm ông Sinh ở lại đấy cho tới một hai giờ đêm rồi ra về, cũng có hôm ông ở hẳn
lại cho hết đêm. Đó là khi mới bắt đầu gian díu với Nga. Ít lâu nay, thường thường ông
ngủ hẳn lại đấy rồi sáng sau đi làm ngay. Cái bầu không khí trong gian nhà của Nga
đối với ông có vẻ thân mật, đáng yêu hơn là nhà chính của ông. Mọi cái đều như lưu
luyến một cách thầm kín. Không những thế, gần Nga ông thấy cái xuân tươi quyến rũ,
trái hẳn người vợ cũ của ông. Hình như Nga cũng hiểu như vậy nên nàng lại càng cố
tìm đủ hết cách trang hoàng gian nhà cho ra vẻ sang trọng; và không bao giờ nàng
quên rằng khéo trang điểm, phấn sáp thì vẫn dễ lấy được lòng chồng. Bởi thế mà cứ
bữa cơm chiều xong là nàng chải đầu, tỉ mỉ lật từng sợi tóc, rẽ cái đường ngôi cho thực
thẳng rồi xoa một lớp phấn thực mịn. Nàng chăm chú nhất tới đôi má hồng. Chả thế
mà đã mấy lần chồng phải khen nàng là hai má tươi như đôi bông hoa. Các quần áo thì
cứ mỗi ngày nàng thay một bộ khác. Tuy nàng đã sống với ông Sinh như đôi vợ chồng
và ông cũng đã coi nàng như một người vợ, nhưng nàng vẫn cố tìm cách đóng vai một
cô nhân tình. Nàng tin rằng đã chiếm đoạt được lòng chồng bằng cái vẻ đẹp bề ngoài
thì nàng chỉ có thể quyến rũ được chồng bằng cách giữ gìn cái vẻ đẹp đó. Nàng đã
khôn khéo chiều đãi chồng, không khác gì ngày mới gặp nhau. Nàng cần phải lựa cách
khôn ngoan với chồng như thế vì nàng đã biết rằng chồng đã có vợ từ lâu. Nàng vẫn
nơm nớp sợ rằng có ngày kia chồng sẽ ruồng bỏ mình để trở lại sống yên tĩnh với
người vợ cũ. Vì thế nàng cần phải giữ lấy tình yêu của chồng và hơn nữa nàng lại còn
muốn chiếm đoạt hẳn lấy cái tình yêu đó, để rồi chồng mình phải bỏ hẳn người vợ xưa
và chỉ biết đến một mình nàng. Nàng đã dự định như thế ngay từ khi nàng mới về ở
với chồng và biết chồng đã có vợ cả. Nàng tin chắc chắn với cái xảo quyệt của nàng
thì thế nào nàng cũng giữ được phần thắng.
Ông Sinh đã quen biết nàng trong một buổi đi hát với mấy người bạn ở Thái Bình. Cái
ngày ấy, một người bạn của ông làm ở sở máy sợi trúng số một trăm đồng, ngỏ ý muốn
“khao anh em một chầu” như lời ông nói. Những người bạn đều ưng thuận là ăn xong
rồi đi hát. Nhưng trong số bạn mới, có một người bảo cô đầu ở thành Nam thì đã chán
lắm rồi, không còn có gì là mới lạ nữa. Người đó bèn bàn định sang hát bên Thái Bình.
Người nào cũng muốn đi xa và cũng để so sánh cái lối chơi của “chị em” bên ấy với
bên này. Thế là họ đưa nhau sang Thái.
Nga là một đào hát nổi tiếng nhất ở bên đó. Và có lẽ cũng là một ả đào có sắc đẹp hơn
cả. Ngay từ tối hát đầu tiên ông Sinh đã để ý tới nàng. Rồi sau cái tối đó, ông không
thể rời nàng ra được nữa. Chẳng thứ bảy nào người ta không thấy ông ở nhà Nga. Rồi
về sau mê nàng quá, có ngày ông đi làm ở sở ra đi luôn ngay chuyến xe cuối cùng sang
Thái, ở lại đó với Nga một đêm rồi sáng sau về chuyến xe thứ nhất để vào sở làm. Ông
không hay chơi bời gì. Nhưng ông cũng như nhiều người khác đang sống hiền lành mà
bất ưng bước ra ngoài khuôn khổ thì không còn thể tự chủ được nữa. Vì thế mà ông
không hề nghĩ đến cách giữ mình, khi đã mê Nga.
Trừ ông, còn nhiều người khác cũng mê man Nga, nên ông lại càng cần phải luôn luôn
gần nàng để giữ làm của riêng mình. Ông chiều đãi Nga, và muốn cho Nga không còn
mơ tưởng đến một người nào khác, ông đã ăn tiêu một cách rất hào phóng, ông bỏ tiền
sắm sửa cho Nga đủ mọi thứ cần dùng, và thỉnh thoảng lại đãi riêng Nga chừng ba,
bốn chục đồng để nàng tiêu pha. Cứ như thế trong gần một tháng, Nga đã đem lòng
yêu ông, và lúc đó ông mới ngỏ lời muốn lấy Nga làm lẽ. Nàng nhận lời ngay. Để nàng
bên Thái Bình thì không còn e sợ vợ cả nhưng lại không tiện cho sự đi lại. Mà lại còn
tốn phí nhiều nữa! Ông bèn thu xếp thuê một gian nhà riêng ở con đường Vụ Bản rồi
đưa Nga về đó. Các đồ đạc trong nhà, ông bỏ tiền ra rồi chính tay Nga đi sắm sửa lấy.
Nàng đã thừa hiểu rằng một gian nhà bày biện sang trọng với những đồ đạc quý giá thì
bao giờ cũng lưu luyến người ta hơn. Vì nàng đã nghiệm thấy rằng khi nàng còn là
một ả đào, thì khách chơi nào cũng chỉ tìm tới những nhà hát sang, có vẻ giàu, ít khi
đặt chân tới một nhà hát nghèo nàn. Bởi thế nàng đã sắm sửa toàn những đồ vật đắt
tiền. Giường, bàn, tủ cùng các đồ vật khác đều đóng bằng gỗ lát đánh véc-ni bóng
loáng. Bộ sa-lông thì chính là của ông Sinh mang ở nhà tới. Bao nhiêu người đòi mua
lại ông đều từ chối, vì mặt bàn và mặt ghế lại ghép bằng sẹo gỗ lúp có vân trông tựa đá
hoa mà lại rất nhẹ. Khi ông đưa Nga ở Thái Bình về Nam Định, thấy nàng đòi sắm cả
sa-lông, ông thấy tốn phí nhiều quá, ông bèn xoay cách mang bộ sa-lông ấy tới. Ông
nói dối Nga là mua lại của một người bạn thân. Còn đối với vợ cả ở nhà thì ông dối
rằng ông cho một người bạn mượn để đặt tiệc. Bà Sinh ưng thuận để cho ông mang đi.
Lâu lâu không thấy mang về, bà cứ hỏi gặng mãi. Trước ông còn bảo là người bạn
muốn mượn trong ít lâu nữa. Sau hết, biết rằng cái cách nói dối đó không được ổn, ông
điềm tĩnh bảo vợ:
- Cái bộ sa lông ấy thì mất đứt rồi còn gì. Mình nghĩ cũng dại quá. Mang ngay lại nhà
cái người bạn ấy rồi... ông ta bảo rồi sẽ trả tiền mình mà chẳng hề thấy gì. Còn ai
dám cất tiếng hỏi tiền ông ta nữa mới được chứ!
Bà Sinh nghe những câu đó của chồng, thực thà tin ngay và bà chỉ biết bảo chồng:
- Thôi thì của thiên lại giả địa.
Từ đó bà không còn nhắc nhỏm đến bộ sa-lông đó nữa. Thế là ông Sinh được yên lòng
sang tay Nga. Nàng lại còn đòi sắm chiếc đồng hồ nữa. Ông mua một chiếc đồng hồ
con báo thức. Nàng nhất định bảo chỉ dùng tạm chiếc đồng hồ đó, rồi phải mua cho
nàng chiếc đồng hồ treo. Nàng đã khôn khéo lợi dụng lúc ông còn mê hám nàng để bắt
ông sắm sửa cho đủ mọi vật. Về phần ông Sinh thì không bao giờ ông muốn trái ý
người yêu, sợ đeo tiếng là con người keo bẩn. Mỗi khi Nga đòi thức nọ, thức kia mà
ông sắm được cho nàng thì ông lấy làm mãn nguyện, sung sướng lắm. Nhưng sắm sửa
nhiều quá thành ra ông phải tiêu quá số lương. Vì ông còn muốn giấu người vợ cả nên
lương tháng ông vẫn đưa về đủ và tiền sắm sửa cho Nga ông đã phải đi vay lãi. Chiếc
đồng hồ treo hạng tốt cũng mất tới hai chục đồng. Ông tính toán, ông thấy món tiền
cũng không phải là ít, ông bèn xoay cách. Rồi ông sẽ bảo với vợ cả là đồng hồ nhà
chạy không được đúng giờ cho lắm phải mang đi chữa. Ông sẽ mang thẳng lại nhà
Nga treo. Sở dĩ nay chiếc đồng hồ hãy còn ở nhà chưa sang tay Nga vì dần dần nàng
đã quên hẳn cái ý muốn có chiếc đồng hồ treo trên tường, và nàng không còn nhắc
nhỏm đến nữa.
Từ khi đèo thêm cái gia đình thứ hai này, ông Sinh đã bòn mót ở nhà mang đi không
biết bao nhiêu đồ dùng, cả đến những vật nho nhỏ như chiếc lọ cắm hoa, cái chao đèn
hay chiếc khăn phủ bàn. Khi thì ông lấm lét lấy giấu vợ cả, khi thì ông đường hoàng
mang đi, bảo là để chữa lại hay cho một người nào mượn. Ông cứ bồi đắp thu vén cho
một gia đình, thì một gia đình cứ kém kém dần. Chẳng khác một con sâu sống trong
một thân cây. Thân cây cứ mòn, mòn dần rồi mục nát, và con sâu thì ngày một to lớn
mãi lên. Và trong một gia đình thành chểnh mảng, mất hết tình thân mật thì trong một
gia đình lại đầy sự yêu thương, đầy sự chiều chuộng lẫn nhau.
Khi đã thu xếp nhà cửa được gọn gàng cho Nga ở rồi, ông Sinh có cảm tưởng như gia
đình của mình chính là nhà Nga. Còn người vợ cả và hai đứa con đối với ông đã gần
như những người xa lạ. Và những lúc ông trở về nhà với vợ con, ông tưởng như mình
đã đặt chân đến một gia đình ở đó ông chỉ có thể tạm trú chân trong ít lâu. Không lẽ
bỗng tự nhiên ông bỏ hẳn nhà để ở với Nga rồi không nhìn nhận gì đến vợ và con nữa
thì đeo tiếng là ác nghiệt quá rồi những người quen biết người ta chê cười. Bởi vậy nên
tuy không muốn, ông vẫn phải gượng sống bên vợ con. Buổi trưa ăn cơm xong, ông
kéo một giấc ngủ. Buổi chiều xong bữa, ông khoác áo ra đi. Những ngày thứ nhất bà
Sinh không hề giữ ông. Nhưng khi bà đã bắt đầu ngờ vực, bà cố không cho ông đi. Đã
một hai lần hai người lôi kéo nhau, ông dằng đi, bà lôi lại đến rách cả quần áo. Rồi
không biết làm thế nào, sau hết ông đành chịu ở nhà. Có khi muốn tránh cái cảnh
giằng co khó chịu ấy, buổi chiều ở sở ra ông về ngay với Nga rồi ăn cơm ở nhà Nga.
Bà Sinh thấy vậy đành phải nhượng bộ. Hễ thấy ông ra đi thì chỉ dùng lời ngọt ngào
căn ngăn, ông không nghe bà đành chịu vậy rồi chỉ biết thức suốt đêm để chờ cửa
chồng về. Nhiều khi nghĩ lại cái cảnh bỏ vợ một mình để ra đi với Nga, ông cũng thấy
hơi tự thẹn. Nhưng dần dần thành một thói quen, ông chẳng hề thấy khó chịu nữa. Mỗi
lần vợ có ngỏ lời trách móc, ông lại mắng át ngay: “Rõ khéo lắm, chỉ lo bò trắng răng.
Ai n...
NHẠT TÌNH
Tiểu thuyết
NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. Hồ CHÍ MINH
Năm xuất bản: 2002
Nguồn pdf scan: yen0985
Chuyển text: CaruriTlkd
LỜI NÓI ĐẦU
Trước nay, qua Làm lẽ, Nhạt tình, Gây dựng, Sống nhờ... xuất bản trước 1945 và
Cách Mạng nhà quê, Rãnh cày nổi dậy viết trong thời kỳ Cách mạng tháng tám, ai nấy
đều công nhận Mạnh Phú Tư là một cây bút hiện thực đặc sắc.
So với các cây bút hiện thực nổi tiếng khác, Mạnh Phú Tư có địa hạt riêng và nhất là
một phương pháp riêng. Nguyễn Công Hoan sở trường về những mảnh sống trào lộng.
Vũ Trọng Phụng thiên về những ung nhọt xã hội. Ngô Tất Tố tìm những bóng tối của
cuộc đời. Nguyên Hồng quen với thế giới của bọn tội lỗi. Chỗ đứng để nhìn của Mạnh
Phú Tư gần với Nam Cao hơn - không phải Nam Cao của Chí Phèo vì Chí Phèo dù
sao cũng là một hiện tượng đặc biệt, Nam Cao của Sống mòn, của những cuộc đời
bình thường hàng ngày.
Mạnh Phú Tư không tìm những đề tài, những cốt truyện kỳ dị, ghê gớm, khốc liệt gay
cấn. Nhà văn dường như chẳng cần thám hiểm, săn tìm gì cả. Ông lấy ngay những sự
việc mà ai cũng biết; cũng có thể đã chứng kiến. Ông không dắt độc giả đi du lịch đâu
xa, đến những nơi bí mật kỳ lạ nào hết, mà ông đưa họ đi chơi trong cuộc sống chung
quanh họ, ngay ở đường phố của họ, ngay trong nhà của họ không chừng. Và cuộc đi
chơi ấy không buồn tẻ, chán phèo mà đầy hứng thú. Là vì người ta thường ít chịu quan
sát kỹ cuộc sống, cũng biết nó có chuyện này chuyện nọ, nhưng vì chỉ nhìn qua loa,
không xem xét kỹ, không mổ xẻ để tìm hiểu chiều sâu thẳm của nó, cho nên chỉ hiểu
biết chung chung, không thấy gì đáng chú ý cả. Kịp đến khi Mạnh Phú Tư nhặt một
mảnh đời rất bình thường ấy đặt dưới “Kính lúp nghệ thuật” cho xem, ta mới giật
mình thấy cả một thế giới phức tạp không đơn giản như ta tưởng.
Trong tiểu thuyết, cốt truyện giữ vai trò quan trọng. Tác giả thường gia công xây dựng
cốt truyện để tạo một sức cuốn hút mạnh. Tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư thì lại dường
như ít cần xây dựng cốt truyện. Dường như tác giả khoanh nguyên một quãng đời và
cứ thế đưa vào tiểu thuyết, không sắp xếp, đạo diễn gì hết. Các sự việc cứ tự nhiên
diễn ra như nó phải diễn ra. Tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư không có những ngoắt
ngoéo, những bất ngờ, những thủ thuật tâm lý đối với độc giả..., lối văn cũng đều đều
bình dị không có những từ ngữ, những cách đặt câu gây ấn tượng. Vậy mà, đã mở một
cuốn tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư, độc giả khó lòng mà gấp nó lại nếu chưa đọc hết.
Ấy là vì sự quan sát rất kỹ, sự phân tích rất sâu, sự trình bày rất cặn kẽ của tác giả.
Câu chuyện của Nhạt tình là một truyện rất thông thường trong xã hội thời Pháp
thuộc, thông thường đến mức chẳng ai cần chú ý. Một ông phán mê người vợ lẽ cô đầu
hắt hủi ruồng bỏ vợ cả. Vợ cả phải đưa con về ở với mẹ, mẹ con làm ăn khổ sở nuôi
nhau. Cô gái đầu vất vả quá lăn ra chết. Người con trai thứ hai vừa đi làm kiếm ăn
vừa cố gắng học và thi đỗ thông phán. Cốt truyện có thể gọi là “nhạt phèo” như thế
thôi. Nhưng Mạnh Phú Tư đã miêu tả thật trúng tủ một anh công chức hiền lành vì mê
gái trở nên vũ phu như thế nào, sự điêu toa, gian manh của bọn cô đầu tranh chồng
cướp của và về phía bên kia, người vợ hiền thục nhẫn nhục, người con gái hiếu hạnh
nết na, người con trai ngoan ngoãn đức độ, người vú già thật thà trung hậu, người bạn
gái tốt bụng, những tính cách đậm đà bản sắc dân tộc mà độc giả vừa thương vừa
phục.
Mạnh Phú Tư cho ta chứng kiến một cảnh đời công chức “thường thường bậc trung”
thời Pháp thuộc, nó lặng lẽ, cạn hẹp như vũng ao tù, nhưng lội xuống ta sẽ thấy bao
nhiêu chuyện: trong vũng nước đục bùn ấy có bao nhiêu sinh vật đang nỗ lực sống,
bao nhiêu số phận đáng thương. Qua một gia đình, người ta nghĩ đến hàng vạn gia
đình tương tự...
Thời kỳ trước 1945, được tiếp xúc với văn hóa phương Tây người ta đã công kích kịch
liệt chế độ gia đình Việt Nam. Sau 1945, gia đình lại bị lên án vì đồng bọn với chế độ
phong kiến. Đối với những người bênh vực những cái hay của gia đình Việt Nam,
người ta đánh giá là bảo thủ. Những ai là nạn nhân mà không vùng lên đập phá, chối
bỏ gia đình, người ta coi là khiếp nhược, nô lệ. Những sự quá khích ấy đang được xem
lại. Gia đình Việt Nam có những cái không hợp thời, nhưng cũng có nhiều truyền
thống tốt đẹp phải duy trì. Những người đã thành nạn nhân của chế độ gia đình như
bà Sinh, cô Huệ, anh Tài - không có những hành động như cô Loan (Đoạn Tuyệt) cô
Tuyết (Đời mưa gió). Nhưng cô Loan, cô Tuyết gặt hái được những kết quả gì cho xã
hội, cho bản thân? Bà Sinh, Huệ, Tài cũng có cách tự giải phóng cho cái gia đình trở
thành cái hầm tối đối với họ. Bằng lao động, bằng sự giữ gìn nhân phẩm, họ đã tự
cứu, đã tìm được con đường sống mà sự đổ vỡ vô ích không xảy ra, như thế chẳng hay
hơn sao?
Nhạt tình là cuốn sách đáng đọc.
Giáo sư HOÀNG NHƯ MAI
Mặn tình cát lũy nhạt tình tao khang.
NGUYỄN DU
PHẦN THỨ NHẤT
Tài ngáp hai ba cái liền rồi hỏi mẹ:
- Sao mãi không thấy cậu về mợ nhỉ...?
Bà Sinh vẻ mặt buồn buồn bảo con:
- Nào tao biết đâu với cậu mày!
Câu nói vừa dứt, bà thở dài rồi tự bảo: “Nghĩ mà thêm chán. Nhà với cửa, chẳng còn ra
sao cả!”
Tài thoảng nghe thấy câu nói của mẹ. Tuy cậu còn nhỏ - cậu mới lên bảy - nhưng cậu
đã mang máng hiểu rằng câu hỏi của mình đã làm mẹ phải suy nghĩ, buồn nản. Cậu
hơi hối hận. Như muốn cho mẹ khỏi phải nghĩ ngợi lan man, cậu đã thông minh tìm
cách lảng sang chuyện khác. Cậu âu yếm bá vai mẹ rồi khoe lấy khoe để: Mợ ạ, hôm
nay con làm tính đúng cả, thầy giáo cho “dix”. Bà Sinh không hiểu “dix” là thế nào,
nhưng thấy con có vẻ ngộ nghĩnh cũng khen con:
- Gớm nhỉ! Con tôi giỏi quá!
Tài thấy mẹ như đã bớt vẻ buồn, mừng rỡ nhảy nhót trên sập liến thoắng đọc một bài
thơ mới học ở nhà trường:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Bà Sinh nhìn con, nhưng không nói gì, cứ để mặc con đọc tiếp:
Một lòng thờ mẹ kính cha.
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Đến đó, thấy con ngừng, bà chắc con đã quên những câu sau bèn hỏi:
- Rồi làm sao nữa?
- Thưa mợ hết ạ.
- Người ta dạy rằng “một lòng thờ mẹ kính cha” thế Tài có kính cậu và mợ không?
Tài lại ôm chặt lấy cổ mẹ
- Có, con yêu cậu mợ lắm... Nhưng con yêu mợ hơn.
- Tại sao thế?
- Vì cậu cứ hay đi chơi cả đêm để mợ phải chờ.
Câu nói chất phác của Tài lại làm bà nghĩ lan man. Cái ngộ nghĩnh đượm vẻ vô tư lự ở
cái tuổi thơ ấu của con giai như phản tượng với tâm hồn buồn rầu của bà lúc đó.
Tài lại ngáp. Bà giục con đi ngủ vì đã hơn mười giờ đêm. Tài lại nhảy nhót trên
giường:
- Con chưa buồn ngủ. Con hãy còn tỉnh táo thế này cơ mà!
Nói xong, Tài nhảy mạnh hơn như để tỏ cho mẹ biết rõ rằng mình chưa buồn ngủ.
Giữa lúc đó, Huệ, chị Tài ở trong buồng đi ra, giục em: “Chị buông màn cho Tài rồi
đấy. Vào mà ngủ. Mười giờ hơn rồi còn gì! Học vệ sinh thì bảo không nên thức khuya
mà bây giờ hãy còn nô nghịch mãi!”
Nghe lời chị, Tài rón rén từ trên giường bước xuống, rồi vào buồng trong đi ngủ. Huệ
xếp mấy chiếc chén và khay trầu để trên giường, ngay chỗ mẹ ngồi, vào góc một chiếc
bàn kê gần đó rồi bảo mẹ:
- Mợ hãy đứng xuống đất một tý, để con buông màn cho mợ ngủ.
Bà Sinh vẫn cứ ngồi yên chỗ cũ, thở dài:
- Thôi được, mày cứ đi ngủ trước đi. Bao giờ tao ngủ tao buông màn lấy cũng được.
Huệ biết ngay rằng mẹ lại cố thức để chờ cha mình. Nhìn thấy cái vẻ mặt gầy còm,
buồn nản của mẹ, nàng bỗng đem lòng thương mẹ và có chút ác cảm với cha. Nàng hơi
xẵng tiếng nói với mẹ:
- Mợ lẩn thẩn quá! Biết bao giờ cậu về mà chờ mới được chứ! Chẳng làm gì mà tối
nào mợ cũng thức đến một hai giờ đêm cho gầy cả người đi!
Trong lời trách móc đó, bà Sinh cảm thấy rõ tình thương của con đối với mình hơn là
sự vô lễ, nên bà không những chẳng hề mắng con mà lại còn ra ý nể nang. Bà khẽ bảo
con: “Mày cứ nói thế chứ! Hôm nào thì tao cũng thức đến chừng hơn mười một giờ là
cùng!”
- Thì mới đêm hôm qua chứ lâu la gì! Con nghe thấy rõ ràng đồng hồ đánh một giờ mà
mợ vẫn còn ngồi ở góc giường này - Nàng đưa tay trỏ một góc giường rồi lại nói tiếp:
- Con thấy mợ mệt quá, hết tựa lưng vào tường lại nắm tay đấm lưng bình bịch.
Thấy con nói đúng sự thực quá, bà Sinh lẳng lặng, Huệ lại giục mẹ đứng dậy để nàng
buông màn. Bà đành chiều ý con. Bà vừa đặt chân xuống đất vừa nói:
- Lúc mà đã không ngủ được thì mày nhốt tao vào trong lồng tao cũng không ngủ được
nữa là trong màn.
- Mợ cứ nghe con, tắt đèn rồi đi vào giường nằm là dần dần sẽ ngủ đi được.
Nàng nhanh nhẹn dắt diềm màn xuống dưới chiếu, rồi lấy gối bỏ trong giường. Nàng
sai vú già thắp ngọn đèn dầu con để vào một góc bàn rồi nàng tắt đèn điện vào buồng
trong đi ngủ. Sắp bước chân lên giường nàng còn giục mẹ:
- Mợ đi ngủ đi.
Thấy con cứ giục giã mãi, bà phát gắt nói to:
- Thì mày cứ mặc tao, việc gì mà phải rối lên thế! Ai khiến mày. Có dễ ai cũng dễ ăn
dễ ngủ như mày được hay sao?
Câu nói cuối cùng như để thổ lộ cái buồn chán, nỗi lo nghĩ trong lòng bà hơn là để
mắng lại con.
Đã mấy tháng nay, rất ít khi chồng bà ở lại nhà. Ngày nào cũng vậy, bữa cơm chiều
xong, ông lại quần áo ra đi. Thường thường vào quãng một hai giờ đêm mới về. Có khi
đi suốt đêm, rồi sáng sau đi thẳng ngay tới sở cho tới trưa mới lại trở về ăn cơm. Bà có
hỏi han vì lẽ gì, ông chỉ nói là đi xem chiếu bóng hoặc đánh tổ tôm tại nhà một người
bạn.
Cái lối vắng nhà đó từ trước tới nay chưa hề có. Bà đem lòng suy nghĩ. Mới đầu bà
cũng tin lời chồng. Nhưng dần dần bà nghiệm thấy rằng không phải là đi xem chiếu
bóng hoặc đánh tổ tôm. Bà nghĩ:
- Có thực như thế, thì mỗi tháng chỉ độ một hai lần thôi chứ! Sao lại tuần lễ bảy ngày
thì tới bốn, năm ngày vắng nhà.
Từ đó bà đem lòng ngờ vực là chồng đã dan díu với một người nào. Bà ra công dò xét.
Đã mấy lần, chờ cho chồng ra đi được một lúc bà lẽo đẽo theo sau ngay, cố trốn lẩn để
chồng không nhìn thấy rồi dò la cho dễ. Lần thứ nhất, bà thấy chồng vào nhà một
người bạn. Bà ngồi ở một hàng xén gần ngay đó. Bà chờ mãi không thấy chồng ra, bà
tin ngay là đã thành bàn tổ tôm. Bà yên lòng ra về. Lần thứ hai bà đi theo cũng lại thấy
chồng vào nhà quen. Sau hai lần đó, bà tin rằng chồng bà chỉ mê man bài bạc thôi. Cái
mê hám đó tuy không làm hài lòng bà nhưng đã khiến bà bớt được sự lo lắng rằng
chồng bà đã đa mang thêm vợ con riêng. Một hai lần bà gặp chồng đi chơi quanh
ngoài phố với ông Tùng. Bà bớt hẳn lo nghĩ, vì bà biết ông Tùng là người cùng làm
một sở với chồng mà lại đứng đắn không chơi bời. Bà đã quen thân với ông vì cái nhà
bà đang ở là thuê của ông và tháng tháng ông vẫn tới thu tiền.
Song bà Sinh cũng chỉ bớt lo được một dạo bởi lẽ ông Sinh cứ đi chơi tối luôn luôn...
Sự ngờ vực lại trở lại trí óc bà; nhất là bà mới được một người quen kể chuyện rằng
ông chỉ tới đó chơi cho đến chừng mười giờ thôi, rồi lại đi chơi chỗ khác và không khi
nào ngủ lại nhà người đó. Bà lại bắt đầu dò xét, nhưng cũng chẳng có hiệu quả gì.
Chẳng lẽ bà lại đi hỏi dò từng nhà quen xem chồng bà có lại đó chơi không và tới vào
giờ nào rồi ra về vào lúc nào. Tuy có giận chồng thực nhưng lòng tự trọng đã can ngăn
bà hạ mình làm việc đó. Đêm nay chẳng biết là đêm thứ mấy mươi bà thui thủi ngồi
một mình bên ngọn đèn hoa kỳ để chờ chồng. Bà muốn rằng chồng sẽ biết đến lòng
tận tâm của bà và nhất là sự ngóng trông của bà trong đêm khuya rồi đem lòng thương
đến bà mà tự sửa, sống lại cuộc đời cũ. Bà cũng muốn chờ đợi như thế để hòng có dịp
rồi khuyên ngăn chồng. Nhưng đã bao lâu, bà uổng công chờ đợi các dịp đó. Bà ngồi
chờ chán buồn ngủ rồi đi ngủ. Chẳng hề thấy bóng chồng về. Hoặc chồng có về thì vừa
mới đặt chân vào tới nhà đã mắng át ngay bà:
- Sao không đi ngủ, lại cứ chờ đợi người ta làm gì!
Không để bà nói xen một câu, ông nói dồn ngay:
- Vui chúng vui bạn thì đánh dăm ba hội tổ tôm chứ ai đi ăn trộm ăn cướp gì mà phải
đợi với chờ rồi lại than thân là khổ với sở.
Bà nhớ rõ rằng lần nào chồng bà cũng có những câu nói như vậy, hay gần giống như
vậy và lần nào chồng bà cũng có cái bộ dạng cau có, làm bà rất khó chịu. Cứ nghĩ rằng
cố chịu thức suốt đêm để mở cửa cho chồng mà lại bị chồng gắt gỏng ra vẻ hắt hủi như
vậy, bà đã thấy trong lòng uất ức đến cực điểm. Rồi lại những tiếng nói lãnh đạm mà
bà thấy chồng thường dùng ít lâu nay như tiếng “ai” hay “người ta”, lại càng khiến bà
bực tức, luôn luôn phải suy nghĩ. Trước sự thay đổi về cách cư xử của chồng đối với
mình, bà chỉ biết thở dài, giữ kín nỗi buồn riêng trong lòng. Thỉnh thoảng Huệ có dò la
hỏi bà xem có chuyện gì, bà chỉ buồn buồn bảo con:
- Chuyện gì! Hình như cậu mày có vợ lẽ giấu giếm ở đâu chứ còn chuyện gì?
Đồng hồ thong thả đánh mười hai tiếng. Các đồng hồ của những nhà gần đấy cũng liên
tiếp nhau đánh chuông. Mỗi cái có một thứ tiếng riêng. Có khi len lẫn nhau có khi tách
hẳn. Trong đêm khuya yên lặng bà nghe rõ thấy tiếng đó vang ra mồn một. Tất cả nhà
đã ngủ. Tiếng ngáy đều đều của Tài từ trong buồng đưa ra yếu ớt như một thứ tiếng từ
xa lại, bị luồng gió đánh bạt. Chỉ có những tiếng tíc tắc của chiếc đồng hồ treo trong
góc tường là rõ rệt, bật hẳn lên.
Bà Sinh đã thấy người mỏi mệt, xương sống nhức và hai vai nặng trĩu. Bà ngáp mấy
cái liền, dựa lưng vào thành ghế, nhưng vẫn còn thấy mỏi. Bà chắc rằng hôm nay cũng
như đêm qua chồng bà chẳng về, có cố thức ngồi chờ cũng vô ích, bà mở màn vào
giường.
Nằm thẳng người, gối đầu trên chiếc gối bông bà thấy gân cốt như nở giãn. Một cảm
giác rất dễ chịu khiến bà không còn thấy mệt nhọc nữa. Bà tưởng rằng đặt mình xuống
giường, tất sẽ ngủ ngay được. Nhưng bà vẫn còn trằn trọc mãi. Và bà lại liên miên
nghĩ ngợi. Bà nghĩ đến những điều bà đã thường nghĩ tới trong ban ngày. Và ít lâu nay,
bà chỉ quanh quẩn ra vào thơ thẩn như người không hồn. Mọi công việc bà bỏ mặc
người vú già và Huệ; bà chẳng hề muốn trông nom tới. Cái buồn nản luôn luôn gặm
nhấm trí óc, cõi lòng bà, khiến bà không còn thiết tha đến một điều gì. Cả đến Tài mà
bà vẫn thường nâng niu âu yếm nay bà cũng như quên hẳn đi, coi như không có đứa
con giai đó. Bà chỉ quan tâm đến một người: chồng bà. Vì bà đã hiểu rằng nếu người
làm trụ cột đó trong gia đình mà thành ra chơi bời, rồi vợ nọ con kia thì cả nhà sẽ sa
vào cái cảnh khổ sở thương tâm. Đã bao nhiêu gia đình, vì người cha ham mê ngườỉ
vợ lẽ rồi ruồng bỏ vợ cả, ruồng bỏ cả đàn con phải lâm vào những cảnh đau thương.
Bà đã được biết những người đó, bà thương họ và bà lại ghê sợ cho chính bà. Bà nơm
nớp sợ rằng sau này bà sẽ không tránh được cái khổ đó. Bà lo cho chính bà thì ít, bà lo
cho hai đứa con bà thì nhiều. Bà thường tự bảo: “Con gái thì phải tìm cách gả chồng,
mà con giai thì phải lo liệu cho nó ăn học, còn thi cử rồi cũng phải kiếm vợ cho nó.
Bỗng dưng mà tay không ra đứng đường thì rồi lấy gì mà lo liệu cho chúng nó!”
Cái ý nghĩ ấy đã làm bà buồn phiền mất ăn mất ngủ. Và bao giờ nó tới óc bà, bà lại thì
thầm cầu nguyện: “Lạy trời, lạy phật, đừng có để mẹ con tôi phải đến cái đận ấy”. Cứ
mỗi lần bà thốt ra lời cầu nguyện đó, bà lại tin rằng không lẽ nào bà lại sẽ phải sống
khổ sở, và không có lý nào chồng bà lại ruồng bỏ bà được. Từ trước đến nay, trong gia
đình, bà vẫn giữ địa vị một người vợ hiền, và một người mẹ tận tâm. Càng đi ngược lại
những ngày đã qua bà lại tự hiểu rằng mình không hề có điều gì đáng tự trách. Bà
chẳng dám khoe là giỏi giang hơn mọi người đàn bà, nhưng cứ so sánh kỹ càng, bà
còn hơn nhiều người đàn bà khác, việc nhà bỏ bừa bỏ bãi, không hề chăm nom gì tới.
Bà đi lấy chồng từ năm mười tám tuổi. Và bắt đầu từ cái tuổi đó cho tới năm hai mươi
bốn, ròng rã sáu năm trời bà đã phải chịu không biết bao nỗi khó nhọc; bởi lẽ gia đình
chồng bà không được dồi dào đồng tiền cho lắm. Ở vào cái thời còn là con gái, bà
cũng có nhan sắc. Mấy ông phán, ông tham và nhiều gia đình giàu có trong tỉnh muốn
hỏi. Nhưng người mẹ sợ rằng gả vào những chỗ chức tước, nhiều tiền của rồi người ta
sẽ khinh nghèo mà hành hạ con gái chăng. Vì vậy mẹ bà đã gả bà cho một nơi quen,
cùng tỉnh cùng nghèo như gia đình bà. Sự không chênh lệch ấy, mẹ bà tin rằng sẽ có
lợi cho cặp vợ chồng. Khi bà bước chân về nhà chồng thì chồng mới thi đỗ sơ học
Pháp Việt và vào trường Bưởi theo học. Chồng bà mồ côi cha ngay từ thuở nhỏ nên cả
nhà chỉ quanh quẩn có một đứa ở, người mẹ chồng với bà. Khi mới lấy nhau thì còn ở
Kiến An, mọi món tiền chi tiêu trong nhà và tiền học của chồng đều trông mong vào
cái cửa hàng xén khá to dọn ngay ở một phố lớn nhất trong tỉnh. Được gần một năm
sau công việc buôn bán ở Kiến An không được phát đạt, người mẹ chồng bèn thu xếp
về quê ở để trông nom gần chục mẫu ruộng đã tậu được trong thời kỳ buôn bán có lãi
nhiều. Hoa lợi của mấy mẫu ruộng không đủ chi tiêu trong nhà và không đủ cho chồng
bà ăn học, bà lại phải xoay cách cân gạo bán cho khách buôn. Vì quê bà về ở là một
huyện lỵ nhỏ, huyện Kim Thành cách ga xe lửa có hơn hai cây số nên công việc cân
gạo cũng dễ dàng. Thường thường một tháng ba hay bốn kỳ bà tải gạo đi Hải Dương
hoặc Hải Phòng bán tại bến chợ Sắt. Nhờ sự siêng năng, tháo vát và nhất là cái đức
tính tằn tiện của bà, trong nhà cũng bớt túng bấn. Năm chồng bà lên học năm thứ hai
thì người mẹ chồng mất. Một mình bà phải cáng đáng lo liệu mọi việc ma chay cho
được yên ổn. Cách đó mấy tháng thì bà đẻ Huệ. Thế là trơ trọi chỉ có một mình bà phải
vật lộn lo liệu đủ mọi cái để nuôi con trong nhà và nuôi chồng ăn học cho tới lúc thi ra.
Chồng bà cũng có mấy người anh họ giàu và đã đi làm có lương cao, có thể giúp được
bà trong lúc thiếu quẫn đó; nhưng bà không muốn phiền lụy đến một người nào. Và
những người ấy đối với chồng bà cũng ra vẻ lãnh đạm, gần như muốn xa lánh nên bà
đã không muốn nối tình thân thiện. Thực là những năm khó nhọc mà có lẽ không bao
giờ bà quên được. Bà bắt đầu được an nhàn đôi chút từ năm chồng thi đỗ Thành
Chung rồi vào làm Tòa Sứ. Mới đầu bổ về Phúc Yên. Bà thu xếp công việc nhà rồi
cùng con gái đi theo chồng, ở Phúc Yên mấy năm thì phải đi Sơn Tây chừng ba bốn
năm cho đến bây giờ đổi về Nam Định đã được hơn hai năm.
Từ ngày chồng đi làm là bắt đầu những ngày êm ấm của bà. Cái cảnh chồng một vợ
một không có chú, bác, cô, dì nào dính dáng tới để xảy ra chuyện này, chuyện khác
không hay cho gia đình đã nhiều lần khiến bà sung sướng, thầm ơn mẹ đã không tham
lam những nơi giàu sang để gán gả mình, mà chỉ cầu lấy sự thân yêu lẫn nhau. Đôi vợ
chồng đã cùng qua những ngày túng thiếu nên khi nhàn hạ càng thương yêu nhau hơn.
Thực không còn cảnh gia đình nào đầm ấm hơn nữa. Ngày ngày người chồng đi làm,
bà ở nhà trông nom, thu vén việc nhà và săn sóc đến con cái. Ngày hai buổi đi làm về,
chồng bà chỉ quanh quẩn trong nhà, xem báo, hoặc bàn bạc về các việc chi tiêu trong
nhà để cố tằn tiện số tiền lương hàng tháng. Cái cảnh sống êm đềm, đầy thân yêu đó đã
có ngay từ khi chồng bà mới được bổ đi làm. Cảnh gia đình lại vui sướng thêm khi bà
đẻ Tài. Cả ngày bà thấy chồng nô giỡn với đứa con giai, không còn muốn rời nó ra.
Trước sự vui vẻ đó mà nghĩ đến những ngày vất vả đã qua, bà cũng thấy ấm áp cõi
lòng, bà thấy cả thân thể như rung động bởi một nguồn vui sống, hăng hái. Thực
không khác một kẻ đang ở một nơi ẩm thấp, giá rét được vùng vẫy ở một nơi khoáng
đạt đầy ánh nắng dịu.
Nhớ lại cái thời qua đó và so sánh với cái cảnh chơi bời đi suốt đêm của chồng trong
mấy tháng nay, bà Sinh lại càng lo sợ, buồn rầu. Bà cố suy nghĩ để tìm được mưu kế
mà khuyên răn chồng trở lại con đường cũ. Và suy nghĩ mãi bà vẫn chỉ thấy có hai
cách: Một là ngọt, hai là xẵng, rồi “làm cho ra chuyện, muốn sao thì sao”. Chỉ có thế.
Không cách nọ tất phải dùng cách kia. Càng suy nghĩ bà càng thấy rõ rằng bất cứ bằng
cách nào, rồi câu chuyện cũng cần phải “cho vỡ lẽ”, chứ bà không muốn sống trong sự
mập mờ mãi như thế này được.
Đồng hồ đánh một giờ. Bà cố lắng tai nghe. Ngoài cửa vẫn không có một tiếng động.
Chắc hẳn rằng chồng bà đêm nay lại không về. Bà thở dài:
- Hai đêm liền!
Bà lại suy nghĩ lan man, dần dần người mệt lả rồi bà ngủ thiếp lúc nào không rõ.
Ông Sinh đã thoát. Ông vẫn không quên rằng vợ mình vẫn tìm cách dò la, nên bao giờ
cũng vậy, trước khi tới nhà người vợ lẽ, ông hay dùng cái lối rẽ qua vào nhà một người
bạn hay một người nào quen uống nước, nói chuyện có khi mất tới hai, ba giờ ông mới
ra đi. Nếu chẳng dùng cái mưu kế đó thì ông lại lang thang qua hết phố này sang phố
khác rồi mới đến chỗ nhà riêng. Ông đã biết được rằng vợ ông vẫn dò la, vì một buổi
tối bất ngờ ông đã nhìn thấy người vợ theo sau: Ông vừa qua một cửa hàng xén, bày
bừa bộn những hàng mới sang: nào giây lưng da, nào mùi-xoa và cà-vạt mới, đủ các
màu. Ông dừng lại nhìn và trong khi quay trước, quay sau, ông nhác thấy bà Sinh vừa
dừng chân ở đầu phố, có lẽ vì đã nhìn thấy ông đứng lại. Từ ngày đó, ông bắt đầu giữ
gìn để vợ không biết được đường lối và cũng để nói dối vợ cho dễ, mỗi khi bà hỏi han
câu nọ câu kia.
Ông đã đi thoát. Vừa tới nơi, mở cửa bước vào, ông đã thấy Nga ăn mặc chỉnh tề, kem
phấn hẳn hoi ngồi chờ ở phòng khách. Nàng đon đả chạy ra, cười cười nói nói, bá vai
ông Sinh rồi cố lấy giọng giọt ngào:
- Em chờ anh mãi.
Trả lời câu nói đó, ông Sinh chỉ mỉm cười rồi ôm chặt đầu Nga trên ngực, hôn liền hai
cái. Mùi thơm của nước hoa và phấn làm ông thấy rộn rực trong người bởi những cảm
xúc mới lạ. Cửa ngoài đã đóng chặt. Nga rót một chén nước to đặt trên bàn và cất tiếng
mời:
- Anh uống nước.
Nàng lại vừa cười vừa nhìn chồng nói thêm:
- Nước chè mạn ướp sen, em gửi mua tận Phú Thọ về cơ đấy.
Ông Sinh vui mừng, nâng chén nước uống một hớp to và tấm tắc khen:
- Ngon thật! Kể ra mình cũng sành ăn, sành uống đấy!
Nga lộ ra vẻ sung sướng trên nét mặt. Hai người cùng đắc chí, lẳng lơ nhìn nhau. Nga
vào nhà trong mang bộ pỵjama cho chồng thay rồi cả đôi đưa nhau vào trong buồng
nằm trên một chiếc giường tây kiểu mới; người nọ gối lên cánh tay người kia thì thầm
nói chuyện. Tiếng cười len tiếng nói. Sự vui vẻ, đầm ấm như bao phủ cả người và vật
trong gian phòng.
Có hôm ông Sinh ở lại đấy cho tới một hai giờ đêm rồi ra về, cũng có hôm ông ở hẳn
lại cho hết đêm. Đó là khi mới bắt đầu gian díu với Nga. Ít lâu nay, thường thường ông
ngủ hẳn lại đấy rồi sáng sau đi làm ngay. Cái bầu không khí trong gian nhà của Nga
đối với ông có vẻ thân mật, đáng yêu hơn là nhà chính của ông. Mọi cái đều như lưu
luyến một cách thầm kín. Không những thế, gần Nga ông thấy cái xuân tươi quyến rũ,
trái hẳn người vợ cũ của ông. Hình như Nga cũng hiểu như vậy nên nàng lại càng cố
tìm đủ hết cách trang hoàng gian nhà cho ra vẻ sang trọng; và không bao giờ nàng
quên rằng khéo trang điểm, phấn sáp thì vẫn dễ lấy được lòng chồng. Bởi thế mà cứ
bữa cơm chiều xong là nàng chải đầu, tỉ mỉ lật từng sợi tóc, rẽ cái đường ngôi cho thực
thẳng rồi xoa một lớp phấn thực mịn. Nàng chăm chú nhất tới đôi má hồng. Chả thế
mà đã mấy lần chồng phải khen nàng là hai má tươi như đôi bông hoa. Các quần áo thì
cứ mỗi ngày nàng thay một bộ khác. Tuy nàng đã sống với ông Sinh như đôi vợ chồng
và ông cũng đã coi nàng như một người vợ, nhưng nàng vẫn cố tìm cách đóng vai một
cô nhân tình. Nàng tin rằng đã chiếm đoạt được lòng chồng bằng cái vẻ đẹp bề ngoài
thì nàng chỉ có thể quyến rũ được chồng bằng cách giữ gìn cái vẻ đẹp đó. Nàng đã
khôn khéo chiều đãi chồng, không khác gì ngày mới gặp nhau. Nàng cần phải lựa cách
khôn ngoan với chồng như thế vì nàng đã biết rằng chồng đã có vợ từ lâu. Nàng vẫn
nơm nớp sợ rằng có ngày kia chồng sẽ ruồng bỏ mình để trở lại sống yên tĩnh với
người vợ cũ. Vì thế nàng cần phải giữ lấy tình yêu của chồng và hơn nữa nàng lại còn
muốn chiếm đoạt hẳn lấy cái tình yêu đó, để rồi chồng mình phải bỏ hẳn người vợ xưa
và chỉ biết đến một mình nàng. Nàng đã dự định như thế ngay từ khi nàng mới về ở
với chồng và biết chồng đã có vợ cả. Nàng tin chắc chắn với cái xảo quyệt của nàng
thì thế nào nàng cũng giữ được phần thắng.
Ông Sinh đã quen biết nàng trong một buổi đi hát với mấy người bạn ở Thái Bình. Cái
ngày ấy, một người bạn của ông làm ở sở máy sợi trúng số một trăm đồng, ngỏ ý muốn
“khao anh em một chầu” như lời ông nói. Những người bạn đều ưng thuận là ăn xong
rồi đi hát. Nhưng trong số bạn mới, có một người bảo cô đầu ở thành Nam thì đã chán
lắm rồi, không còn có gì là mới lạ nữa. Người đó bèn bàn định sang hát bên Thái Bình.
Người nào cũng muốn đi xa và cũng để so sánh cái lối chơi của “chị em” bên ấy với
bên này. Thế là họ đưa nhau sang Thái.
Nga là một đào hát nổi tiếng nhất ở bên đó. Và có lẽ cũng là một ả đào có sắc đẹp hơn
cả. Ngay từ tối hát đầu tiên ông Sinh đã để ý tới nàng. Rồi sau cái tối đó, ông không
thể rời nàng ra được nữa. Chẳng thứ bảy nào người ta không thấy ông ở nhà Nga. Rồi
về sau mê nàng quá, có ngày ông đi làm ở sở ra đi luôn ngay chuyến xe cuối cùng sang
Thái, ở lại đó với Nga một đêm rồi sáng sau về chuyến xe thứ nhất để vào sở làm. Ông
không hay chơi bời gì. Nhưng ông cũng như nhiều người khác đang sống hiền lành mà
bất ưng bước ra ngoài khuôn khổ thì không còn thể tự chủ được nữa. Vì thế mà ông
không hề nghĩ đến cách giữ mình, khi đã mê Nga.
Trừ ông, còn nhiều người khác cũng mê man Nga, nên ông lại càng cần phải luôn luôn
gần nàng để giữ làm của riêng mình. Ông chiều đãi Nga, và muốn cho Nga không còn
mơ tưởng đến một người nào khác, ông đã ăn tiêu một cách rất hào phóng, ông bỏ tiền
sắm sửa cho Nga đủ mọi thứ cần dùng, và thỉnh thoảng lại đãi riêng Nga chừng ba,
bốn chục đồng để nàng tiêu pha. Cứ như thế trong gần một tháng, Nga đã đem lòng
yêu ông, và lúc đó ông mới ngỏ lời muốn lấy Nga làm lẽ. Nàng nhận lời ngay. Để nàng
bên Thái Bình thì không còn e sợ vợ cả nhưng lại không tiện cho sự đi lại. Mà lại còn
tốn phí nhiều nữa! Ông bèn thu xếp thuê một gian nhà riêng ở con đường Vụ Bản rồi
đưa Nga về đó. Các đồ đạc trong nhà, ông bỏ tiền ra rồi chính tay Nga đi sắm sửa lấy.
Nàng đã thừa hiểu rằng một gian nhà bày biện sang trọng với những đồ đạc quý giá thì
bao giờ cũng lưu luyến người ta hơn. Vì nàng đã nghiệm thấy rằng khi nàng còn là
một ả đào, thì khách chơi nào cũng chỉ tìm tới những nhà hát sang, có vẻ giàu, ít khi
đặt chân tới một nhà hát nghèo nàn. Bởi thế nàng đã sắm sửa toàn những đồ vật đắt
tiền. Giường, bàn, tủ cùng các đồ vật khác đều đóng bằng gỗ lát đánh véc-ni bóng
loáng. Bộ sa-lông thì chính là của ông Sinh mang ở nhà tới. Bao nhiêu người đòi mua
lại ông đều từ chối, vì mặt bàn và mặt ghế lại ghép bằng sẹo gỗ lúp có vân trông tựa đá
hoa mà lại rất nhẹ. Khi ông đưa Nga ở Thái Bình về Nam Định, thấy nàng đòi sắm cả
sa-lông, ông thấy tốn phí nhiều quá, ông bèn xoay cách mang bộ sa-lông ấy tới. Ông
nói dối Nga là mua lại của một người bạn thân. Còn đối với vợ cả ở nhà thì ông dối
rằng ông cho một người bạn mượn để đặt tiệc. Bà Sinh ưng thuận để cho ông mang đi.
Lâu lâu không thấy mang về, bà cứ hỏi gặng mãi. Trước ông còn bảo là người bạn
muốn mượn trong ít lâu nữa. Sau hết, biết rằng cái cách nói dối đó không được ổn, ông
điềm tĩnh bảo vợ:
- Cái bộ sa lông ấy thì mất đứt rồi còn gì. Mình nghĩ cũng dại quá. Mang ngay lại nhà
cái người bạn ấy rồi... ông ta bảo rồi sẽ trả tiền mình mà chẳng hề thấy gì. Còn ai
dám cất tiếng hỏi tiền ông ta nữa mới được chứ!
Bà Sinh nghe những câu đó của chồng, thực thà tin ngay và bà chỉ biết bảo chồng:
- Thôi thì của thiên lại giả địa.
Từ đó bà không còn nhắc nhỏm đến bộ sa-lông đó nữa. Thế là ông Sinh được yên lòng
sang tay Nga. Nàng lại còn đòi sắm chiếc đồng hồ nữa. Ông mua một chiếc đồng hồ
con báo thức. Nàng nhất định bảo chỉ dùng tạm chiếc đồng hồ đó, rồi phải mua cho
nàng chiếc đồng hồ treo. Nàng đã khôn khéo lợi dụng lúc ông còn mê hám nàng để bắt
ông sắm sửa cho đủ mọi vật. Về phần ông Sinh thì không bao giờ ông muốn trái ý
người yêu, sợ đeo tiếng là con người keo bẩn. Mỗi khi Nga đòi thức nọ, thức kia mà
ông sắm được cho nàng thì ông lấy làm mãn nguyện, sung sướng lắm. Nhưng sắm sửa
nhiều quá thành ra ông phải tiêu quá số lương. Vì ông còn muốn giấu người vợ cả nên
lương tháng ông vẫn đưa về đủ và tiền sắm sửa cho Nga ông đã phải đi vay lãi. Chiếc
đồng hồ treo hạng tốt cũng mất tới hai chục đồng. Ông tính toán, ông thấy món tiền
cũng không phải là ít, ông bèn xoay cách. Rồi ông sẽ bảo với vợ cả là đồng hồ nhà
chạy không được đúng giờ cho lắm phải mang đi chữa. Ông sẽ mang thẳng lại nhà
Nga treo. Sở dĩ nay chiếc đồng hồ hãy còn ở nhà chưa sang tay Nga vì dần dần nàng
đã quên hẳn cái ý muốn có chiếc đồng hồ treo trên tường, và nàng không còn nhắc
nhỏm đến nữa.
Từ khi đèo thêm cái gia đình thứ hai này, ông Sinh đã bòn mót ở nhà mang đi không
biết bao nhiêu đồ dùng, cả đến những vật nho nhỏ như chiếc lọ cắm hoa, cái chao đèn
hay chiếc khăn phủ bàn. Khi thì ông lấm lét lấy giấu vợ cả, khi thì ông đường hoàng
mang đi, bảo là để chữa lại hay cho một người nào mượn. Ông cứ bồi đắp thu vén cho
một gia đình, thì một gia đình cứ kém kém dần. Chẳng khác một con sâu sống trong
một thân cây. Thân cây cứ mòn, mòn dần rồi mục nát, và con sâu thì ngày một to lớn
mãi lên. Và trong một gia đình thành chểnh mảng, mất hết tình thân mật thì trong một
gia đình lại đầy sự yêu thương, đầy sự chiều chuộng lẫn nhau.
Khi đã thu xếp nhà cửa được gọn gàng cho Nga ở rồi, ông Sinh có cảm tưởng như gia
đình của mình chính là nhà Nga. Còn người vợ cả và hai đứa con đối với ông đã gần
như những người xa lạ. Và những lúc ông trở về nhà với vợ con, ông tưởng như mình
đã đặt chân đến một gia đình ở đó ông chỉ có thể tạm trú chân trong ít lâu. Không lẽ
bỗng tự nhiên ông bỏ hẳn nhà để ở với Nga rồi không nhìn nhận gì đến vợ và con nữa
thì đeo tiếng là ác nghiệt quá rồi những người quen biết người ta chê cười. Bởi vậy nên
tuy không muốn, ông vẫn phải gượng sống bên vợ con. Buổi trưa ăn cơm xong, ông
kéo một giấc ngủ. Buổi chiều xong bữa, ông khoác áo ra đi. Những ngày thứ nhất bà
Sinh không hề giữ ông. Nhưng khi bà đã bắt đầu ngờ vực, bà cố không cho ông đi. Đã
một hai lần hai người lôi kéo nhau, ông dằng đi, bà lôi lại đến rách cả quần áo. Rồi
không biết làm thế nào, sau hết ông đành chịu ở nhà. Có khi muốn tránh cái cảnh
giằng co khó chịu ấy, buổi chiều ở sở ra ông về ngay với Nga rồi ăn cơm ở nhà Nga.
Bà Sinh thấy vậy đành phải nhượng bộ. Hễ thấy ông ra đi thì chỉ dùng lời ngọt ngào
căn ngăn, ông không nghe bà đành chịu vậy rồi chỉ biết thức suốt đêm để chờ cửa
chồng về. Nhiều khi nghĩ lại cái cảnh bỏ vợ một mình để ra đi với Nga, ông cũng thấy
hơi tự thẹn. Nhưng dần dần thành một thói quen, ông chẳng hề thấy khó chịu nữa. Mỗi
lần vợ có ngỏ lời trách móc, ông lại mắng át ngay: “Rõ khéo lắm, chỉ lo bò trắng răng.
Ai n...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





