CHÀO XUÂN MỚI
Truyen Ngan Chu Lai Chu Lai.pdf

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 16h:01' 05-07-2025
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 16h:01' 05-07-2025
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Bức Chân Dung Của Người Đàn Bà Lạ
Vào một buổi tối ảm đạm, có một người đàn bà chừng trên bốn mươi tuổi
đến gõ cửa phòng họa sĩ Lưu An.
- Xin phép hỏi bà là ai? Bà muốn gì ạ? - Ông nói.
Người đàn bà đưa đôi mắt đẹp và buồn thăm thẳm nhìn khắp gian phòng
một lượt rồi dừng lại rất lâu trên khuôn mặt họa sĩ, lát sau mới nói chậm
rãi: - Tôi đến đặt ông vẽ một bức chân dung.
- Chân dung ai?
- Người đang ngồi trước mặt ông.
Lưu An buông cây bút vẽ, nhìn lên. Trong đời cầm cọ, ông đã tiếp xúc với
không ít các loại người, đã chứng kiến khá nhiều nhân vật nhưng vẻ điềm
tĩnh, giọng nói tự tin thái quá ở người đàn bà này khiến ông hơi lạ. Dáng
người gầy guộc, ăn vận xoàng xĩnh, khuôn mặt bình thường nếu không
muốn nói có phần còn hơi tiều tụy. Tất cả chỉ có vậy thôi mà cớ sao ánh
mắt lại tỏa ra nhiều vẻ tự tạo đến thế? Một đôi mắt hơi dài dại của người
nghĩ ngợi nhiều. Tự nhiên ông thấy bực mình.
- Xin lỗi! Tại sao bà lại đến chính tôi chứ không phải một ai khác?
- Bởi vì tôi đã xem tranh của ông, vì người ta đã nói nhiều về ông. Tôi
muốn có một bức tranh hoàn hảo, vậy thôi.
Hoàn hảo ư? Bà ta là cái gì mà lại có cái lối nói năng như một mệnh phụ
phu nhân như thế? Hoàn hảo! Buồn cười! Chắc là lại một con mẹ thần kinh
ngộ nghệ đến quấy rầy đây.
- Xin lỗi! - Ông cố nói bằng một chất giọng mềm mỏng để che đi cái cười
giễu cợt cứ chực hiện ra nơi khóe mép - Tôi không vẽ chân dung và nói
chung từ lâu tôi không màng tới thể loại này nữa. Bà có thể cảm phiền đi
nơi khác.
- Tôi sẽ trả ông gấp mười người khác nếu ông vẽ.
- Gấp mười? - Tự dưng ông nổi máu tò mò - Tức là bao nhiêu thế thưa bà?
- Ba triệu.
- Ba triệu? Trời đất! - Ông trợn tròn mắt - Thế bà có biết vẽ một bức chân
dung giá bình thường là bao nhiêu không? Tất nhiên bức vẽ ấy ít liên quan
đến chất liệu vàng bạc.
- Tôi không biết vì hình như nghệ thuật không có giá.
- Vậy tại sao bà lại trả vậy?
- Tôi nghĩ ông sẽ có đủ tiền sống một năm để hoàn tất bức vẽ của tôi.
- Hả?... Bà nghĩ rằng, để vẽ xong bức chân dung ấy tôi phải bỏ ra một năm?
- Tôi cho là thế hoặc lâu hơn.
Tới đây thì họa sĩ Lưu An không chịu nổi nữa:
- Tóm lại bà là ai? Và bà muốn gì ở tôi?
- Tôi là một người đàn bà bình thường muốn có bức chân dung cuối đời
của mình - Người đàn bà vẫn trả lời bình thản, sắc thái trong mắt vẫn
không hề thay đổi - Và tôi sẽ trả công cho ông sòng phẳng, đúng như tài
năng ông bỏ ra, đơn giản vậy thôi ạ!
Gõ gõ ngón tay bết mầu xuống mặt bàn một lát, ông nheo mắt nhìn người
khách rồi nhìn ra ngoài khung cửa sổ, rồi lại nhìn khách... Cuối cùng ông
đấu dịu.
- Thôi được rồi. Bà ghê gớm lắm! Thế bà muốn chất liệu nào? Bút sắt, sơn
dầu, bột mầu hay sơn mài? Hay cả bốn thứ gộp lại?
- Tôi không quan tâm nhiều đến chất liệu, thưa ông! Đó là quyền của
người vẽ. Cái tôi cần là: TÔI ĐúNG Là TÔI. Ông muốn vẽ kiểu gì cũng
được, càng giản dị càng tốt.
- Vâng! Thế bao giờ bà có thể cho tôi cái quyền được mời bà ngồi để tôi
bắt đầu công việc?
- Ngay bây giờ nếu ông muốn.
- Vâng, ngay bây giờ, tôi chấp nhận. Mời bà ngồi vào cái ghế ở cạnh nơi
cửa sổ kia. Mời bà! - Ông nói như ra lệnh.
Buổi chiều hôm đó, với một chút thích thú, chút tò mò, hiếu thắng và cả
một chút cay cú xáo trộn trong đầu, họa sĩ Lưu An lôi cái khung vải giăng
đầy mạng nhện bị bỏ quên lâu ngày ở gầm giường ra và bắt đầu công việc
mà không hề có một tý nào hứng thú...... Họa sĩ Lưu An lâu nay chưa động
bút vẽ một bức chân dung nào nghiêm ngắn, cũng như ông chưa vẽ được
một cái gì cho ra tấm ra món theo ý nghĩa thường gọi của ngành nghề cả.
Ông đang lụn bại. Lụn bại toàn diện cả về cuộc sống, kinh tế hạnh phúc gia
đình lẫn sự nghiệp. Sau khi người vợ trẻ cùng nghề của ông bỏ ông ra đi
cùng với đứa con trai mười hai tuổi, sau khi cái Gallery thứ hai của ông bị
phá sản, bị giới phê bình chỉ trích, bị người đời quên lãng, không bán được
một cái tranh nào, ông bắt đầu xa rời dần nghệ thuật. Buồn chán, thiếu
thốn, cô đơn và nợ nần, ông không từ chối bất cứ một thứ gì có thể kiếm
ra tiền mà ít phải đổ tâm huyết nhiều nhất: Kẻ biển, vẽ pa nô, áp phích, đắp
tượng, viết khẩu hiệu... Cho tất cả các hội trường, nơi công cộng, đám
cưới. Nếu có bạn bè giới thiệu, ông sẵn sàng đêm ngày lao động vào những
sê-ri tranh lụa theo mô-típ quen thuộc: Cây đa, bến nước, sân đình, nhằm
thỏa mãn thị hiếu cho những người ngoại quốc lắm tiền ưa mốt lạ Đông
phương yên ả. Tóm lại là ông làm hết, làm đúng theo nghĩa thợ mặc dù đã
có một thời ông rất đỗi khinh miệt cái từ rẻ rách này, mặc dù đã có một
thời ông là tay vẽ tài hoa, luôn đứng cạnh những họa sĩ bậc thầy, cây đa cây
đề của quốc gia mà không thấy tủi hổ.
Tuy vậy, cùng với năm tháng nghiệt ngã, dẫu rằng những ngón tay nghệ sĩ
nơi ông đã méo mó đi nhưng trái tim nghệ sĩ chân thật trong ngực ông vẫn
thập thõm đập khôn nguôi ở một chỗ nào đó sâu kín lắm. Ông day dứt, ông
khổ sở, ông đau đớn, ê chề mỗi khi phải ngửa tay nhận những đồng tiền
gần như của bố thí của thiên hạ. Ông triền miên nhận thấy khoảng trống
rỗng nhạt thếch ở trong lòng mình mỗi ngày mỗi nới rộng mà không sao
vùng thoát ra được. Ông buông lơi mình vào những ly rượu sáng đêm và
để hôm sau ngủ dậy, mồm miệng đắng nghét, lại tiếp nhận thêm một cái
com-măng uốn sấy tóc, chữa truyền hình tủ lạnh, chuyên trị bệnh đái
đường, đái buốt, đái ra mủ... khác. Công sản ra quấy quá, tiền thu vào rẻ
mạt, lắt lẻo sống qua ngày, qua cái thời ly loạn của nghệ thuật, cái thời thứ
rởm cưỡng dâm thứ thật, cái thời mọi giá trị tinh thần, vật chất đều hết sức
lộn sòng, cái thời chứa chấp cuộc đồng tính luyến ái dữ dội giữa ăn xài và
phá phách.
Vậy thì để có ba triệu cho một bức chân dung nhạt nhẽo như thế này là béo
bở quá rồi còn gì. Cám ơn trời phật đã run rủi cho con mẹ trưởng giả học
làm sang ấy đến đây để ông có thể sống được một năm sạch sẽ, không phải
bán linh hồn cho hè phố, không bị ba cái đái buốt, đái ra mủ kia réo gào, úp
chụp lên đầu. Và như thế biết đâu chả có thể trở lại, vẽ lai được một cái gì
đó của chính mình chăng? Biết đâu!... Lây lan một chút khói trá mơ hồ,
ông mỉm cười huơ bút vẽ lên...
Nhưng sự đời lại không giống như ông tưởng.
Với một bức chân dung đơn giản như thế này, ông dự tính phác mộc mất
một ngày, phẩy mầu hai ngày, vị chi chỉ cần khoảng ba ngày hoặc bốn ngày
là xong, là nhận được tiền. Nhưng... Thật kỳ lạ! Ngay ở giai đoạn vẽ mộc,
ông đã thấy cây bút trong tay mình vấp váp liên tục, vấp váp đến khốn
khổ, như có một lực cản siêu hình nào đó cứ độc địa lái ngọn bút của ông đi
chệch khỏi mọi thứ cảm nhận thông thường.
Người đàn bà vẫn ngồi đó, lặng phắc, cạnh cửa sổ, bình thản, đôi mắt nhìn
xa xăm ra ngoài khung trời hình vuông, đôi môi mím nhẹ không ra vui
cũng không ra buồn, có lúc lại nhạt nhòa vô cảm, ngồi đó mà cũng không
phải ngồi đó... Chỉ thế thôi mà hai giờ đồng hồ đã trôi qua, ông vẫn không
tài nào nắm bắt được cái thần sắc mà xét đến cùng là chẳng có chi đặc biệt
ấy. Ông đã thay đến khung vải thứ ba, thay đến tờ crô - ki thứ tư mà khuôn
mặt bình dị của người đàn bà kia vẫn vuột đi xa tít, vô hình vô ảnh. Mồ hôi
ông vã ra, ngực nóng ran, sống lưng mỏi dần, hai bàn tay cóng ngọng lại
tưởng chừng như là tay của kẻ khác. Ông có cảm giác mình sắp sửa lên cơn
sốt rét rung võng như những ngày ở Trường Sơn năm nào... Và ông buông
bút xuống, bất lực:
- Xin lỗi! Hôm nay tôi hơi... bị mệt. Hẹn bà ngày mai trở lại.
Người đàn bà chớp mắt đứng dậy, vẫn bình thản đến tê lạnh nhưng đôi mắt
nhìn vào ông thật buồn, nét mặt cũng thật buồn, cái buồn sâu thẳm, xót xa
mà chỉ thoáng nhìn vào, ông đã thấy mình bị ngợp.
- Ngày mai... Rất tiếc là tôi không thể trở lại được - Người đàn bà nói bằng
cái giọng âm u thoảng nhẹ.
- Thế thì tôi biết phải làm sao bây giờ? - Ông gắt lên - Bà định đùa tôi
chắc? Không có ai vẽ một cái chân dung nghiêm chỉnh mà người mẫu chỉ
ngồi đó có hai giờ đồng hồ bao giờ, bà hiểu chưa?
- Tôi hiểu - Người đàn bà vẫn hết sức từ tốn, thậm chí lại có phần dịu dàng
hơn - Chính thế mà tôi phải đi hai trăm cây số đến đây nhờ ông và tôi tin ở
ông.
- Bà mang cái tin ấy đi mà thờ Chúa. Tôi chỉ là một thằng người.
- Vâng! - Người đàn bà nói sau một chút cắn môi ngẫm nghĩ - Tôi sẽ cố...
cố trở lại. Nhưng nếu không trở lại được, tôi xin gửi ông tấm ảnh này. ảnh
tôi chụp đầu năm, ông có thể căn cứ vào đó. Tôi xin phép đưa trước ông
hai triệu. Sáu tháng sau, cũng ngày này, giờ này, sẽ có người tới đưa nốt
cho ông một triệu và mang tranh về. Xin phép ông. Chúc ông thành công!
Đặt số tiền được nói trong một miếng dù pháo sáng mầu cỏ úa có chút
phẩm đỏ loang trên mặt như cánh hoa niêm phong lên bàn, không để cho
ông phản ứng gì, bà ta cầm lấy túi xách tay đi luôn ra cửa.
Phải mất một lúc lâu sau đó, ông vẫn chưa hiểu cái gì đã vừa xảy ra với
mình và tự trong xôn xao tiềm thức, ông còn cảm nhận rõ cái hơi hướng lạ
lẫm, vô hình của người đàn bà bí hiểm ấy vương lại trong lòng. Họa sĩ
không bật đèn, ngồi lặng đi trong bóng tối rồi vỡ òa một tràng cười mà
không hiểu mình cười cái gì?
*
Ngày hôm sau họa sĩ Lưu An treo tấm biển Đi vắng ngay trước cửa rồi
lặng lẽ ngồi vào góc nhà nơi có cái khung vải trắng sáp và tấm hình của bà
ta để lại kẹp bên cạnh.
Ông làm việc âm thầm và nhọc mệt. Bà hàng xóm phòng đối diện chỉ thấy
mỗi ngày ông láng giềng tốt bụng và hơi lẩn thẩn mở cửa đi ra ngoài một
lần ăn uống cái gì đó rồi lại trở vào khóa trái cửa. Bà ái ngại thấy mỗi ngày
ông mỗi gầy đi và đôi mắt cứ long lanh như đang lên cơn sốt.
Ông đang lên cơn sốt thật! Cơn sốt sáng tạo, cơn sốt đam mê vĩ cuồng.
Ông đang cô độc trải qua cơn vật vã tinh thần mà đã lâu lắm rồi nó chưa hề
trở lại với ông. Những cái khung vải được thay nhau nhét xuống gầm
giường. Những tờ giấy crô-ki lem nhem liên tục bị xé, vo viên quẳng vào
sọt rác. Nhưng bức chân dung vẫn chưa nhích thêm được một chút nào
thậm chí, bằng bề dày kinh nghiệm ông cảm thấy nó không thể nhích thêm
được nữa! Quái lạ! Khuôn mặt người đàn bà cứ phồng lên xẹp xuống, lúc
xa lúc gần, khi mờ khi hiện, như ảo ảnh, như ma trơi, tưởng đã nắm bắt
được rồi nhưng mở tay ra lại trống trơn chẳng có gì. Có lúc ông ghì mắt
vào tấm ảnh căn theo từng nét, có lúc lại che nó đi bằng giấy báo để vẽ
bằng ký ức bức sốt và cũng có khi ông vẽ bằng cả hai: Nhìn và nhớ nhưng
tất cả đều vô hiệu. Vẫn không đúng, không giống, vẫn không phải bà ta. Bà
ta... Đến bây giờ nghĩ lại, nhớ lại, chiêm nghiệm lại, ông mới chợt nhận ra
rằng khuôn mặt ấy không nhợt nhòa như ông tưởng. Một khuôn mặt vừa
dịu hiền vừa cương nghị, vừa u hoài vừa rộn ràng sức sống, sâu sa và bồng
bột, vừa ấm nóng vừa lạnh tanh, đằng sau cái vẻ bình thản kia là cả một
dòng lũ nội tâm chảy xiết, lặng tờ đấy nhưng lại thật nhiều giằng xé, yếu
đuối vô cùng mà lại sắc sảo biết bao... Và đôi mắt nữa! Dường như có cả
một trời những mâu thuẫn, những nét nghịch đảo cùng ẩn chứa đằng sau cái
vẻ buồn dìu dịu ấy. Trời ơi! Có lẽ mọi điều nan giải, mọi điều bí mật về
hạt nhân hình họa đều nằm cả trong đôi mắt này.
Thời gian lặng lẽ trôi qua trong căn phòng nhỏ. Một tháng... Hai tháng...
Rồi ba tháng... Phần phác thảo mộc vẫn chưa xong. Người đàn bà cũng
không thấy trở lại nữa!
Đã có lần ông đã quyết định đóng cửa phòng đi tìm nhưng ra đến ngã ba,
ông lại quay trở vào. Bà ấy, con quỷ hiện hình ấy có để lại một mẩu địa chỉ
nào đâu ngoài cái gói tiền chết giẫm có cánh hoa đỏ loang ra trên miếng dù
xanh pháo sáng kia. Ông đã nghĩ. Nếu bà ta quay lại, dứt khoát ông sẽ trả
lại tiền, nếu cần trả cả lãi suất luôn thể để thoát khỏi cái cảnh bẽ bàng này,
để đêm đêm khỏi bị cái khuôn mặt có đôi mắt quái dị kia ám ảnh nữa. Đúng
là quái dị thật! Người đàn bà hiện về từ cái thế giới hư vô quái dị nào để
làm tình làm tội ông đây?
Mà cũng thật kỳ lạ! Đã có lúc mệt mỏi quá, ông quẳng ráo trọi cả đồ nghề
ra vườn, quyết định không vẽ nữa. Nhưng nửa đêm, không hiểu sao, như
có một ma lực hối thúc, ông lồm cồm trở dậy nhặt lại từng cái. Nỗi nhọc
nhằn phi thực này lâu dần đã ăn sâu vào đầu óc ông, càng nhọc nhằn, ông
lại càng thấy gắn bó vô hình với nó, rồi như không thể thiếu được nó. Nó
và ông, hai thành phần ghét bỏ nhau đã nhào trộn vào nhau thành một. Tâm
hồn ông cựa quậy, trái tim ông thắt bóp, mạch máu ông chảy mạnh hơn,
trong ông đang biến cải, đang rục rịch sống lại một cái gì lạ lắm, thân thiết
lắm nhưng cũng xa ngái lắm mà ông không tự biết...... Cũng vào một đêm
như thế, sau cả một ngày làm việc mụ mị, họa sĩ rơi người vào trong một
vùng ký ức xa xôi mà đã lâu lắm rồi ông không còn nhớ đến... Đó là một
đêm mưa rừng rơi không dứt, gió lạnh mang theo những hạt mưa li ti từ
khắp nơi thổi qua kẽ lá. Trong lán chỉ có hai người: Ông, một họa sĩ trẻ
mới từ nước ngoài trở về tình nguyện xin vào ngay chiến trường và cô gái
giao liên đang trên đường dẫn ông đến binh trạm. Ngọn lửa nhỏ bùng lên,
soi tỏ khuôn mặt trẻ thơ mịn màng. Quần áo cô ướt sũng, bó dính lấy cái
cơ thể nở nang, tròn lẳn của độ tuổi đang sức mười tám đôi mươi. Lửa vẫn
nổ tí tách. Không hiểu do lửa hay hơi ấm từ cái thân thể rừng rực kia tỏa ra,
ông bỗng thấy nóng ran cả người. Đột nhiên ông muốn vẽ và khe khẽ yêu
cầu cô cứ thế ngồi yên lặng. Rừng đêm... Mưa gió... Chiến tranh... Chết
chóc... Đời con gái gian nan... Ngày mai cái gì sẽ xảy ra với cô? Liệu có
còn được gặp lại nhau một lần?... Dòng cảm xúc lãng mạn và ngậm ngùi
choáng ngợp, ông vừa vẽ vừa thấy lòng mình rung lên khác lạ... Cô gái vẫn
ngồi lành hiền như con sóc, con chim bé bỏng ướt át tội tình lên ánh lửa.
Một khuôn mặt cằm tròn, một nước da xanh mầu lá đang ửng hồng, một
sống mũi xinh xinh, một đôi mắt nhìn đi đâu xa xăm về phía bên kia ánh
lửa, lửa chơi với trong mắt, lửa viền quanh má cô một đường sáng tạo nao
lòng... Rồi đột ngột đôi mắt ấy quay lại phía ông. Đôi mắt ấy không rời
ông ra nữa. Đau đáu, khắc khoải, chới với, dạn dĩ và xót xa đến ngượng
ngùng. Trái tim ông ớn lạnh. Thân thể cường tráng nơi ông hối thúc ông
được che chở, được hong khô, sưởi ấm. Mắt ông bắt ánh lửa trong mắt cô,
cháy lên. Ông tiến lại... Ai đã trải tấm dù pháo sáng mầu cỏ úa trên vai cô
xuống nền đất ẩm? Em chết mất!... Khuôn ngực căng cứng của cô nâng
ông lên, sưởi ông và dìm ông xuống, chìm lịm, ôi anh! Ôi anh!... Em chết
mất!... Cô cắn vào vai ông đến rớm máu. Suốt đời em sẽ chờ anh! Cô nói
lên, đôi môi nhỏ nhòa máu và nước mắt... Khi đỡ cô ngồi dậy, dường như
ông thoáng nhìn thấy có một chút sắc đỏ vương lại trên lá dù mầu cỏ úa...
Sáng hôm sau trở dậy, ông không còn thấy cô gái đâu nữa! Một đoàn khách
cần cô nhanh chóng dẫn ngược trở lại để tránh tọa độ B52. Còn ông, sau
một chút bâng khuâng, ông tiếp tục hăm hở đi sâu xuống mặt trận. Sâu
nữa... Và từ ấy, bao cảnh đời đã trôi qua, bao trận đánh đã ập vào, vài ba cô
gái khác cũng đã đến với ông rồi lại đi, thú thật ông không có thời gian
nghĩ đến, không kịp nghĩ đến cô nữa - Một cô gái giao liên ngẫu nhiên gặp
giữa rừng mà vội vàng tới nỗi, cái tên cô ông cũng không hỏi kịp! Rồi hòa
bình...
Tiếng nổ cháy rừng và mùi khét lẹt xộc lên khiến ông choàng tỉnh... Một
ngọn lửa nhỏ đang phực lên nơi khung vải ông đang vẽ dở. Ngọn lửa đang
liếm gần vào tấm ảnh người đàn bà. Tấm ảnh cong lên... Ông chợt nhớ
đêm qua mất điện, ông phải đốt nến làm việc rồi mệt quá thiếp đi. Lát sau,
khi ông cuống quýt dập rụi được ngọn lửa thì tấm ảnh đã cháy sém hết một
phần ba!... Nhưng chính hai phần còn lại đã làm ông sững sờ!... Chao ôi!
Dưới quầng sáng nhập nhòa của cây nến mới được đốt lại, trong cái mùi
khen khét quá ư quen thuộc của rừng bị đốt cháy, của bom đạn còn vương
vất đâu đây, khuôn mặt người đàn bà bỗng dưng mềm lại, trẻ thơ mịn
màng, đang rọi về ông cái ánh nhìn bé bỏng, tội tình và có phần trách
móc... Ông vồ lấy tấm ảnh đưa ra sát ngọn nến... Nhưng rồi ông lại buông
rơi xuống, tuyệt vọng! Khuôn mặt có viền sáng nôn nao của cô gáo giao
liên năm nào không còn nữa, trong hình vẫn chỉ là nét mặt bí hiểm của
người đàn bà đang nhìn ông hết sức dửng dưng.
Nhưng như thế cũng là đủ.
Cái khoảnh khắc ma quái không rõ từ trong ông tỏa ra hay do chính tấm
ảnh kia xuất thần, như một chớp lửa rừng già, đã làm đầu óc ông sáng
bừng lên. Ông đã hiểu mình phải vẽ cái gì và vẽ như thế nào rồi. Trời ơi!
Tất cả chỉ là một chút ánh hồng nơi khóe mắt và một nét phẩy nhỏ ở khóe
môi. Chỉ thế thôi là khuôn mặt người đàn bà kia sẽ khác hẳn mà tại sao
suốt ba tháng trời vật lộn mà ông không thể nghĩ ra? Phải chăng ngọn lửa
rừng năm ấy và ngọn nến cháy lan vào ảnh hôm nay đã soi tỏ cho ông một
chi tiết mà nếu có khổ công tìm tòi cả đời trong phòng kín chắc cũng không
ra?
Toàn bộ cảm hứng nơi ông tưởng đã giá lạnh, giờ đây bỗng nóng bức trở
ngược về quá khứ, trở ngược về những năm tháng đau thương và lãng
mạn, những năm tháng quá đỗi nhọc nhằn nhưng cũng là những năm tháng
trong trẻo, đẹp đẽ nhất đời ông, thế hệ của ông. Và ông vẽ. Vẽ đêm ngày
mài miệt. Tấm biển ĐI Vắng vẫn im phắc treo ngoài cửa. Những khung vải
không còn bị vất xuống gầm giường, những tờ crô-ki dày dặn đã nằm yên
trên giá. Bức phác thảo xong, ông định sử dụng bột mầu nhưng sau đó ông
lại quyết định xử lý những gam mầu chói gắt và thâm trầm của sơn dầu.
Tất cả chỉ là một chút ánh hồng thẳm sâu nơi khóe mắt, một nét phẩy nhỏ
ngọt ngào nơi khóe môi, một đường viền tỏa rạng nâng cả khuôn mặt lên
khỏi mọi nỗi gian truân và ngầu bọt. Cái gian truân của ngày hôm qua và
cái ngầu bọt ngày hôm nay. Ông lại đang bồng bềnh trong một cơn sốt.
Cơn sốt đam mê của sáng tạo. Cơn sốt quá khứ. Ông không chỉ vẽ một bức
chân dung, sâu đậm hơn, ông đang sống lại và làm sống lại qua hình ảnh
của người đàn bà đó một thời trai trẻ sống động, thuần phác tươi nguyên
của mình. Đã lâu lắm rồi ông mới lại có những khoảnh khắc sáng tạo hết
mình, sáng tạo thăng hoa đến tan chảy thế này.
Đúng sáu tháng sau, bức chân dung được hoàn tất bằng một nét chấm phá
táo bạo cuối cùng. Họa sĩ gần như kiệt sức, thân thể gầy tọp đi đến năm ký
lô, tóc bạc nhiều hơn nhưng riêng đôi mắt lại bàng bạc một cõi tĩnh lặng
siêu phàm.
Tắm rửa sạch sẽ, cạo râu, thay một bộ đồ mới, ăn một bữa cơm tiệm thật
ngon, ông trở về ngồi im lặng ngắm bức tranh, bồn chồn chờ chủ nhân của
nó đến tiếp nhận. Nắng chiều từ ngoài cửa sổ tràn vào dịu nhẹ. Khuôn mặt
người đàn bà sáng tỏa trong một vẻ đẹp nội tâm khác lạ. Vẫn là khuôn mặt
ấy nhưng thấm đậm hơn, thần sắc hơn. Vẫn là cái ánh nhìn dìu dịu buồn
ấy nhưng lại lom dom cháy những đốm sáng của sự vị tha nhân hậu, của sự
sắt son chung thủy bên trong. Nhìn vào đó, tâm hồn ta bỗng tự dưng yên ả
dù cuộc đời có ngang ngửa thế nào cũng chẳng nỡ đánh mất niềm tin. Đôi
mắt biết nói, biết chia sẻ và biết tâm tình se sẽ. Đôi mắt của cô gái giao liên
áo quần sũng ướt ngày nào pha trộn với cái nhìn điềm tĩnh thể tất của
người đàn bà đã luống tuổi hôm nay.
Một tiếng gõ cửa khe khẽ vang lên... Cô ấy rồi! Bà ấy đến rồi! Người họa
sĩ già reo thầm một tiếng trong đầu. Chao, tối nay nếu có thể được, ông sẽ
nói với bà ấy thật nhiều, sẽ ôn lại, kể lại mọi thứ chuyện và nếu... Nếu bà
ấy không để bụng, không ruồng rẫy, không oán trách thì biết đâu... Phải,
biết đâu hai người có thể sống lại những giây phút đã lùi xa bên ngọn lửa
giữa cánh rừng bom đạn ấy? Với tâm trạng hết sức bồi hồi, ông run run
đặt tay lên nắm đấm cửa...
Nhưng hiện ra trước mặt ông không phải bà ta mà lại là một cô gái mảnh
khảnh có cái nhìn tư lự. Cô ta mở to đôi mắt khá đẹp nhìn ông một lát rồi
nói nhỏ:
- Bà hiệu trưởng nhờ cháu đến bác lấy bức tranh.
- Bà hiệu trưởng nào? - Ông hỏi với giọng có chiều hụt hẫng.
- Bà hiệu trưởng cách đây đúng sáu tháng đã đặt bác vẽ một bức chân dung.
- Nhưng... Thế bà ấy đâu - Giọng ông đã tỏ ra sốt ruột - Và cô là ai?
- Dạ, đây là thư của bà ấy, bác đọc sẽ rõ.
Mải cập rập xé chiếc phong bì dán rất cẩn thận, ông họa sĩ không để ý thấy
cô gái đang quan sát căn phòng của ông cũng vẫn bằng đôi mắt chậm rãi
dìu dịu buồn của người đàn bà cách đây sáu tháng kia.
Bức thư viết bằng nét chữ rời rạc, có đôi đoạn gẫy vụn:
"Anh Lưu An!
Chắc anh đã vẽ xong bức chân dung và chắc anh cũng đã nhớ ra em là ai.
Xin lỗi đã làm cho anh phải nhọc lòng và phải nhớ những điều không nên
nhớ. Anh biết không? Sau cái đêm ở lán ấy, em đi tìm anh khắp nơi, đi hỏi
tin anh ở khắp mọi chỗ nhưng có người nói anh đã chuyển ra Bắc, người
khác nói anh đi xuống sát ven đô, lại có người bảo anh bị thương, bị sốt rét
ác tính chết rồi! Buồn quá! Em khóc suốt một tuần rồi làm một mâm giữa
rừng giỗ anh. ít tháng sau em được điều đi học. Ra trường em lấy chồng,
sinh con nhưng hình ảnh anh không lúc nào nguôi ngoai trong em. Đó là
mối tình đầu, là lần hiến dâng thứ nhất, trọn vẹn và say đắm không bao giờ
có được nữa. Anh có tin không? Có lẽ cái vết đỏ vương lại trên tấm dù
mầu cỏ úa, dấu hiệu một đời trinh trắng hiến cho anh đêm đó sẽ nói hộ em
nhiều hơn những điều em muốn nói.
Thế rồi một lần đọc báo thấy hình anh và phòng tranh GALLERY đầu tiên
của anh, em đã mừng đến rơi nước mắt. Em đã lén đến đó để được nhìn
anh, chứng kiến thành công của anh và cũng để biết anh có... gia đình, một
gia đình thuận hòa, ấm cúng và đàng hoàng. Người ta bảo thế. Trước tình
cảnh ấy, em tự cảm thấy mình thừa, thấy là rất vô duyên nếu đứng ra nhận
anh. Nhận để làm gì khi giữa hai người không còn gì nữa, khi anh đang
được vầng hào quang của thành công vây bủa bốn xung quanh và nhận làm
gì khi nghĩ rằng, chắc gì anh đã còn nhớ em, một con bé giao liên mờ nhạt
ngẫu nhiên gặp giữa rừng rồi sớm mai lại chia tay. Thì đến ngay cái tên của
em anh đâu đã kịp hỏi kia mà! Thế là em ầm thầm đi ngược lại trăm cây số
trở về...
Nhưng, giống như sự ám ảnh của vô thức của một thời sôi nổi không thể
dùng lý trí thoát vùng ra được, thỉnh thoảng em vẫn đến với anh. Đến để
không dám vào, đến để chỉ lảng vảng ngoài đường nhìn qua hàng song sắt
vào phòng vẽ của anh rồi lại lủi thủi ra về. Chính trong những lần như thế,
em đã được biết được gia đình anh không còn thuận hòa như trước. Vợ
anh không yêu anh. Anh bỏ bê công việc, cái GALLERY thứ hai của anh
không có tiếng vang... Có lần nhìn anh bơ phờ đi lại trong phòng, tóc bạc
từng đám, hai mắt trũng sâu, tay cầm cái bánh mì mà không đưa lên miệng
nhai nổi, thương quá, em đã định cứ liều vào với anh, chăm sóc anh, được
nói với anh vài điều nhưng rồi em lại quay đi. Là đàn bà với nhau, dù có
thế nào em cũng không thể nhân dịp này mà nhảy vào chiếm chỗ của cô ấy.
Em không thể. Rồi vợ chồng anh chia tay. Rồi anh xa rời nghệ thuật, anh
hoàn toàn không còn là anh nữa...
Đó cũng chính là lúc em bắt đầu phát bệnh do thứ chất độc da cam đã ủ
trong thân thể từ hồi ở rừng mà không biết. Em biết mình không còn sống
lâu nữa và càng cồn cào nghĩ đến anh. Và thế là em đã quyết định tìm đến
anh để đặt vẽ một bức chân dung. Em đâu có thích chân dung nhưng thấp
thỏm hy vọng rằng nó sẽ là cái cớ để nhắc anh trở về với những năm tháng
tốt đẹp nhất của chúng ta, để mong anh tĩnh trí lại. Thế thôi. Và không hiểu
sao em tin anh sẽ tĩnh trí được.
Anh Lưu An! Khi anh nhận được thư này thì em đã đi rồi. Đi xa lắm! Phận
em thế là xong, hoàn toàn thanh thản. Chỉ áy náy về anh như áy náy về một
cái gì thân thiết nhất nhưng cũng mỏng manh không có thật nhất của đời
mình. Lạ thế! Trong trái tim yếu đuối của đàn bà chúng em, có những góc
sâu lắng mà đàn ông các anh ồn ào không bao giờ hiểu nổi đâu.
Em đã đến giờ phải đi... Em cầu mong cho anh sức khỏe, niềm vui, nghị
lực và trở lại đúng là anh những ngày ấy. Xin trả nốt anh số tiền còn lại
nhưng không phải số tiền một triệu mà là mười lăm triệu. Cả cuộc đời,
cộng thêm vài lần đi nước ngoài, em đã dành dụm được, chỉ có thế. Em để
lại cho chồng em một nửa và anh một nửa. Anh có thể sử dụng nó vào
GALLERY thứ ba của anh tới đây được không? Em mong...
Bởi vì, đây mới là điều hệ trọng nhất: Cô gái cầm số tiền này đến anh để
lấy bức chân dung chính là giọt máu anh đã để lại trong em sau cái đêm
rừng mưa rơi không dứt ấy. Tên nó là An!
Vĩnh biệt anh!"
Đọc xong lá thư, mắt nhòa lệ nhìn lên, người họa sĩ già bỗng thảng thốt
rùng mình... Trời! Có phải cái cô gái giao liên áo quần ướt sũng có đôi mắt
ngây thơ, khắc khoải bên ngọn lửa lán trại năm nào đang đau đáu nhìn ông
kia không?
- Con!... Tiếng gọi thốt lên từ buồng phổi ọp ẹp không đủ sức thoát ra
ngoài mà lại chìm sâu vào gan ruột.
12-1991
GIÓ KHÔNG THỔI TỪ BIỂN
Chu Lai
dtv-ebook.com
Phần I
Mấy bữa nay xuất hiện ở trước chợ Vườn Chuối một người đàn ông
bán thuốc nam. Nhìn vẻ ngoài anh ta chẳng có gì đáng chú ý. Tuổi anh ta,
vì nước da mai mái nên thật khó đoán. Tóc anh ta để dài, rồi xoăn, người
tầm thước. Hai con mắt nhìn vừa hiền lành, vừa rụt rè như tất cả những
người dân cao nguyên một năm đôi bận xuống thành phố mua bán. Nếu có
gì khác chăng, thì là việc các môn thuốc của anh ta thường được nhiều
người mua, nhiều người tới ngó nghiêng.
- Cái nhà anh này làm ăn coi bộ thiệt thà.
- Dùng thuốc của anh trị bịnh cho con nít thì khỏi liền.
- Tiền nong ông cũng lấy chừng mực lắm, không mắc như mấy người
khác đâu.
Bà con đi chợ thường nói về anh như vậy. Có người khen ngay trước
mặt, anh chỉ cười. Cái cười ngượng nghịu như chỉ quen với núi đồi hoang
vắng mà không quên phô bày tình cảm ở trước phố chợ đông người, để lộ
hàm răng xỉn màu ngồ ngộ như cái cười của đứa trẻ sún răng.
Dáng ngồi làm lũi của anh thật tương phản với cảnh chợ nhức mắt
những sắc màu, những ồn ào chát chúa của hàng rẫy quán tiệm, của những
tốp lính người Việt, người ngoại quốc xộc vào, xộc ra, nghiêng ngả và của
tất cả những âm thanh hỗn tạp, kì quái vốn có của một cái chợ tràn ngập
hàng hóa. Màu áo chàm của anh càng tương phản với tòa cư xá Mỹ cao vòi
vọi ở gốc phố bên kia đường. Vào những lúc xế chiều, cái dáng nhỏ nhoi
hơi khập khiễng của anh bị bóng rợp tòa nhà làm bạc đi xiêu vẹo. Anh
ngước nhìn lên một chút, mặt hơi nhăn lại như bị ngộp thở rồi lại cúi
xuống chậm rãi cất từng bước một.
Người bán thuốc đi tìm chỗ nghỉ đêm.
Vào những lúc ấy, nếu anh bớt rụt rè đi một chút hoặc giả có ai đó đột
nhiên gọi lại đưa nốt số tiền mà anh quên chưa lấy, có lẽ anh sẽ bắt gặp
một đôi mắt từ xa đang dọi thẳng vào gáy mình. Dưới đôi mắt ấy là cái
miệng mím chặt và phía trên vàng trán vuông căng ra, kéo đôi mắt xếch lên.
Chỗ nghỉ đêm của anh thường phụ thuộc vào tiết trời mưa hay tạnh.
Mưa thì ngồi bó gối thu lu trên sạp hàng, tạnh lại nằm cong queo dưới bất
cứ một mái hàng hiên nào. Gặp bữa kiếm được khá tiền, anh thường ghé
vào cái quán trọ lợp mái tôn, tường ghép bằng vỏ đồ hộp gần bùng binh.
Cũng có đêm trời trở lạnh, những người lính quân cảnh hoặc cảnh sát dã
chiến đô thành đôi lúc gặp anh đi thơ thẩn nơi này nơi nọ cũng như tất cả
những đứa con bụi bặm của đêm không có mái lá che thân. Tóm lại chẳng
có gì đáng lưu tâm.
Riêng đêm nay anh lại nghỉ ngơi trong một ngôi nhà nhỏ dưới chân cầu
xa lộ. Đang trên đường đến bến xe với ý định nghỉ tạm qua đêm để sáng
mai xuôi về Thủ Đức bán nốt số thuốc còn lại thì bà má từ trong ngôi nhà
đó hớt hải chạy ra nằn nì mời anh vào nhà chữa bệnh cho thằng cháu chưa
đầy hai tuổi.
Thằng bé ba hôm nay sốt cao, lên cơn co giật, người ta mách ở Tân
Bình có ông lang zếch chữa các bệnh trẻ con hay lắm. Chưa chạy đủ tiền
đưa con đi nhà thương, nghe vậy mừng quá, chị tất tả định đi luôn. Bà mẹ
lắc đầu: “Tối rồi. Đường đất bây giờ hỗn độn lắm. Đàn bà con gái một
thân một mình đi không có được đâu. Để mẹ chạy ra chợ xem ông thầy
thuốc nam còn đó thì rước về”. Nghe má nói phải nhưng nóng ruột, chị
không chờ được. Vả lại, ông thầy thuốc nam đó mới nghe nói mát tay chứ
thực hư đã biết thế nào.
Còn lâu mới tới giờ giới nghiêm mà đường phố đã vắng người qua lại.
Thời buối nhá nhem này, không ai dại gì ra đường buổi tối. Không gặp
phải mấy người cảnh sát, quân cảnh giữ lại hạch xách cũng đụng bọn du
thủ du thực làm rầy. Đó là chưa nói đến chuyện mấy cha lính Mỹ nhậu say
rồi không cón đếm xỉa gì đến phép tắc giao tiếp với người bản xứ nữa. Tốt
nhất là cứ kín cửa cái then, không hay không biết gì cả.
Chị đi như chạy. Những cơn co giật của đứa con làm ríu chân người mẹ.
Chị đi mà không cần biết cái gì đã xảy đến với mình. Tuy nhiên tới đầu
một cái hẻm tối hun hút, bước chân chị hơi chựng lại: hẻm Đầu Bò! Cái
tên này bao lâu nay thường gây lo âu cho những người qua đường. Người
ta nói những dân dao búa tối nào cũng tụ bạ ở đây ăn uống nhậu nhẹt sau
một ngày tỏa ra làm ăn trên khắp các ngõ ngách trong thành phố. Và cũng
tụ bạ luôn cả những cô gái làng chơi. Hình như cứ ở đâu có du đãng là ở đó
có cái loại gái này. Nó tồn tại như bóng với hình, nương tựa, bổ sung cho
nhau. Người non gan, ban ngày đi qua đây còn thấy rờn rợn chứ đừng nói
ban đêm. Ngay cả cảnh sát an ninh nhiều khi cũng kiếm cớ lảng tránh hoặc
phóng xe ào qua cho xong chuyện. Dính với đám này lằng nhằng lắm. Đã
từ lâu, hẻm Đầu Bò tồn tại như một vương quốc riêng, ngoài vòng pháp
luật.
Tất cả những điều tồn tại ấy chị đều biết nhưng bộ mặt tái xám của đứa
con không cho phép chị phung phí thêm một phút giây nào nữa. Chị đi qua
những căn nhà tối tù mù, bước trên những khối gạch, đá, xi măng xù xì,
hốc hoắm. Một bóng đàn ông từ trong bóng tối tiến ra:
- Đi đâu đó? Lại đây cô em!
Không thèm trả lời, chị vẫn bước, để mặc cái bóng đàn ông ấy chưng
hửng giữa đường. Chị đang đi gần tới một cửa tiệm mờ khói thuốc, có ba
người đàn ông ngoảnh mặt nhìn đăm đăm ra cửa. Có lẽ họ ngồi đây đã lâu
và bây giờ không còn gì để nói với nhau nữa nên âm thầm đốt thuốc. Chai
lọ, chén bát nằm ngả ngốn đầy bàn. Người ngồi giữa nhỏ con, chìm trong
bóng tối, đầu chùn xuống vai như ông già, chỉ riêng đôi mắt là ánh lên cái
vẻ ranh mãnh, lì lợm. Đôi mắt ấy vấp phải người đàn bà và nheo lại.
- ủa con nhỏ nào kia?
- Lạ hoắc! - Người ngồi bên trái mặc áo lính Mỹ rộng thùng hơi nhao
đầu ra cửa, trả lời. Không phải bọn con gái tao bao ở đây.
- Chắc vậy không? Con nhỏ này trông được quá!
- Dạ chắc! Tôi nhớ kỹ mặt từng đứa mà anh Hai.
- Kỳ hè. Gọi lại đây coi.
Người thứ ba trung tuổi, thân thể to cao, đen đúa đứng dậy. Tầm lưng
đồ sộ của anh ta che lấp cả khuôn cửa sáng đèn, phủ chụp luôn lên cái dáng
mảnh khảnh của chị vừa sững lại.
- Cô kia đi đâu?
Nhìn lên một chút, không trả lời, chị tránh qua một bên định bước tiếp.
Cái bóng cao to chặn lại.
- Phép ở đây đã hỏi là phải trả lời. Đi đâu?
- Tôi đi mua thuốc cho con - Chị cau mày.
- Vậy chớ! Sao đi lối này?
- Đường phố là của chung mọi người. Tôi đi lối nào tùy tôi, ông tránh
ra.
- Ai cha! Nói năng nghe cứng cỏi gớm hà. Thế cô có biết chỗ này là chỗ
nào không?
- Biết! Nhưng có can hệ gì đến tôi? Tôi đi mua thuốc cho con tôi.
- Thế cô có biết...
Vào một buổi tối ảm đạm, có một người đàn bà chừng trên bốn mươi tuổi
đến gõ cửa phòng họa sĩ Lưu An.
- Xin phép hỏi bà là ai? Bà muốn gì ạ? - Ông nói.
Người đàn bà đưa đôi mắt đẹp và buồn thăm thẳm nhìn khắp gian phòng
một lượt rồi dừng lại rất lâu trên khuôn mặt họa sĩ, lát sau mới nói chậm
rãi: - Tôi đến đặt ông vẽ một bức chân dung.
- Chân dung ai?
- Người đang ngồi trước mặt ông.
Lưu An buông cây bút vẽ, nhìn lên. Trong đời cầm cọ, ông đã tiếp xúc với
không ít các loại người, đã chứng kiến khá nhiều nhân vật nhưng vẻ điềm
tĩnh, giọng nói tự tin thái quá ở người đàn bà này khiến ông hơi lạ. Dáng
người gầy guộc, ăn vận xoàng xĩnh, khuôn mặt bình thường nếu không
muốn nói có phần còn hơi tiều tụy. Tất cả chỉ có vậy thôi mà cớ sao ánh
mắt lại tỏa ra nhiều vẻ tự tạo đến thế? Một đôi mắt hơi dài dại của người
nghĩ ngợi nhiều. Tự nhiên ông thấy bực mình.
- Xin lỗi! Tại sao bà lại đến chính tôi chứ không phải một ai khác?
- Bởi vì tôi đã xem tranh của ông, vì người ta đã nói nhiều về ông. Tôi
muốn có một bức tranh hoàn hảo, vậy thôi.
Hoàn hảo ư? Bà ta là cái gì mà lại có cái lối nói năng như một mệnh phụ
phu nhân như thế? Hoàn hảo! Buồn cười! Chắc là lại một con mẹ thần kinh
ngộ nghệ đến quấy rầy đây.
- Xin lỗi! - Ông cố nói bằng một chất giọng mềm mỏng để che đi cái cười
giễu cợt cứ chực hiện ra nơi khóe mép - Tôi không vẽ chân dung và nói
chung từ lâu tôi không màng tới thể loại này nữa. Bà có thể cảm phiền đi
nơi khác.
- Tôi sẽ trả ông gấp mười người khác nếu ông vẽ.
- Gấp mười? - Tự dưng ông nổi máu tò mò - Tức là bao nhiêu thế thưa bà?
- Ba triệu.
- Ba triệu? Trời đất! - Ông trợn tròn mắt - Thế bà có biết vẽ một bức chân
dung giá bình thường là bao nhiêu không? Tất nhiên bức vẽ ấy ít liên quan
đến chất liệu vàng bạc.
- Tôi không biết vì hình như nghệ thuật không có giá.
- Vậy tại sao bà lại trả vậy?
- Tôi nghĩ ông sẽ có đủ tiền sống một năm để hoàn tất bức vẽ của tôi.
- Hả?... Bà nghĩ rằng, để vẽ xong bức chân dung ấy tôi phải bỏ ra một năm?
- Tôi cho là thế hoặc lâu hơn.
Tới đây thì họa sĩ Lưu An không chịu nổi nữa:
- Tóm lại bà là ai? Và bà muốn gì ở tôi?
- Tôi là một người đàn bà bình thường muốn có bức chân dung cuối đời
của mình - Người đàn bà vẫn trả lời bình thản, sắc thái trong mắt vẫn
không hề thay đổi - Và tôi sẽ trả công cho ông sòng phẳng, đúng như tài
năng ông bỏ ra, đơn giản vậy thôi ạ!
Gõ gõ ngón tay bết mầu xuống mặt bàn một lát, ông nheo mắt nhìn người
khách rồi nhìn ra ngoài khung cửa sổ, rồi lại nhìn khách... Cuối cùng ông
đấu dịu.
- Thôi được rồi. Bà ghê gớm lắm! Thế bà muốn chất liệu nào? Bút sắt, sơn
dầu, bột mầu hay sơn mài? Hay cả bốn thứ gộp lại?
- Tôi không quan tâm nhiều đến chất liệu, thưa ông! Đó là quyền của
người vẽ. Cái tôi cần là: TÔI ĐúNG Là TÔI. Ông muốn vẽ kiểu gì cũng
được, càng giản dị càng tốt.
- Vâng! Thế bao giờ bà có thể cho tôi cái quyền được mời bà ngồi để tôi
bắt đầu công việc?
- Ngay bây giờ nếu ông muốn.
- Vâng, ngay bây giờ, tôi chấp nhận. Mời bà ngồi vào cái ghế ở cạnh nơi
cửa sổ kia. Mời bà! - Ông nói như ra lệnh.
Buổi chiều hôm đó, với một chút thích thú, chút tò mò, hiếu thắng và cả
một chút cay cú xáo trộn trong đầu, họa sĩ Lưu An lôi cái khung vải giăng
đầy mạng nhện bị bỏ quên lâu ngày ở gầm giường ra và bắt đầu công việc
mà không hề có một tý nào hứng thú...... Họa sĩ Lưu An lâu nay chưa động
bút vẽ một bức chân dung nào nghiêm ngắn, cũng như ông chưa vẽ được
một cái gì cho ra tấm ra món theo ý nghĩa thường gọi của ngành nghề cả.
Ông đang lụn bại. Lụn bại toàn diện cả về cuộc sống, kinh tế hạnh phúc gia
đình lẫn sự nghiệp. Sau khi người vợ trẻ cùng nghề của ông bỏ ông ra đi
cùng với đứa con trai mười hai tuổi, sau khi cái Gallery thứ hai của ông bị
phá sản, bị giới phê bình chỉ trích, bị người đời quên lãng, không bán được
một cái tranh nào, ông bắt đầu xa rời dần nghệ thuật. Buồn chán, thiếu
thốn, cô đơn và nợ nần, ông không từ chối bất cứ một thứ gì có thể kiếm
ra tiền mà ít phải đổ tâm huyết nhiều nhất: Kẻ biển, vẽ pa nô, áp phích, đắp
tượng, viết khẩu hiệu... Cho tất cả các hội trường, nơi công cộng, đám
cưới. Nếu có bạn bè giới thiệu, ông sẵn sàng đêm ngày lao động vào những
sê-ri tranh lụa theo mô-típ quen thuộc: Cây đa, bến nước, sân đình, nhằm
thỏa mãn thị hiếu cho những người ngoại quốc lắm tiền ưa mốt lạ Đông
phương yên ả. Tóm lại là ông làm hết, làm đúng theo nghĩa thợ mặc dù đã
có một thời ông rất đỗi khinh miệt cái từ rẻ rách này, mặc dù đã có một
thời ông là tay vẽ tài hoa, luôn đứng cạnh những họa sĩ bậc thầy, cây đa cây
đề của quốc gia mà không thấy tủi hổ.
Tuy vậy, cùng với năm tháng nghiệt ngã, dẫu rằng những ngón tay nghệ sĩ
nơi ông đã méo mó đi nhưng trái tim nghệ sĩ chân thật trong ngực ông vẫn
thập thõm đập khôn nguôi ở một chỗ nào đó sâu kín lắm. Ông day dứt, ông
khổ sở, ông đau đớn, ê chề mỗi khi phải ngửa tay nhận những đồng tiền
gần như của bố thí của thiên hạ. Ông triền miên nhận thấy khoảng trống
rỗng nhạt thếch ở trong lòng mình mỗi ngày mỗi nới rộng mà không sao
vùng thoát ra được. Ông buông lơi mình vào những ly rượu sáng đêm và
để hôm sau ngủ dậy, mồm miệng đắng nghét, lại tiếp nhận thêm một cái
com-măng uốn sấy tóc, chữa truyền hình tủ lạnh, chuyên trị bệnh đái
đường, đái buốt, đái ra mủ... khác. Công sản ra quấy quá, tiền thu vào rẻ
mạt, lắt lẻo sống qua ngày, qua cái thời ly loạn của nghệ thuật, cái thời thứ
rởm cưỡng dâm thứ thật, cái thời mọi giá trị tinh thần, vật chất đều hết sức
lộn sòng, cái thời chứa chấp cuộc đồng tính luyến ái dữ dội giữa ăn xài và
phá phách.
Vậy thì để có ba triệu cho một bức chân dung nhạt nhẽo như thế này là béo
bở quá rồi còn gì. Cám ơn trời phật đã run rủi cho con mẹ trưởng giả học
làm sang ấy đến đây để ông có thể sống được một năm sạch sẽ, không phải
bán linh hồn cho hè phố, không bị ba cái đái buốt, đái ra mủ kia réo gào, úp
chụp lên đầu. Và như thế biết đâu chả có thể trở lại, vẽ lai được một cái gì
đó của chính mình chăng? Biết đâu!... Lây lan một chút khói trá mơ hồ,
ông mỉm cười huơ bút vẽ lên...
Nhưng sự đời lại không giống như ông tưởng.
Với một bức chân dung đơn giản như thế này, ông dự tính phác mộc mất
một ngày, phẩy mầu hai ngày, vị chi chỉ cần khoảng ba ngày hoặc bốn ngày
là xong, là nhận được tiền. Nhưng... Thật kỳ lạ! Ngay ở giai đoạn vẽ mộc,
ông đã thấy cây bút trong tay mình vấp váp liên tục, vấp váp đến khốn
khổ, như có một lực cản siêu hình nào đó cứ độc địa lái ngọn bút của ông đi
chệch khỏi mọi thứ cảm nhận thông thường.
Người đàn bà vẫn ngồi đó, lặng phắc, cạnh cửa sổ, bình thản, đôi mắt nhìn
xa xăm ra ngoài khung trời hình vuông, đôi môi mím nhẹ không ra vui
cũng không ra buồn, có lúc lại nhạt nhòa vô cảm, ngồi đó mà cũng không
phải ngồi đó... Chỉ thế thôi mà hai giờ đồng hồ đã trôi qua, ông vẫn không
tài nào nắm bắt được cái thần sắc mà xét đến cùng là chẳng có chi đặc biệt
ấy. Ông đã thay đến khung vải thứ ba, thay đến tờ crô - ki thứ tư mà khuôn
mặt bình dị của người đàn bà kia vẫn vuột đi xa tít, vô hình vô ảnh. Mồ hôi
ông vã ra, ngực nóng ran, sống lưng mỏi dần, hai bàn tay cóng ngọng lại
tưởng chừng như là tay của kẻ khác. Ông có cảm giác mình sắp sửa lên cơn
sốt rét rung võng như những ngày ở Trường Sơn năm nào... Và ông buông
bút xuống, bất lực:
- Xin lỗi! Hôm nay tôi hơi... bị mệt. Hẹn bà ngày mai trở lại.
Người đàn bà chớp mắt đứng dậy, vẫn bình thản đến tê lạnh nhưng đôi mắt
nhìn vào ông thật buồn, nét mặt cũng thật buồn, cái buồn sâu thẳm, xót xa
mà chỉ thoáng nhìn vào, ông đã thấy mình bị ngợp.
- Ngày mai... Rất tiếc là tôi không thể trở lại được - Người đàn bà nói bằng
cái giọng âm u thoảng nhẹ.
- Thế thì tôi biết phải làm sao bây giờ? - Ông gắt lên - Bà định đùa tôi
chắc? Không có ai vẽ một cái chân dung nghiêm chỉnh mà người mẫu chỉ
ngồi đó có hai giờ đồng hồ bao giờ, bà hiểu chưa?
- Tôi hiểu - Người đàn bà vẫn hết sức từ tốn, thậm chí lại có phần dịu dàng
hơn - Chính thế mà tôi phải đi hai trăm cây số đến đây nhờ ông và tôi tin ở
ông.
- Bà mang cái tin ấy đi mà thờ Chúa. Tôi chỉ là một thằng người.
- Vâng! - Người đàn bà nói sau một chút cắn môi ngẫm nghĩ - Tôi sẽ cố...
cố trở lại. Nhưng nếu không trở lại được, tôi xin gửi ông tấm ảnh này. ảnh
tôi chụp đầu năm, ông có thể căn cứ vào đó. Tôi xin phép đưa trước ông
hai triệu. Sáu tháng sau, cũng ngày này, giờ này, sẽ có người tới đưa nốt
cho ông một triệu và mang tranh về. Xin phép ông. Chúc ông thành công!
Đặt số tiền được nói trong một miếng dù pháo sáng mầu cỏ úa có chút
phẩm đỏ loang trên mặt như cánh hoa niêm phong lên bàn, không để cho
ông phản ứng gì, bà ta cầm lấy túi xách tay đi luôn ra cửa.
Phải mất một lúc lâu sau đó, ông vẫn chưa hiểu cái gì đã vừa xảy ra với
mình và tự trong xôn xao tiềm thức, ông còn cảm nhận rõ cái hơi hướng lạ
lẫm, vô hình của người đàn bà bí hiểm ấy vương lại trong lòng. Họa sĩ
không bật đèn, ngồi lặng đi trong bóng tối rồi vỡ òa một tràng cười mà
không hiểu mình cười cái gì?
*
Ngày hôm sau họa sĩ Lưu An treo tấm biển Đi vắng ngay trước cửa rồi
lặng lẽ ngồi vào góc nhà nơi có cái khung vải trắng sáp và tấm hình của bà
ta để lại kẹp bên cạnh.
Ông làm việc âm thầm và nhọc mệt. Bà hàng xóm phòng đối diện chỉ thấy
mỗi ngày ông láng giềng tốt bụng và hơi lẩn thẩn mở cửa đi ra ngoài một
lần ăn uống cái gì đó rồi lại trở vào khóa trái cửa. Bà ái ngại thấy mỗi ngày
ông mỗi gầy đi và đôi mắt cứ long lanh như đang lên cơn sốt.
Ông đang lên cơn sốt thật! Cơn sốt sáng tạo, cơn sốt đam mê vĩ cuồng.
Ông đang cô độc trải qua cơn vật vã tinh thần mà đã lâu lắm rồi nó chưa hề
trở lại với ông. Những cái khung vải được thay nhau nhét xuống gầm
giường. Những tờ giấy crô-ki lem nhem liên tục bị xé, vo viên quẳng vào
sọt rác. Nhưng bức chân dung vẫn chưa nhích thêm được một chút nào
thậm chí, bằng bề dày kinh nghiệm ông cảm thấy nó không thể nhích thêm
được nữa! Quái lạ! Khuôn mặt người đàn bà cứ phồng lên xẹp xuống, lúc
xa lúc gần, khi mờ khi hiện, như ảo ảnh, như ma trơi, tưởng đã nắm bắt
được rồi nhưng mở tay ra lại trống trơn chẳng có gì. Có lúc ông ghì mắt
vào tấm ảnh căn theo từng nét, có lúc lại che nó đi bằng giấy báo để vẽ
bằng ký ức bức sốt và cũng có khi ông vẽ bằng cả hai: Nhìn và nhớ nhưng
tất cả đều vô hiệu. Vẫn không đúng, không giống, vẫn không phải bà ta. Bà
ta... Đến bây giờ nghĩ lại, nhớ lại, chiêm nghiệm lại, ông mới chợt nhận ra
rằng khuôn mặt ấy không nhợt nhòa như ông tưởng. Một khuôn mặt vừa
dịu hiền vừa cương nghị, vừa u hoài vừa rộn ràng sức sống, sâu sa và bồng
bột, vừa ấm nóng vừa lạnh tanh, đằng sau cái vẻ bình thản kia là cả một
dòng lũ nội tâm chảy xiết, lặng tờ đấy nhưng lại thật nhiều giằng xé, yếu
đuối vô cùng mà lại sắc sảo biết bao... Và đôi mắt nữa! Dường như có cả
một trời những mâu thuẫn, những nét nghịch đảo cùng ẩn chứa đằng sau cái
vẻ buồn dìu dịu ấy. Trời ơi! Có lẽ mọi điều nan giải, mọi điều bí mật về
hạt nhân hình họa đều nằm cả trong đôi mắt này.
Thời gian lặng lẽ trôi qua trong căn phòng nhỏ. Một tháng... Hai tháng...
Rồi ba tháng... Phần phác thảo mộc vẫn chưa xong. Người đàn bà cũng
không thấy trở lại nữa!
Đã có lần ông đã quyết định đóng cửa phòng đi tìm nhưng ra đến ngã ba,
ông lại quay trở vào. Bà ấy, con quỷ hiện hình ấy có để lại một mẩu địa chỉ
nào đâu ngoài cái gói tiền chết giẫm có cánh hoa đỏ loang ra trên miếng dù
xanh pháo sáng kia. Ông đã nghĩ. Nếu bà ta quay lại, dứt khoát ông sẽ trả
lại tiền, nếu cần trả cả lãi suất luôn thể để thoát khỏi cái cảnh bẽ bàng này,
để đêm đêm khỏi bị cái khuôn mặt có đôi mắt quái dị kia ám ảnh nữa. Đúng
là quái dị thật! Người đàn bà hiện về từ cái thế giới hư vô quái dị nào để
làm tình làm tội ông đây?
Mà cũng thật kỳ lạ! Đã có lúc mệt mỏi quá, ông quẳng ráo trọi cả đồ nghề
ra vườn, quyết định không vẽ nữa. Nhưng nửa đêm, không hiểu sao, như
có một ma lực hối thúc, ông lồm cồm trở dậy nhặt lại từng cái. Nỗi nhọc
nhằn phi thực này lâu dần đã ăn sâu vào đầu óc ông, càng nhọc nhằn, ông
lại càng thấy gắn bó vô hình với nó, rồi như không thể thiếu được nó. Nó
và ông, hai thành phần ghét bỏ nhau đã nhào trộn vào nhau thành một. Tâm
hồn ông cựa quậy, trái tim ông thắt bóp, mạch máu ông chảy mạnh hơn,
trong ông đang biến cải, đang rục rịch sống lại một cái gì lạ lắm, thân thiết
lắm nhưng cũng xa ngái lắm mà ông không tự biết...... Cũng vào một đêm
như thế, sau cả một ngày làm việc mụ mị, họa sĩ rơi người vào trong một
vùng ký ức xa xôi mà đã lâu lắm rồi ông không còn nhớ đến... Đó là một
đêm mưa rừng rơi không dứt, gió lạnh mang theo những hạt mưa li ti từ
khắp nơi thổi qua kẽ lá. Trong lán chỉ có hai người: Ông, một họa sĩ trẻ
mới từ nước ngoài trở về tình nguyện xin vào ngay chiến trường và cô gái
giao liên đang trên đường dẫn ông đến binh trạm. Ngọn lửa nhỏ bùng lên,
soi tỏ khuôn mặt trẻ thơ mịn màng. Quần áo cô ướt sũng, bó dính lấy cái
cơ thể nở nang, tròn lẳn của độ tuổi đang sức mười tám đôi mươi. Lửa vẫn
nổ tí tách. Không hiểu do lửa hay hơi ấm từ cái thân thể rừng rực kia tỏa ra,
ông bỗng thấy nóng ran cả người. Đột nhiên ông muốn vẽ và khe khẽ yêu
cầu cô cứ thế ngồi yên lặng. Rừng đêm... Mưa gió... Chiến tranh... Chết
chóc... Đời con gái gian nan... Ngày mai cái gì sẽ xảy ra với cô? Liệu có
còn được gặp lại nhau một lần?... Dòng cảm xúc lãng mạn và ngậm ngùi
choáng ngợp, ông vừa vẽ vừa thấy lòng mình rung lên khác lạ... Cô gái vẫn
ngồi lành hiền như con sóc, con chim bé bỏng ướt át tội tình lên ánh lửa.
Một khuôn mặt cằm tròn, một nước da xanh mầu lá đang ửng hồng, một
sống mũi xinh xinh, một đôi mắt nhìn đi đâu xa xăm về phía bên kia ánh
lửa, lửa chơi với trong mắt, lửa viền quanh má cô một đường sáng tạo nao
lòng... Rồi đột ngột đôi mắt ấy quay lại phía ông. Đôi mắt ấy không rời
ông ra nữa. Đau đáu, khắc khoải, chới với, dạn dĩ và xót xa đến ngượng
ngùng. Trái tim ông ớn lạnh. Thân thể cường tráng nơi ông hối thúc ông
được che chở, được hong khô, sưởi ấm. Mắt ông bắt ánh lửa trong mắt cô,
cháy lên. Ông tiến lại... Ai đã trải tấm dù pháo sáng mầu cỏ úa trên vai cô
xuống nền đất ẩm? Em chết mất!... Khuôn ngực căng cứng của cô nâng
ông lên, sưởi ông và dìm ông xuống, chìm lịm, ôi anh! Ôi anh!... Em chết
mất!... Cô cắn vào vai ông đến rớm máu. Suốt đời em sẽ chờ anh! Cô nói
lên, đôi môi nhỏ nhòa máu và nước mắt... Khi đỡ cô ngồi dậy, dường như
ông thoáng nhìn thấy có một chút sắc đỏ vương lại trên lá dù mầu cỏ úa...
Sáng hôm sau trở dậy, ông không còn thấy cô gái đâu nữa! Một đoàn khách
cần cô nhanh chóng dẫn ngược trở lại để tránh tọa độ B52. Còn ông, sau
một chút bâng khuâng, ông tiếp tục hăm hở đi sâu xuống mặt trận. Sâu
nữa... Và từ ấy, bao cảnh đời đã trôi qua, bao trận đánh đã ập vào, vài ba cô
gái khác cũng đã đến với ông rồi lại đi, thú thật ông không có thời gian
nghĩ đến, không kịp nghĩ đến cô nữa - Một cô gái giao liên ngẫu nhiên gặp
giữa rừng mà vội vàng tới nỗi, cái tên cô ông cũng không hỏi kịp! Rồi hòa
bình...
Tiếng nổ cháy rừng và mùi khét lẹt xộc lên khiến ông choàng tỉnh... Một
ngọn lửa nhỏ đang phực lên nơi khung vải ông đang vẽ dở. Ngọn lửa đang
liếm gần vào tấm ảnh người đàn bà. Tấm ảnh cong lên... Ông chợt nhớ
đêm qua mất điện, ông phải đốt nến làm việc rồi mệt quá thiếp đi. Lát sau,
khi ông cuống quýt dập rụi được ngọn lửa thì tấm ảnh đã cháy sém hết một
phần ba!... Nhưng chính hai phần còn lại đã làm ông sững sờ!... Chao ôi!
Dưới quầng sáng nhập nhòa của cây nến mới được đốt lại, trong cái mùi
khen khét quá ư quen thuộc của rừng bị đốt cháy, của bom đạn còn vương
vất đâu đây, khuôn mặt người đàn bà bỗng dưng mềm lại, trẻ thơ mịn
màng, đang rọi về ông cái ánh nhìn bé bỏng, tội tình và có phần trách
móc... Ông vồ lấy tấm ảnh đưa ra sát ngọn nến... Nhưng rồi ông lại buông
rơi xuống, tuyệt vọng! Khuôn mặt có viền sáng nôn nao của cô gáo giao
liên năm nào không còn nữa, trong hình vẫn chỉ là nét mặt bí hiểm của
người đàn bà đang nhìn ông hết sức dửng dưng.
Nhưng như thế cũng là đủ.
Cái khoảnh khắc ma quái không rõ từ trong ông tỏa ra hay do chính tấm
ảnh kia xuất thần, như một chớp lửa rừng già, đã làm đầu óc ông sáng
bừng lên. Ông đã hiểu mình phải vẽ cái gì và vẽ như thế nào rồi. Trời ơi!
Tất cả chỉ là một chút ánh hồng nơi khóe mắt và một nét phẩy nhỏ ở khóe
môi. Chỉ thế thôi là khuôn mặt người đàn bà kia sẽ khác hẳn mà tại sao
suốt ba tháng trời vật lộn mà ông không thể nghĩ ra? Phải chăng ngọn lửa
rừng năm ấy và ngọn nến cháy lan vào ảnh hôm nay đã soi tỏ cho ông một
chi tiết mà nếu có khổ công tìm tòi cả đời trong phòng kín chắc cũng không
ra?
Toàn bộ cảm hứng nơi ông tưởng đã giá lạnh, giờ đây bỗng nóng bức trở
ngược về quá khứ, trở ngược về những năm tháng đau thương và lãng
mạn, những năm tháng quá đỗi nhọc nhằn nhưng cũng là những năm tháng
trong trẻo, đẹp đẽ nhất đời ông, thế hệ của ông. Và ông vẽ. Vẽ đêm ngày
mài miệt. Tấm biển ĐI Vắng vẫn im phắc treo ngoài cửa. Những khung vải
không còn bị vất xuống gầm giường, những tờ crô-ki dày dặn đã nằm yên
trên giá. Bức phác thảo xong, ông định sử dụng bột mầu nhưng sau đó ông
lại quyết định xử lý những gam mầu chói gắt và thâm trầm của sơn dầu.
Tất cả chỉ là một chút ánh hồng thẳm sâu nơi khóe mắt, một nét phẩy nhỏ
ngọt ngào nơi khóe môi, một đường viền tỏa rạng nâng cả khuôn mặt lên
khỏi mọi nỗi gian truân và ngầu bọt. Cái gian truân của ngày hôm qua và
cái ngầu bọt ngày hôm nay. Ông lại đang bồng bềnh trong một cơn sốt.
Cơn sốt đam mê của sáng tạo. Cơn sốt quá khứ. Ông không chỉ vẽ một bức
chân dung, sâu đậm hơn, ông đang sống lại và làm sống lại qua hình ảnh
của người đàn bà đó một thời trai trẻ sống động, thuần phác tươi nguyên
của mình. Đã lâu lắm rồi ông mới lại có những khoảnh khắc sáng tạo hết
mình, sáng tạo thăng hoa đến tan chảy thế này.
Đúng sáu tháng sau, bức chân dung được hoàn tất bằng một nét chấm phá
táo bạo cuối cùng. Họa sĩ gần như kiệt sức, thân thể gầy tọp đi đến năm ký
lô, tóc bạc nhiều hơn nhưng riêng đôi mắt lại bàng bạc một cõi tĩnh lặng
siêu phàm.
Tắm rửa sạch sẽ, cạo râu, thay một bộ đồ mới, ăn một bữa cơm tiệm thật
ngon, ông trở về ngồi im lặng ngắm bức tranh, bồn chồn chờ chủ nhân của
nó đến tiếp nhận. Nắng chiều từ ngoài cửa sổ tràn vào dịu nhẹ. Khuôn mặt
người đàn bà sáng tỏa trong một vẻ đẹp nội tâm khác lạ. Vẫn là khuôn mặt
ấy nhưng thấm đậm hơn, thần sắc hơn. Vẫn là cái ánh nhìn dìu dịu buồn
ấy nhưng lại lom dom cháy những đốm sáng của sự vị tha nhân hậu, của sự
sắt son chung thủy bên trong. Nhìn vào đó, tâm hồn ta bỗng tự dưng yên ả
dù cuộc đời có ngang ngửa thế nào cũng chẳng nỡ đánh mất niềm tin. Đôi
mắt biết nói, biết chia sẻ và biết tâm tình se sẽ. Đôi mắt của cô gái giao liên
áo quần sũng ướt ngày nào pha trộn với cái nhìn điềm tĩnh thể tất của
người đàn bà đã luống tuổi hôm nay.
Một tiếng gõ cửa khe khẽ vang lên... Cô ấy rồi! Bà ấy đến rồi! Người họa
sĩ già reo thầm một tiếng trong đầu. Chao, tối nay nếu có thể được, ông sẽ
nói với bà ấy thật nhiều, sẽ ôn lại, kể lại mọi thứ chuyện và nếu... Nếu bà
ấy không để bụng, không ruồng rẫy, không oán trách thì biết đâu... Phải,
biết đâu hai người có thể sống lại những giây phút đã lùi xa bên ngọn lửa
giữa cánh rừng bom đạn ấy? Với tâm trạng hết sức bồi hồi, ông run run
đặt tay lên nắm đấm cửa...
Nhưng hiện ra trước mặt ông không phải bà ta mà lại là một cô gái mảnh
khảnh có cái nhìn tư lự. Cô ta mở to đôi mắt khá đẹp nhìn ông một lát rồi
nói nhỏ:
- Bà hiệu trưởng nhờ cháu đến bác lấy bức tranh.
- Bà hiệu trưởng nào? - Ông hỏi với giọng có chiều hụt hẫng.
- Bà hiệu trưởng cách đây đúng sáu tháng đã đặt bác vẽ một bức chân dung.
- Nhưng... Thế bà ấy đâu - Giọng ông đã tỏ ra sốt ruột - Và cô là ai?
- Dạ, đây là thư của bà ấy, bác đọc sẽ rõ.
Mải cập rập xé chiếc phong bì dán rất cẩn thận, ông họa sĩ không để ý thấy
cô gái đang quan sát căn phòng của ông cũng vẫn bằng đôi mắt chậm rãi
dìu dịu buồn của người đàn bà cách đây sáu tháng kia.
Bức thư viết bằng nét chữ rời rạc, có đôi đoạn gẫy vụn:
"Anh Lưu An!
Chắc anh đã vẽ xong bức chân dung và chắc anh cũng đã nhớ ra em là ai.
Xin lỗi đã làm cho anh phải nhọc lòng và phải nhớ những điều không nên
nhớ. Anh biết không? Sau cái đêm ở lán ấy, em đi tìm anh khắp nơi, đi hỏi
tin anh ở khắp mọi chỗ nhưng có người nói anh đã chuyển ra Bắc, người
khác nói anh đi xuống sát ven đô, lại có người bảo anh bị thương, bị sốt rét
ác tính chết rồi! Buồn quá! Em khóc suốt một tuần rồi làm một mâm giữa
rừng giỗ anh. ít tháng sau em được điều đi học. Ra trường em lấy chồng,
sinh con nhưng hình ảnh anh không lúc nào nguôi ngoai trong em. Đó là
mối tình đầu, là lần hiến dâng thứ nhất, trọn vẹn và say đắm không bao giờ
có được nữa. Anh có tin không? Có lẽ cái vết đỏ vương lại trên tấm dù
mầu cỏ úa, dấu hiệu một đời trinh trắng hiến cho anh đêm đó sẽ nói hộ em
nhiều hơn những điều em muốn nói.
Thế rồi một lần đọc báo thấy hình anh và phòng tranh GALLERY đầu tiên
của anh, em đã mừng đến rơi nước mắt. Em đã lén đến đó để được nhìn
anh, chứng kiến thành công của anh và cũng để biết anh có... gia đình, một
gia đình thuận hòa, ấm cúng và đàng hoàng. Người ta bảo thế. Trước tình
cảnh ấy, em tự cảm thấy mình thừa, thấy là rất vô duyên nếu đứng ra nhận
anh. Nhận để làm gì khi giữa hai người không còn gì nữa, khi anh đang
được vầng hào quang của thành công vây bủa bốn xung quanh và nhận làm
gì khi nghĩ rằng, chắc gì anh đã còn nhớ em, một con bé giao liên mờ nhạt
ngẫu nhiên gặp giữa rừng rồi sớm mai lại chia tay. Thì đến ngay cái tên của
em anh đâu đã kịp hỏi kia mà! Thế là em ầm thầm đi ngược lại trăm cây số
trở về...
Nhưng, giống như sự ám ảnh của vô thức của một thời sôi nổi không thể
dùng lý trí thoát vùng ra được, thỉnh thoảng em vẫn đến với anh. Đến để
không dám vào, đến để chỉ lảng vảng ngoài đường nhìn qua hàng song sắt
vào phòng vẽ của anh rồi lại lủi thủi ra về. Chính trong những lần như thế,
em đã được biết được gia đình anh không còn thuận hòa như trước. Vợ
anh không yêu anh. Anh bỏ bê công việc, cái GALLERY thứ hai của anh
không có tiếng vang... Có lần nhìn anh bơ phờ đi lại trong phòng, tóc bạc
từng đám, hai mắt trũng sâu, tay cầm cái bánh mì mà không đưa lên miệng
nhai nổi, thương quá, em đã định cứ liều vào với anh, chăm sóc anh, được
nói với anh vài điều nhưng rồi em lại quay đi. Là đàn bà với nhau, dù có
thế nào em cũng không thể nhân dịp này mà nhảy vào chiếm chỗ của cô ấy.
Em không thể. Rồi vợ chồng anh chia tay. Rồi anh xa rời nghệ thuật, anh
hoàn toàn không còn là anh nữa...
Đó cũng chính là lúc em bắt đầu phát bệnh do thứ chất độc da cam đã ủ
trong thân thể từ hồi ở rừng mà không biết. Em biết mình không còn sống
lâu nữa và càng cồn cào nghĩ đến anh. Và thế là em đã quyết định tìm đến
anh để đặt vẽ một bức chân dung. Em đâu có thích chân dung nhưng thấp
thỏm hy vọng rằng nó sẽ là cái cớ để nhắc anh trở về với những năm tháng
tốt đẹp nhất của chúng ta, để mong anh tĩnh trí lại. Thế thôi. Và không hiểu
sao em tin anh sẽ tĩnh trí được.
Anh Lưu An! Khi anh nhận được thư này thì em đã đi rồi. Đi xa lắm! Phận
em thế là xong, hoàn toàn thanh thản. Chỉ áy náy về anh như áy náy về một
cái gì thân thiết nhất nhưng cũng mỏng manh không có thật nhất của đời
mình. Lạ thế! Trong trái tim yếu đuối của đàn bà chúng em, có những góc
sâu lắng mà đàn ông các anh ồn ào không bao giờ hiểu nổi đâu.
Em đã đến giờ phải đi... Em cầu mong cho anh sức khỏe, niềm vui, nghị
lực và trở lại đúng là anh những ngày ấy. Xin trả nốt anh số tiền còn lại
nhưng không phải số tiền một triệu mà là mười lăm triệu. Cả cuộc đời,
cộng thêm vài lần đi nước ngoài, em đã dành dụm được, chỉ có thế. Em để
lại cho chồng em một nửa và anh một nửa. Anh có thể sử dụng nó vào
GALLERY thứ ba của anh tới đây được không? Em mong...
Bởi vì, đây mới là điều hệ trọng nhất: Cô gái cầm số tiền này đến anh để
lấy bức chân dung chính là giọt máu anh đã để lại trong em sau cái đêm
rừng mưa rơi không dứt ấy. Tên nó là An!
Vĩnh biệt anh!"
Đọc xong lá thư, mắt nhòa lệ nhìn lên, người họa sĩ già bỗng thảng thốt
rùng mình... Trời! Có phải cái cô gái giao liên áo quần ướt sũng có đôi mắt
ngây thơ, khắc khoải bên ngọn lửa lán trại năm nào đang đau đáu nhìn ông
kia không?
- Con!... Tiếng gọi thốt lên từ buồng phổi ọp ẹp không đủ sức thoát ra
ngoài mà lại chìm sâu vào gan ruột.
12-1991
GIÓ KHÔNG THỔI TỪ BIỂN
Chu Lai
dtv-ebook.com
Phần I
Mấy bữa nay xuất hiện ở trước chợ Vườn Chuối một người đàn ông
bán thuốc nam. Nhìn vẻ ngoài anh ta chẳng có gì đáng chú ý. Tuổi anh ta,
vì nước da mai mái nên thật khó đoán. Tóc anh ta để dài, rồi xoăn, người
tầm thước. Hai con mắt nhìn vừa hiền lành, vừa rụt rè như tất cả những
người dân cao nguyên một năm đôi bận xuống thành phố mua bán. Nếu có
gì khác chăng, thì là việc các môn thuốc của anh ta thường được nhiều
người mua, nhiều người tới ngó nghiêng.
- Cái nhà anh này làm ăn coi bộ thiệt thà.
- Dùng thuốc của anh trị bịnh cho con nít thì khỏi liền.
- Tiền nong ông cũng lấy chừng mực lắm, không mắc như mấy người
khác đâu.
Bà con đi chợ thường nói về anh như vậy. Có người khen ngay trước
mặt, anh chỉ cười. Cái cười ngượng nghịu như chỉ quen với núi đồi hoang
vắng mà không quên phô bày tình cảm ở trước phố chợ đông người, để lộ
hàm răng xỉn màu ngồ ngộ như cái cười của đứa trẻ sún răng.
Dáng ngồi làm lũi của anh thật tương phản với cảnh chợ nhức mắt
những sắc màu, những ồn ào chát chúa của hàng rẫy quán tiệm, của những
tốp lính người Việt, người ngoại quốc xộc vào, xộc ra, nghiêng ngả và của
tất cả những âm thanh hỗn tạp, kì quái vốn có của một cái chợ tràn ngập
hàng hóa. Màu áo chàm của anh càng tương phản với tòa cư xá Mỹ cao vòi
vọi ở gốc phố bên kia đường. Vào những lúc xế chiều, cái dáng nhỏ nhoi
hơi khập khiễng của anh bị bóng rợp tòa nhà làm bạc đi xiêu vẹo. Anh
ngước nhìn lên một chút, mặt hơi nhăn lại như bị ngộp thở rồi lại cúi
xuống chậm rãi cất từng bước một.
Người bán thuốc đi tìm chỗ nghỉ đêm.
Vào những lúc ấy, nếu anh bớt rụt rè đi một chút hoặc giả có ai đó đột
nhiên gọi lại đưa nốt số tiền mà anh quên chưa lấy, có lẽ anh sẽ bắt gặp
một đôi mắt từ xa đang dọi thẳng vào gáy mình. Dưới đôi mắt ấy là cái
miệng mím chặt và phía trên vàng trán vuông căng ra, kéo đôi mắt xếch lên.
Chỗ nghỉ đêm của anh thường phụ thuộc vào tiết trời mưa hay tạnh.
Mưa thì ngồi bó gối thu lu trên sạp hàng, tạnh lại nằm cong queo dưới bất
cứ một mái hàng hiên nào. Gặp bữa kiếm được khá tiền, anh thường ghé
vào cái quán trọ lợp mái tôn, tường ghép bằng vỏ đồ hộp gần bùng binh.
Cũng có đêm trời trở lạnh, những người lính quân cảnh hoặc cảnh sát dã
chiến đô thành đôi lúc gặp anh đi thơ thẩn nơi này nơi nọ cũng như tất cả
những đứa con bụi bặm của đêm không có mái lá che thân. Tóm lại chẳng
có gì đáng lưu tâm.
Riêng đêm nay anh lại nghỉ ngơi trong một ngôi nhà nhỏ dưới chân cầu
xa lộ. Đang trên đường đến bến xe với ý định nghỉ tạm qua đêm để sáng
mai xuôi về Thủ Đức bán nốt số thuốc còn lại thì bà má từ trong ngôi nhà
đó hớt hải chạy ra nằn nì mời anh vào nhà chữa bệnh cho thằng cháu chưa
đầy hai tuổi.
Thằng bé ba hôm nay sốt cao, lên cơn co giật, người ta mách ở Tân
Bình có ông lang zếch chữa các bệnh trẻ con hay lắm. Chưa chạy đủ tiền
đưa con đi nhà thương, nghe vậy mừng quá, chị tất tả định đi luôn. Bà mẹ
lắc đầu: “Tối rồi. Đường đất bây giờ hỗn độn lắm. Đàn bà con gái một
thân một mình đi không có được đâu. Để mẹ chạy ra chợ xem ông thầy
thuốc nam còn đó thì rước về”. Nghe má nói phải nhưng nóng ruột, chị
không chờ được. Vả lại, ông thầy thuốc nam đó mới nghe nói mát tay chứ
thực hư đã biết thế nào.
Còn lâu mới tới giờ giới nghiêm mà đường phố đã vắng người qua lại.
Thời buối nhá nhem này, không ai dại gì ra đường buổi tối. Không gặp
phải mấy người cảnh sát, quân cảnh giữ lại hạch xách cũng đụng bọn du
thủ du thực làm rầy. Đó là chưa nói đến chuyện mấy cha lính Mỹ nhậu say
rồi không cón đếm xỉa gì đến phép tắc giao tiếp với người bản xứ nữa. Tốt
nhất là cứ kín cửa cái then, không hay không biết gì cả.
Chị đi như chạy. Những cơn co giật của đứa con làm ríu chân người mẹ.
Chị đi mà không cần biết cái gì đã xảy đến với mình. Tuy nhiên tới đầu
một cái hẻm tối hun hút, bước chân chị hơi chựng lại: hẻm Đầu Bò! Cái
tên này bao lâu nay thường gây lo âu cho những người qua đường. Người
ta nói những dân dao búa tối nào cũng tụ bạ ở đây ăn uống nhậu nhẹt sau
một ngày tỏa ra làm ăn trên khắp các ngõ ngách trong thành phố. Và cũng
tụ bạ luôn cả những cô gái làng chơi. Hình như cứ ở đâu có du đãng là ở đó
có cái loại gái này. Nó tồn tại như bóng với hình, nương tựa, bổ sung cho
nhau. Người non gan, ban ngày đi qua đây còn thấy rờn rợn chứ đừng nói
ban đêm. Ngay cả cảnh sát an ninh nhiều khi cũng kiếm cớ lảng tránh hoặc
phóng xe ào qua cho xong chuyện. Dính với đám này lằng nhằng lắm. Đã
từ lâu, hẻm Đầu Bò tồn tại như một vương quốc riêng, ngoài vòng pháp
luật.
Tất cả những điều tồn tại ấy chị đều biết nhưng bộ mặt tái xám của đứa
con không cho phép chị phung phí thêm một phút giây nào nữa. Chị đi qua
những căn nhà tối tù mù, bước trên những khối gạch, đá, xi măng xù xì,
hốc hoắm. Một bóng đàn ông từ trong bóng tối tiến ra:
- Đi đâu đó? Lại đây cô em!
Không thèm trả lời, chị vẫn bước, để mặc cái bóng đàn ông ấy chưng
hửng giữa đường. Chị đang đi gần tới một cửa tiệm mờ khói thuốc, có ba
người đàn ông ngoảnh mặt nhìn đăm đăm ra cửa. Có lẽ họ ngồi đây đã lâu
và bây giờ không còn gì để nói với nhau nữa nên âm thầm đốt thuốc. Chai
lọ, chén bát nằm ngả ngốn đầy bàn. Người ngồi giữa nhỏ con, chìm trong
bóng tối, đầu chùn xuống vai như ông già, chỉ riêng đôi mắt là ánh lên cái
vẻ ranh mãnh, lì lợm. Đôi mắt ấy vấp phải người đàn bà và nheo lại.
- ủa con nhỏ nào kia?
- Lạ hoắc! - Người ngồi bên trái mặc áo lính Mỹ rộng thùng hơi nhao
đầu ra cửa, trả lời. Không phải bọn con gái tao bao ở đây.
- Chắc vậy không? Con nhỏ này trông được quá!
- Dạ chắc! Tôi nhớ kỹ mặt từng đứa mà anh Hai.
- Kỳ hè. Gọi lại đây coi.
Người thứ ba trung tuổi, thân thể to cao, đen đúa đứng dậy. Tầm lưng
đồ sộ của anh ta che lấp cả khuôn cửa sáng đèn, phủ chụp luôn lên cái dáng
mảnh khảnh của chị vừa sững lại.
- Cô kia đi đâu?
Nhìn lên một chút, không trả lời, chị tránh qua một bên định bước tiếp.
Cái bóng cao to chặn lại.
- Phép ở đây đã hỏi là phải trả lời. Đi đâu?
- Tôi đi mua thuốc cho con - Chị cau mày.
- Vậy chớ! Sao đi lối này?
- Đường phố là của chung mọi người. Tôi đi lối nào tùy tôi, ông tránh
ra.
- Ai cha! Nói năng nghe cứng cỏi gớm hà. Thế cô có biết chỗ này là chỗ
nào không?
- Biết! Nhưng có can hệ gì đến tôi? Tôi đi mua thuốc cho con tôi.
- Thế cô có biết...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





