CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Truyen Ngan Chu Lai Chu Lai.pdf

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hoài An
    Ngày gửi: 16h:01' 05-07-2025
    Dung lượng: 1.0 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
     Bức Chân Dung Của Người Đàn Bà Lạ 
    Vào một buổi tối ảm đạm, có một người đàn bà chừng trên bốn mươi tuổi
    đến gõ cửa phòng họa sĩ Lưu An.
    - Xin phép hỏi bà là ai? Bà muốn gì ạ? - Ông nói.
    Người đàn bà đưa đôi mắt đẹp và buồn thăm thẳm nhìn khắp gian phòng
    một lượt rồi dừng lại rất lâu trên khuôn mặt họa sĩ, lát sau mới nói chậm
    rãi: - Tôi đến đặt ông vẽ một bức chân dung.
    - Chân dung ai?
    - Người đang ngồi trước mặt ông.
    Lưu An buông cây bút vẽ, nhìn lên. Trong đời cầm cọ, ông đã tiếp xúc với
    không ít các loại người, đã chứng kiến khá nhiều nhân vật nhưng vẻ điềm
    tĩnh, giọng nói tự tin thái quá ở người đàn bà này khiến ông hơi lạ. Dáng
    người gầy guộc, ăn vận xoàng xĩnh, khuôn mặt bình thường nếu không
    muốn nói có phần còn hơi tiều tụy. Tất cả chỉ có vậy thôi mà cớ sao ánh
    mắt lại tỏa ra nhiều vẻ tự tạo đến thế? Một đôi mắt hơi dài dại của người
    nghĩ ngợi nhiều. Tự nhiên ông thấy bực mình.
    - Xin lỗi! Tại sao bà lại đến chính tôi chứ không phải một ai khác?
    - Bởi vì tôi đã xem tranh của ông, vì người ta đã nói nhiều về ông. Tôi
    muốn có một bức tranh hoàn hảo, vậy thôi.
    Hoàn hảo ư? Bà ta là cái gì mà lại có cái lối nói năng như một mệnh phụ
    phu nhân như thế? Hoàn hảo! Buồn cười! Chắc là lại một con mẹ thần kinh
    ngộ nghệ đến quấy rầy đây.
    - Xin lỗi! - Ông cố nói bằng một chất giọng mềm mỏng để che đi cái cười
    giễu cợt cứ chực hiện ra nơi khóe mép - Tôi không vẽ chân dung và nói
    chung từ lâu tôi không màng tới thể loại này nữa. Bà có thể cảm phiền đi
    nơi khác.
    - Tôi sẽ trả ông gấp mười người khác nếu ông vẽ.
    - Gấp mười? - Tự dưng ông nổi máu tò mò - Tức là bao nhiêu thế thưa bà?
    - Ba triệu.
    - Ba triệu? Trời đất! - Ông trợn tròn mắt - Thế bà có biết vẽ một bức chân
    dung giá bình thường là bao nhiêu không? Tất nhiên bức vẽ ấy ít liên quan
    đến chất liệu vàng bạc.
    - Tôi không biết vì hình như nghệ thuật không có giá.
    - Vậy tại sao bà lại trả vậy?

    - Tôi nghĩ ông sẽ có đủ tiền sống một năm để hoàn tất bức vẽ của tôi.
    - Hả?... Bà nghĩ rằng, để vẽ xong bức chân dung ấy tôi phải bỏ ra một năm?
    - Tôi cho là thế hoặc lâu hơn.
    Tới đây thì họa sĩ Lưu An không chịu nổi nữa:
    - Tóm lại bà là ai? Và bà muốn gì ở tôi?
    - Tôi là một người đàn bà bình thường muốn có bức chân dung cuối đời
    của mình - Người đàn bà vẫn trả lời bình thản, sắc thái trong mắt vẫn
    không hề thay đổi - Và tôi sẽ trả công cho ông sòng phẳng, đúng như tài
    năng ông bỏ ra, đơn giản vậy thôi ạ!
    Gõ gõ ngón tay bết mầu xuống mặt bàn một lát, ông nheo mắt nhìn người
    khách rồi nhìn ra ngoài khung cửa sổ, rồi lại nhìn khách... Cuối cùng ông
    đấu dịu.
    - Thôi được rồi. Bà ghê gớm lắm! Thế bà muốn chất liệu nào? Bút sắt, sơn
    dầu, bột mầu hay sơn mài? Hay cả bốn thứ gộp lại?
    - Tôi không quan tâm nhiều đến chất liệu, thưa ông! Đó là quyền của
    người vẽ. Cái tôi cần là: TÔI ĐúNG Là TÔI. Ông muốn vẽ kiểu gì cũng
    được, càng giản dị càng tốt.
    - Vâng! Thế bao giờ bà có thể cho tôi cái quyền được mời bà ngồi để tôi
    bắt đầu công việc?
    - Ngay bây giờ nếu ông muốn.
    - Vâng, ngay bây giờ, tôi chấp nhận. Mời bà ngồi vào cái ghế ở cạnh nơi
    cửa sổ kia. Mời bà! - Ông nói như ra lệnh.
    Buổi chiều hôm đó, với một chút thích thú, chút tò mò, hiếu thắng và cả
    một chút cay cú xáo trộn trong đầu, họa sĩ Lưu An lôi cái khung vải giăng
    đầy mạng nhện bị bỏ quên lâu ngày ở gầm giường ra và bắt đầu công việc
    mà không hề có một tý nào hứng thú...... Họa sĩ Lưu An lâu nay chưa động
    bút vẽ một bức chân dung nào nghiêm ngắn, cũng như ông chưa vẽ được
    một cái gì cho ra tấm ra món theo ý nghĩa thường gọi của ngành nghề cả.
    Ông đang lụn bại. Lụn bại toàn diện cả về cuộc sống, kinh tế hạnh phúc gia
    đình lẫn sự nghiệp. Sau khi người vợ trẻ cùng nghề của ông bỏ ông ra đi
    cùng với đứa con trai mười hai tuổi, sau khi cái Gallery thứ hai của ông bị
    phá sản, bị giới phê bình chỉ trích, bị người đời quên lãng, không bán được
    một cái tranh nào, ông bắt đầu xa rời dần nghệ thuật. Buồn chán, thiếu
    thốn, cô đơn và nợ nần, ông không từ chối bất cứ một thứ gì có thể kiếm
    ra tiền mà ít phải đổ tâm huyết nhiều nhất: Kẻ biển, vẽ pa nô, áp phích, đắp
    tượng, viết khẩu hiệu... Cho tất cả các hội trường, nơi công cộng, đám

    cưới. Nếu có bạn bè giới thiệu, ông sẵn sàng đêm ngày lao động vào những
    sê-ri tranh lụa theo mô-típ quen thuộc: Cây đa, bến nước, sân đình, nhằm
    thỏa mãn thị hiếu cho những người ngoại quốc lắm tiền ưa mốt lạ Đông
    phương yên ả. Tóm lại là ông làm hết, làm đúng theo nghĩa thợ mặc dù đã
    có một thời ông rất đỗi khinh miệt cái từ rẻ rách này, mặc dù đã có một
    thời ông là tay vẽ tài hoa, luôn đứng cạnh những họa sĩ bậc thầy, cây đa cây
    đề của quốc gia mà không thấy tủi hổ.
    Tuy vậy, cùng với năm tháng nghiệt ngã, dẫu rằng những ngón tay nghệ sĩ
    nơi ông đã méo mó đi nhưng trái tim nghệ sĩ chân thật trong ngực ông vẫn
    thập thõm đập khôn nguôi ở một chỗ nào đó sâu kín lắm. Ông day dứt, ông
    khổ sở, ông đau đớn, ê chề mỗi khi phải ngửa tay nhận những đồng tiền
    gần như của bố thí của thiên hạ. Ông triền miên nhận thấy khoảng trống
    rỗng nhạt thếch ở trong lòng mình mỗi ngày mỗi nới rộng mà không sao
    vùng thoát ra được. Ông buông lơi mình vào những ly rượu sáng đêm và
    để hôm sau ngủ dậy, mồm miệng đắng nghét, lại tiếp nhận thêm một cái
    com-măng uốn sấy tóc, chữa truyền hình tủ lạnh, chuyên trị bệnh đái
    đường, đái buốt, đái ra mủ... khác. Công sản ra quấy quá, tiền thu vào rẻ
    mạt, lắt lẻo sống qua ngày, qua cái thời ly loạn của nghệ thuật, cái thời thứ
    rởm cưỡng dâm thứ thật, cái thời mọi giá trị tinh thần, vật chất đều hết sức
    lộn sòng, cái thời chứa chấp cuộc đồng tính luyến ái dữ dội giữa ăn xài và
    phá phách.
    Vậy thì để có ba triệu cho một bức chân dung nhạt nhẽo như thế này là béo
    bở quá rồi còn gì. Cám ơn trời phật đã run rủi cho con mẹ trưởng giả học
    làm sang ấy đến đây để ông có thể sống được một năm sạch sẽ, không phải
    bán linh hồn cho hè phố, không bị ba cái đái buốt, đái ra mủ kia réo gào, úp
    chụp lên đầu. Và như thế biết đâu chả có thể trở lại, vẽ lai được một cái gì
    đó của chính mình chăng? Biết đâu!... Lây lan một chút khói trá mơ hồ,
    ông mỉm cười huơ bút vẽ lên...
    Nhưng sự đời lại không giống như ông tưởng.
    Với một bức chân dung đơn giản như thế này, ông dự tính phác mộc mất
    một ngày, phẩy mầu hai ngày, vị chi chỉ cần khoảng ba ngày hoặc bốn ngày
    là xong, là nhận được tiền. Nhưng... Thật kỳ lạ! Ngay ở giai đoạn vẽ mộc,
    ông đã thấy cây bút trong tay mình vấp váp liên tục, vấp váp đến khốn
    khổ, như có một lực cản siêu hình nào đó cứ độc địa lái ngọn bút của ông đi
    chệch khỏi mọi thứ cảm nhận thông thường.

    Người đàn bà vẫn ngồi đó, lặng phắc, cạnh cửa sổ, bình thản, đôi mắt nhìn
    xa xăm ra ngoài khung trời hình vuông, đôi môi mím nhẹ không ra vui
    cũng không ra buồn, có lúc lại nhạt nhòa vô cảm, ngồi đó mà cũng không
    phải ngồi đó... Chỉ thế thôi mà hai giờ đồng hồ đã trôi qua, ông vẫn không
    tài nào nắm bắt được cái thần sắc mà xét đến cùng là chẳng có chi đặc biệt
    ấy. Ông đã thay đến khung vải thứ ba, thay đến tờ crô - ki thứ tư mà khuôn
    mặt bình dị của người đàn bà kia vẫn vuột đi xa tít, vô hình vô ảnh. Mồ hôi
    ông vã ra, ngực nóng ran, sống lưng mỏi dần, hai bàn tay cóng ngọng lại
    tưởng chừng như là tay của kẻ khác. Ông có cảm giác mình sắp sửa lên cơn
    sốt rét rung võng như những ngày ở Trường Sơn năm nào... Và ông buông
    bút xuống, bất lực:
    - Xin lỗi! Hôm nay tôi hơi... bị mệt. Hẹn bà ngày mai trở lại.
    Người đàn bà chớp mắt đứng dậy, vẫn bình thản đến tê lạnh nhưng đôi mắt
    nhìn vào ông thật buồn, nét mặt cũng thật buồn, cái buồn sâu thẳm, xót xa
    mà chỉ thoáng nhìn vào, ông đã thấy mình bị ngợp.
    - Ngày mai... Rất tiếc là tôi không thể trở lại được - Người đàn bà nói bằng
    cái giọng âm u thoảng nhẹ.
    - Thế thì tôi biết phải làm sao bây giờ? - Ông gắt lên - Bà định đùa tôi
    chắc? Không có ai vẽ một cái chân dung nghiêm chỉnh mà người mẫu chỉ
    ngồi đó có hai giờ đồng hồ bao giờ, bà hiểu chưa?
    - Tôi hiểu - Người đàn bà vẫn hết sức từ tốn, thậm chí lại có phần dịu dàng
    hơn - Chính thế mà tôi phải đi hai trăm cây số đến đây nhờ ông và tôi tin ở
    ông.
    - Bà mang cái tin ấy đi mà thờ Chúa. Tôi chỉ là một thằng người.
    - Vâng! - Người đàn bà nói sau một chút cắn môi ngẫm nghĩ - Tôi sẽ cố...
    cố trở lại. Nhưng nếu không trở lại được, tôi xin gửi ông tấm ảnh này. ảnh
    tôi chụp đầu năm, ông có thể căn cứ vào đó. Tôi xin phép đưa trước ông
    hai triệu. Sáu tháng sau, cũng ngày này, giờ này, sẽ có người tới đưa nốt
    cho ông một triệu và mang tranh về. Xin phép ông. Chúc ông thành công!
    Đặt số tiền được nói trong một miếng dù pháo sáng mầu cỏ úa có chút
    phẩm đỏ loang trên mặt như cánh hoa niêm phong lên bàn, không để cho
    ông phản ứng gì, bà ta cầm lấy túi xách tay đi luôn ra cửa.
    Phải mất một lúc lâu sau đó, ông vẫn chưa hiểu cái gì đã vừa xảy ra với
    mình và tự trong xôn xao tiềm thức, ông còn cảm nhận rõ cái hơi hướng lạ
    lẫm, vô hình của người đàn bà bí hiểm ấy vương lại trong lòng. Họa sĩ

    không bật đèn, ngồi lặng đi trong bóng tối rồi vỡ òa một tràng cười mà
    không hiểu mình cười cái gì?
    *
    Ngày hôm sau họa sĩ Lưu An treo tấm biển Đi vắng ngay trước cửa rồi
    lặng lẽ ngồi vào góc nhà nơi có cái khung vải trắng sáp và tấm hình của bà
    ta để lại kẹp bên cạnh.
    Ông làm việc âm thầm và nhọc mệt. Bà hàng xóm phòng đối diện chỉ thấy
    mỗi ngày ông láng giềng tốt bụng và hơi lẩn thẩn mở cửa đi ra ngoài một
    lần ăn uống cái gì đó rồi lại trở vào khóa trái cửa. Bà ái ngại thấy mỗi ngày
    ông mỗi gầy đi và đôi mắt cứ long lanh như đang lên cơn sốt.
    Ông đang lên cơn sốt thật! Cơn sốt sáng tạo, cơn sốt đam mê vĩ cuồng.
    Ông đang cô độc trải qua cơn vật vã tinh thần mà đã lâu lắm rồi nó chưa hề
    trở lại với ông. Những cái khung vải được thay nhau nhét xuống gầm
    giường. Những tờ giấy crô-ki lem nhem liên tục bị xé, vo viên quẳng vào
    sọt rác. Nhưng bức chân dung vẫn chưa nhích thêm được một chút nào
    thậm chí, bằng bề dày kinh nghiệm ông cảm thấy nó không thể nhích thêm
    được nữa! Quái lạ! Khuôn mặt người đàn bà cứ phồng lên xẹp xuống, lúc
    xa lúc gần, khi mờ khi hiện, như ảo ảnh, như ma trơi, tưởng đã nắm bắt
    được rồi nhưng mở tay ra lại trống trơn chẳng có gì. Có lúc ông ghì mắt
    vào tấm ảnh căn theo từng nét, có lúc lại che nó đi bằng giấy báo để vẽ
    bằng ký ức bức sốt và cũng có khi ông vẽ bằng cả hai: Nhìn và nhớ nhưng
    tất cả đều vô hiệu. Vẫn không đúng, không giống, vẫn không phải bà ta. Bà
    ta... Đến bây giờ nghĩ lại, nhớ lại, chiêm nghiệm lại, ông mới chợt nhận ra
    rằng khuôn mặt ấy không nhợt nhòa như ông tưởng. Một khuôn mặt vừa
    dịu hiền vừa cương nghị, vừa u hoài vừa rộn ràng sức sống, sâu sa và bồng
    bột, vừa ấm nóng vừa lạnh tanh, đằng sau cái vẻ bình thản kia là cả một
    dòng lũ nội tâm chảy xiết, lặng tờ đấy nhưng lại thật nhiều giằng xé, yếu
    đuối vô cùng mà lại sắc sảo biết bao... Và đôi mắt nữa! Dường như có cả
    một trời những mâu thuẫn, những nét nghịch đảo cùng ẩn chứa đằng sau cái
    vẻ buồn dìu dịu ấy. Trời ơi! Có lẽ mọi điều nan giải, mọi điều bí mật về
    hạt nhân hình họa đều nằm cả trong đôi mắt này.
    Thời gian lặng lẽ trôi qua trong căn phòng nhỏ. Một tháng... Hai tháng...
    Rồi ba tháng... Phần phác thảo mộc vẫn chưa xong. Người đàn bà cũng
    không thấy trở lại nữa!
    Đã có lần ông đã quyết định đóng cửa phòng đi tìm nhưng ra đến ngã ba,
    ông lại quay trở vào. Bà ấy, con quỷ hiện hình ấy có để lại một mẩu địa chỉ

    nào đâu ngoài cái gói tiền chết giẫm có cánh hoa đỏ loang ra trên miếng dù
    xanh pháo sáng kia. Ông đã nghĩ. Nếu bà ta quay lại, dứt khoát ông sẽ trả
    lại tiền, nếu cần trả cả lãi suất luôn thể để thoát khỏi cái cảnh bẽ bàng này,
    để đêm đêm khỏi bị cái khuôn mặt có đôi mắt quái dị kia ám ảnh nữa. Đúng
    là quái dị thật! Người đàn bà hiện về từ cái thế giới hư vô quái dị nào để
    làm tình làm tội ông đây?
    Mà cũng thật kỳ lạ! Đã có lúc mệt mỏi quá, ông quẳng ráo trọi cả đồ nghề
    ra vườn, quyết định không vẽ nữa. Nhưng nửa đêm, không hiểu sao, như
    có một ma lực hối thúc, ông lồm cồm trở dậy nhặt lại từng cái. Nỗi nhọc
    nhằn phi thực này lâu dần đã ăn sâu vào đầu óc ông, càng nhọc nhằn, ông
    lại càng thấy gắn bó vô hình với nó, rồi như không thể thiếu được nó. Nó
    và ông, hai thành phần ghét bỏ nhau đã nhào trộn vào nhau thành một. Tâm
    hồn ông cựa quậy, trái tim ông thắt bóp, mạch máu ông chảy mạnh hơn,
    trong ông đang biến cải, đang rục rịch sống lại một cái gì lạ lắm, thân thiết
    lắm nhưng cũng xa ngái lắm mà ông không tự biết...... Cũng vào một đêm
    như thế, sau cả một ngày làm việc mụ mị, họa sĩ rơi người vào trong một
    vùng ký ức xa xôi mà đã lâu lắm rồi ông không còn nhớ đến... Đó là một
    đêm mưa rừng rơi không dứt, gió lạnh mang theo những hạt mưa li ti từ
    khắp nơi thổi qua kẽ lá. Trong lán chỉ có hai người: Ông, một họa sĩ trẻ
    mới từ nước ngoài trở về tình nguyện xin vào ngay chiến trường và cô gái
    giao liên đang trên đường dẫn ông đến binh trạm. Ngọn lửa nhỏ bùng lên,
    soi tỏ khuôn mặt trẻ thơ mịn màng. Quần áo cô ướt sũng, bó dính lấy cái
    cơ thể nở nang, tròn lẳn của độ tuổi đang sức mười tám đôi mươi. Lửa vẫn
    nổ tí tách. Không hiểu do lửa hay hơi ấm từ cái thân thể rừng rực kia tỏa ra,
    ông bỗng thấy nóng ran cả người. Đột nhiên ông muốn vẽ và khe khẽ yêu
    cầu cô cứ thế ngồi yên lặng. Rừng đêm... Mưa gió... Chiến tranh... Chết
    chóc... Đời con gái gian nan... Ngày mai cái gì sẽ xảy ra với cô? Liệu có
    còn được gặp lại nhau một lần?... Dòng cảm xúc lãng mạn và ngậm ngùi
    choáng ngợp, ông vừa vẽ vừa thấy lòng mình rung lên khác lạ... Cô gái vẫn
    ngồi lành hiền như con sóc, con chim bé bỏng ướt át tội tình lên ánh lửa.
    Một khuôn mặt cằm tròn, một nước da xanh mầu lá đang ửng hồng, một
    sống mũi xinh xinh, một đôi mắt nhìn đi đâu xa xăm về phía bên kia ánh
    lửa, lửa chơi với trong mắt, lửa viền quanh má cô một đường sáng tạo nao
    lòng... Rồi đột ngột đôi mắt ấy quay lại phía ông. Đôi mắt ấy không rời
    ông ra nữa. Đau đáu, khắc khoải, chới với, dạn dĩ và xót xa đến ngượng
    ngùng. Trái tim ông ớn lạnh. Thân thể cường tráng nơi ông hối thúc ông

    được che chở, được hong khô, sưởi ấm. Mắt ông bắt ánh lửa trong mắt cô,
    cháy lên. Ông tiến lại... Ai đã trải tấm dù pháo sáng mầu cỏ úa trên vai cô
    xuống nền đất ẩm? Em chết mất!... Khuôn ngực căng cứng của cô nâng
    ông lên, sưởi ông và dìm ông xuống, chìm lịm, ôi anh! Ôi anh!... Em chết
    mất!... Cô cắn vào vai ông đến rớm máu. Suốt đời em sẽ chờ anh! Cô nói
    lên, đôi môi nhỏ nhòa máu và nước mắt... Khi đỡ cô ngồi dậy, dường như
    ông thoáng nhìn thấy có một chút sắc đỏ vương lại trên lá dù mầu cỏ úa...
    Sáng hôm sau trở dậy, ông không còn thấy cô gái đâu nữa! Một đoàn khách
    cần cô nhanh chóng dẫn ngược trở lại để tránh tọa độ B52. Còn ông, sau
    một chút bâng khuâng, ông tiếp tục hăm hở đi sâu xuống mặt trận. Sâu
    nữa... Và từ ấy, bao cảnh đời đã trôi qua, bao trận đánh đã ập vào, vài ba cô
    gái khác cũng đã đến với ông rồi lại đi, thú thật ông không có thời gian
    nghĩ đến, không kịp nghĩ đến cô nữa - Một cô gái giao liên ngẫu nhiên gặp
    giữa rừng mà vội vàng tới nỗi, cái tên cô ông cũng không hỏi kịp! Rồi hòa
    bình...
    Tiếng nổ cháy rừng và mùi khét lẹt xộc lên khiến ông choàng tỉnh... Một
    ngọn lửa nhỏ đang phực lên nơi khung vải ông đang vẽ dở. Ngọn lửa đang
    liếm gần vào tấm ảnh người đàn bà. Tấm ảnh cong lên... Ông chợt nhớ
    đêm qua mất điện, ông phải đốt nến làm việc rồi mệt quá thiếp đi. Lát sau,
    khi ông cuống quýt dập rụi được ngọn lửa thì tấm ảnh đã cháy sém hết một
    phần ba!... Nhưng chính hai phần còn lại đã làm ông sững sờ!... Chao ôi!
    Dưới quầng sáng nhập nhòa của cây nến mới được đốt lại, trong cái mùi
    khen khét quá ư quen thuộc của rừng bị đốt cháy, của bom đạn còn vương
    vất đâu đây, khuôn mặt người đàn bà bỗng dưng mềm lại, trẻ thơ mịn
    màng, đang rọi về ông cái ánh nhìn bé bỏng, tội tình và có phần trách
    móc... Ông vồ lấy tấm ảnh đưa ra sát ngọn nến... Nhưng rồi ông lại buông
    rơi xuống, tuyệt vọng! Khuôn mặt có viền sáng nôn nao của cô gáo giao
    liên năm nào không còn nữa, trong hình vẫn chỉ là nét mặt bí hiểm của
    người đàn bà đang nhìn ông hết sức dửng dưng.
    Nhưng như thế cũng là đủ.
    Cái khoảnh khắc ma quái không rõ từ trong ông tỏa ra hay do chính tấm
    ảnh kia xuất thần, như một chớp lửa rừng già, đã làm đầu óc ông sáng
    bừng lên. Ông đã hiểu mình phải vẽ cái gì và vẽ như thế nào rồi. Trời ơi!
    Tất cả chỉ là một chút ánh hồng nơi khóe mắt và một nét phẩy nhỏ ở khóe
    môi. Chỉ thế thôi là khuôn mặt người đàn bà kia sẽ khác hẳn mà tại sao
    suốt ba tháng trời vật lộn mà ông không thể nghĩ ra? Phải chăng ngọn lửa

    rừng năm ấy và ngọn nến cháy lan vào ảnh hôm nay đã soi tỏ cho ông một
    chi tiết mà nếu có khổ công tìm tòi cả đời trong phòng kín chắc cũng không
    ra?
    Toàn bộ cảm hứng nơi ông tưởng đã giá lạnh, giờ đây bỗng nóng bức trở
    ngược về quá khứ, trở ngược về những năm tháng đau thương và lãng
    mạn, những năm tháng quá đỗi nhọc nhằn nhưng cũng là những năm tháng
    trong trẻo, đẹp đẽ nhất đời ông, thế hệ của ông. Và ông vẽ. Vẽ đêm ngày
    mài miệt. Tấm biển ĐI Vắng vẫn im phắc treo ngoài cửa. Những khung vải
    không còn bị vất xuống gầm giường, những tờ crô-ki dày dặn đã nằm yên
    trên giá. Bức phác thảo xong, ông định sử dụng bột mầu nhưng sau đó ông
    lại quyết định xử lý những gam mầu chói gắt và thâm trầm của sơn dầu.
    Tất cả chỉ là một chút ánh hồng thẳm sâu nơi khóe mắt, một nét phẩy nhỏ
    ngọt ngào nơi khóe môi, một đường viền tỏa rạng nâng cả khuôn mặt lên
    khỏi mọi nỗi gian truân và ngầu bọt. Cái gian truân của ngày hôm qua và
    cái ngầu bọt ngày hôm nay. Ông lại đang bồng bềnh trong một cơn sốt.
    Cơn sốt đam mê của sáng tạo. Cơn sốt quá khứ. Ông không chỉ vẽ một bức
    chân dung, sâu đậm hơn, ông đang sống lại và làm sống lại qua hình ảnh
    của người đàn bà đó một thời trai trẻ sống động, thuần phác tươi nguyên
    của mình. Đã lâu lắm rồi ông mới lại có những khoảnh khắc sáng tạo hết
    mình, sáng tạo thăng hoa đến tan chảy thế này.
    Đúng sáu tháng sau, bức chân dung được hoàn tất bằng một nét chấm phá
    táo bạo cuối cùng. Họa sĩ gần như kiệt sức, thân thể gầy tọp đi đến năm ký
    lô, tóc bạc nhiều hơn nhưng riêng đôi mắt lại bàng bạc một cõi tĩnh lặng
    siêu phàm.
    Tắm rửa sạch sẽ, cạo râu, thay một bộ đồ mới, ăn một bữa cơm tiệm thật
    ngon, ông trở về ngồi im lặng ngắm bức tranh, bồn chồn chờ chủ nhân của
    nó đến tiếp nhận. Nắng chiều từ ngoài cửa sổ tràn vào dịu nhẹ. Khuôn mặt
    người đàn bà sáng tỏa trong một vẻ đẹp nội tâm khác lạ. Vẫn là khuôn mặt
    ấy nhưng thấm đậm hơn, thần sắc hơn. Vẫn là cái ánh nhìn dìu dịu buồn
    ấy nhưng lại lom dom cháy những đốm sáng của sự vị tha nhân hậu, của sự
    sắt son chung thủy bên trong. Nhìn vào đó, tâm hồn ta bỗng tự dưng yên ả
    dù cuộc đời có ngang ngửa thế nào cũng chẳng nỡ đánh mất niềm tin. Đôi
    mắt biết nói, biết chia sẻ và biết tâm tình se sẽ. Đôi mắt của cô gái giao liên
    áo quần sũng ướt ngày nào pha trộn với cái nhìn điềm tĩnh thể tất của
    người đàn bà đã luống tuổi hôm nay.

    Một tiếng gõ cửa khe khẽ vang lên... Cô ấy rồi! Bà ấy đến rồi! Người họa
    sĩ già reo thầm một tiếng trong đầu. Chao, tối nay nếu có thể được, ông sẽ
    nói với bà ấy thật nhiều, sẽ ôn lại, kể lại mọi thứ chuyện và nếu... Nếu bà
    ấy không để bụng, không ruồng rẫy, không oán trách thì biết đâu... Phải,
    biết đâu hai người có thể sống lại những giây phút đã lùi xa bên ngọn lửa
    giữa cánh rừng bom đạn ấy? Với tâm trạng hết sức bồi hồi, ông run run
    đặt tay lên nắm đấm cửa...
    Nhưng hiện ra trước mặt ông không phải bà ta mà lại là một cô gái mảnh
    khảnh có cái nhìn tư lự. Cô ta mở to đôi mắt khá đẹp nhìn ông một lát rồi
    nói nhỏ:
    - Bà hiệu trưởng nhờ cháu đến bác lấy bức tranh.
    - Bà hiệu trưởng nào? - Ông hỏi với giọng có chiều hụt hẫng.
    - Bà hiệu trưởng cách đây đúng sáu tháng đã đặt bác vẽ một bức chân dung.
    - Nhưng... Thế bà ấy đâu - Giọng ông đã tỏ ra sốt ruột - Và cô là ai?
    - Dạ, đây là thư của bà ấy, bác đọc sẽ rõ.
    Mải cập rập xé chiếc phong bì dán rất cẩn thận, ông họa sĩ không để ý thấy
    cô gái đang quan sát căn phòng của ông cũng vẫn bằng đôi mắt chậm rãi
    dìu dịu buồn của người đàn bà cách đây sáu tháng kia.
    Bức thư viết bằng nét chữ rời rạc, có đôi đoạn gẫy vụn:
    "Anh Lưu An!
    Chắc anh đã vẽ xong bức chân dung và chắc anh cũng đã nhớ ra em là ai.
    Xin lỗi đã làm cho anh phải nhọc lòng và phải nhớ những điều không nên
    nhớ. Anh biết không? Sau cái đêm ở lán ấy, em đi tìm anh khắp nơi, đi hỏi
    tin anh ở khắp mọi chỗ nhưng có người nói anh đã chuyển ra Bắc, người
    khác nói anh đi xuống sát ven đô, lại có người bảo anh bị thương, bị sốt rét
    ác tính chết rồi! Buồn quá! Em khóc suốt một tuần rồi làm một mâm giữa
    rừng giỗ anh. ít tháng sau em được điều đi học. Ra trường em lấy chồng,
    sinh con nhưng hình ảnh anh không lúc nào nguôi ngoai trong em. Đó là
    mối tình đầu, là lần hiến dâng thứ nhất, trọn vẹn và say đắm không bao giờ
    có được nữa. Anh có tin không? Có lẽ cái vết đỏ vương lại trên tấm dù
    mầu cỏ úa, dấu hiệu một đời trinh trắng hiến cho anh đêm đó sẽ nói hộ em
    nhiều hơn những điều em muốn nói.
    Thế rồi một lần đọc báo thấy hình anh và phòng tranh GALLERY đầu tiên
    của anh, em đã mừng đến rơi nước mắt. Em đã lén đến đó để được nhìn
    anh, chứng kiến thành công của anh và cũng để biết anh có... gia đình, một
    gia đình thuận hòa, ấm cúng và đàng hoàng. Người ta bảo thế. Trước tình

    cảnh ấy, em tự cảm thấy mình thừa, thấy là rất vô duyên nếu đứng ra nhận
    anh. Nhận để làm gì khi giữa hai người không còn gì nữa, khi anh đang
    được vầng hào quang của thành công vây bủa bốn xung quanh và nhận làm
    gì khi nghĩ rằng, chắc gì anh đã còn nhớ em, một con bé giao liên mờ nhạt
    ngẫu nhiên gặp giữa rừng rồi sớm mai lại chia tay. Thì đến ngay cái tên của
    em anh đâu đã kịp hỏi kia mà! Thế là em ầm thầm đi ngược lại trăm cây số
    trở về...
    Nhưng, giống như sự ám ảnh của vô thức của một thời sôi nổi không thể
    dùng lý trí thoát vùng ra được, thỉnh thoảng em vẫn đến với anh. Đến để
    không dám vào, đến để chỉ lảng vảng ngoài đường nhìn qua hàng song sắt
    vào phòng vẽ của anh rồi lại lủi thủi ra về. Chính trong những lần như thế,
    em đã được biết được gia đình anh không còn thuận hòa như trước. Vợ
    anh không yêu anh. Anh bỏ bê công việc, cái GALLERY thứ hai của anh
    không có tiếng vang... Có lần nhìn anh bơ phờ đi lại trong phòng, tóc bạc
    từng đám, hai mắt trũng sâu, tay cầm cái bánh mì mà không đưa lên miệng
    nhai nổi, thương quá, em đã định cứ liều vào với anh, chăm sóc anh, được
    nói với anh vài điều nhưng rồi em lại quay đi. Là đàn bà với nhau, dù có
    thế nào em cũng không thể nhân dịp này mà nhảy vào chiếm chỗ của cô ấy.
    Em không thể. Rồi vợ chồng anh chia tay. Rồi anh xa rời nghệ thuật, anh
    hoàn toàn không còn là anh nữa...
    Đó cũng chính là lúc em bắt đầu phát bệnh do thứ chất độc da cam đã ủ
    trong thân thể từ hồi ở rừng mà không biết. Em biết mình không còn sống
    lâu nữa và càng cồn cào nghĩ đến anh. Và thế là em đã quyết định tìm đến
    anh để đặt vẽ một bức chân dung. Em đâu có thích chân dung nhưng thấp
    thỏm hy vọng rằng nó sẽ là cái cớ để nhắc anh trở về với những năm tháng
    tốt đẹp nhất của chúng ta, để mong anh tĩnh trí lại. Thế thôi. Và không hiểu
    sao em tin anh sẽ tĩnh trí được.
    Anh Lưu An! Khi anh nhận được thư này thì em đã đi rồi. Đi xa lắm! Phận
    em thế là xong, hoàn toàn thanh thản. Chỉ áy náy về anh như áy náy về một
    cái gì thân thiết nhất nhưng cũng mỏng manh không có thật nhất của đời
    mình. Lạ thế! Trong trái tim yếu đuối của đàn bà chúng em, có những góc
    sâu lắng mà đàn ông các anh ồn ào không bao giờ hiểu nổi đâu.
    Em đã đến giờ phải đi... Em cầu mong cho anh sức khỏe, niềm vui, nghị
    lực và trở lại đúng là anh những ngày ấy. Xin trả nốt anh số tiền còn lại
    nhưng không phải số tiền một triệu mà là mười lăm triệu. Cả cuộc đời,
    cộng thêm vài lần đi nước ngoài, em đã dành dụm được, chỉ có thế. Em để

    lại cho chồng em một nửa và anh một nửa. Anh có thể sử dụng nó vào
    GALLERY thứ ba của anh tới đây được không? Em mong...
    Bởi vì, đây mới là điều hệ trọng nhất: Cô gái cầm số tiền này đến anh để
    lấy bức chân dung chính là giọt máu anh đã để lại trong em sau cái đêm
    rừng mưa rơi không dứt ấy. Tên nó là An!
    Vĩnh biệt anh!"
    Đọc xong lá thư, mắt nhòa lệ nhìn lên, người họa sĩ già bỗng thảng thốt
    rùng mình... Trời! Có phải cái cô gái giao liên áo quần ướt sũng có đôi mắt
    ngây thơ, khắc khoải bên ngọn lửa lán trại năm nào đang đau đáu nhìn ông
    kia không?
    - Con!... Tiếng gọi thốt lên từ buồng phổi ọp ẹp không đủ sức thoát ra
    ngoài mà lại chìm sâu vào gan ruột.
    12-1991

    GIÓ KHÔNG THỔI TỪ BIỂN
    Chu Lai
    dtv-ebook.com
    Phần I
    Mấy bữa nay xuất hiện ở trước chợ Vườn Chuối một người đàn ông
    bán thuốc nam. Nhìn vẻ ngoài anh ta chẳng có gì đáng chú ý. Tuổi anh ta,
    vì nước da mai mái nên thật khó đoán. Tóc anh ta để dài, rồi xoăn, người
    tầm thước. Hai con mắt nhìn vừa hiền lành, vừa rụt rè như tất cả những
    người dân cao nguyên một năm đôi bận xuống thành phố mua bán. Nếu có
    gì khác chăng, thì là việc các môn thuốc của anh ta thường được nhiều
    người mua, nhiều người tới ngó nghiêng.
    - Cái nhà anh này làm ăn coi bộ thiệt thà.
    - Dùng thuốc của anh trị bịnh cho con nít thì khỏi liền.
    - Tiền nong ông cũng lấy chừng mực lắm, không mắc như mấy người
    khác đâu.
    Bà con đi chợ thường nói về anh như vậy. Có người khen ngay trước
    mặt, anh chỉ cười. Cái cười ngượng nghịu như chỉ quen với núi đồi hoang
    vắng mà không quên phô bày tình cảm ở trước phố chợ đông người, để lộ
    hàm răng xỉn màu ngồ ngộ như cái cười của đứa trẻ sún răng.
    Dáng ngồi làm lũi của anh thật tương phản với cảnh chợ nhức mắt
    những sắc màu, những ồn ào chát chúa của hàng rẫy quán tiệm, của những
    tốp lính người Việt, người ngoại quốc xộc vào, xộc ra, nghiêng ngả và của
    tất cả những âm thanh hỗn tạp, kì quái vốn có của một cái chợ tràn ngập
    hàng hóa. Màu áo chàm của anh càng tương phản với tòa cư xá Mỹ cao vòi
    vọi ở gốc phố bên kia đường. Vào những lúc xế chiều, cái dáng nhỏ nhoi
    hơi khập khiễng của anh bị bóng rợp tòa nhà làm bạc đi xiêu vẹo. Anh
    ngước nhìn lên một chút, mặt hơi nhăn lại như bị ngộp thở rồi lại cúi
    xuống chậm rãi cất từng bước một.

    Người bán thuốc đi tìm chỗ nghỉ đêm.
    Vào những lúc ấy, nếu anh bớt rụt rè đi một chút hoặc giả có ai đó đột
    nhiên gọi lại đưa nốt số tiền mà anh quên chưa lấy, có lẽ anh sẽ bắt gặp
    một đôi mắt từ xa đang dọi thẳng vào gáy mình. Dưới đôi mắt ấy là cái
    miệng mím chặt và phía trên vàng trán vuông căng ra, kéo đôi mắt xếch lên.
    Chỗ nghỉ đêm của anh thường phụ thuộc vào tiết trời mưa hay tạnh.
    Mưa thì ngồi bó gối thu lu trên sạp hàng, tạnh lại nằm cong queo dưới bất
    cứ một mái hàng hiên nào. Gặp bữa kiếm được khá tiền, anh thường ghé
    vào cái quán trọ lợp mái tôn, tường ghép bằng vỏ đồ hộp gần bùng binh.
    Cũng có đêm trời trở lạnh, những người lính quân cảnh hoặc cảnh sát dã
    chiến đô thành đôi lúc gặp anh đi thơ thẩn nơi này nơi nọ cũng như tất cả
    những đứa con bụi bặm của đêm không có mái lá che thân. Tóm lại chẳng
    có gì đáng lưu tâm.
    Riêng đêm nay anh lại nghỉ ngơi trong một ngôi nhà nhỏ dưới chân cầu
    xa lộ. Đang trên đường đến bến xe với ý định nghỉ tạm qua đêm để sáng
    mai xuôi về Thủ Đức bán nốt số thuốc còn lại thì bà má từ trong ngôi nhà
    đó hớt hải chạy ra nằn nì mời anh vào nhà chữa bệnh cho thằng cháu chưa
    đầy hai tuổi.
    Thằng bé ba hôm nay sốt cao, lên cơn co giật, người ta mách ở Tân
    Bình có ông lang zếch chữa các bệnh trẻ con hay lắm. Chưa chạy đủ tiền
    đưa con đi nhà thương, nghe vậy mừng quá, chị tất tả định đi luôn. Bà mẹ
    lắc đầu: “Tối rồi. Đường đất bây giờ hỗn độn lắm. Đàn bà con gái một
    thân một mình đi không có được đâu. Để mẹ chạy ra chợ xem ông thầy
    thuốc nam còn đó thì rước về”. Nghe má nói phải nhưng nóng ruột, chị
    không chờ được. Vả lại, ông thầy thuốc nam đó mới nghe nói mát tay chứ
    thực hư đã biết thế nào.
    Còn lâu mới tới giờ giới nghiêm mà đường phố đã vắng người qua lại.
    Thời buối nhá nhem này, không ai dại gì ra đường buổi tối. Không gặp
    phải mấy người cảnh sát, quân cảnh giữ lại hạch xách cũng đụng bọn du
    thủ du thực làm rầy. Đó là chưa nói đến chuyện mấy cha lính Mỹ nhậu say

    rồi không cón đếm xỉa gì đến phép tắc giao tiếp với người bản xứ nữa. Tốt
    nhất là cứ kín cửa cái then, không hay không biết gì cả.
    Chị đi như chạy. Những cơn co giật của đứa con làm ríu chân người mẹ.
    Chị đi mà không cần biết cái gì đã xảy đến với mình. Tuy nhiên tới đầu
    một cái hẻm tối hun hút, bước chân chị hơi chựng lại: hẻm Đầu Bò! Cái
    tên này bao lâu nay thường gây lo âu cho những người qua đường. Người
    ta nói những dân dao búa tối nào cũng tụ bạ ở đây ăn uống nhậu nhẹt sau
    một ngày tỏa ra làm ăn trên khắp các ngõ ngách trong thành phố. Và cũng
    tụ bạ luôn cả những cô gái làng chơi. Hình như cứ ở đâu có du đãng là ở đó
    có cái loại gái này. Nó tồn tại như bóng với hình, nương tựa, bổ sung cho
    nhau. Người non gan, ban ngày đi qua đây còn thấy rờn rợn chứ đừng nói
    ban đêm. Ngay cả cảnh sát an ninh nhiều khi cũng kiếm cớ lảng tránh hoặc
    phóng xe ào qua cho xong chuyện. Dính với đám này lằng nhằng lắm. Đã
    từ lâu, hẻm Đầu Bò tồn tại như một vương quốc riêng, ngoài vòng pháp
    luật.
    Tất cả những điều tồn tại ấy chị đều biết nhưng bộ mặt tái xám của đứa
    con không cho phép chị phung phí thêm một phút giây nào nữa. Chị đi qua
    những căn nhà tối tù mù, bước trên những khối gạch, đá, xi măng xù xì,
    hốc hoắm. Một bóng đàn ông từ trong bóng tối tiến ra:
    - Đi đâu đó? Lại đây cô em!
    Không thèm trả lời, chị vẫn bước, để mặc cái bóng đàn ông ấy chưng
    hửng giữa đường. Chị đang đi gần tới một cửa tiệm mờ khói thuốc, có ba
    người đàn ông ngoảnh mặt nhìn đăm đăm ra cửa. Có lẽ họ ngồi đây đã lâu
    và bây giờ không còn gì để nói với nhau nữa nên âm thầm đốt thuốc. Chai
    lọ, chén bát nằm ngả ngốn đầy bàn. Người ngồi giữa nhỏ con, chìm trong
    bóng tối, đầu chùn xuống vai như ông già, chỉ riêng đôi mắt là ánh lên cái
    vẻ ranh mãnh, lì lợm. Đôi mắt ấy vấp phải người đàn bà và nheo lại.
    - ủa con nhỏ nào kia?
    - Lạ hoắc! - Người ngồi bên trái mặc áo lính Mỹ rộng thùng hơi nhao
    đầu ra cửa, trả lời. Không phải bọn con gái tao bao ở đây.

    - Chắc vậy không? Con nhỏ này trông được quá!
    - Dạ chắc! Tôi nhớ kỹ mặt từng đứa mà anh Hai.
    - Kỳ hè. Gọi lại đây coi.
    Người thứ ba trung tuổi, thân thể to cao, đen đúa đứng dậy. Tầm lưng
    đồ sộ của anh ta che lấp cả khuôn cửa sáng đèn, phủ chụp luôn lên cái dáng
    mảnh khảnh của chị vừa sững lại.
    - Cô kia đi đâu?
    Nhìn lên một chút, không trả lời, chị tránh qua một bên định bước tiếp.
    Cái bóng cao to chặn lại.
    - Phép ở đây đã hỏi là phải trả lời. Đi đâu?
    - Tôi đi mua thuốc cho con - Chị cau mày.
    - Vậy chớ! Sao đi lối này?
    - Đường phố là của chung mọi người. Tôi đi lối nào tùy tôi, ông tránh
    ra.
    - Ai cha! Nói năng nghe cứng cỏi gớm hà. Thế cô có biết chỗ này là chỗ
    nào không?
    - Biết! Nhưng có can hệ gì đến tôi? Tôi đi mua thuốc cho con tôi.
    - Thế cô có biết...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML