CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Thuyen Truong Va Dai Uy - Veniamin Kaverin

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 20h:28' 17-03-2024
    Dung lượng: 9.2 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY
    V.KAVERIN
    (Giải thưởng văn học Stalin 1946) Tái bản
    Ngọc Kỳ và Trần Luân Kim dịch
    NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN – 2004
    Dịch theo bản Nga văn của Nhà xuất bản “Văn nghệ” Moskva
    1964 và bản Trung văn của Nhà xuất bản “Nhân dân văn học”
    Bắc Kinh 1959.
    Nguồn sách: Cải
    OCR: 4DHN
    Điều hành dự án: Rafa
    Những người tham gia soát lỗi: bichdinh, langtu, Lichan,
    Deathshine, Antigone, Cải, AsuraZ, Rafa, Donquixote,
    Mystery2110, thichankem, Mot_sach09, Lemontree123,
    hhongxuan, Chi_Chi, minhtrang, hhanhh, Ban Tang Du Tử,
    hero229
    Soát lỗi lần cuối: Caruri
    Chế bản: 4DHN và Caruri
    Ngày hoàn thành: Tháng 2 năm 2018

    Mục lục
    LỜI GIỚI THIỆU
    PHẦN THỨ NHẤT THỜI THƠ ẤU
    CHƯƠNG 1 LÁ THƯ. ĐI CÂU TÔM BIẾC
    CHƯƠNG 2 CHA
    CHƯƠNG 3 CHẠY CHỌT
    CHƯƠNG 4 VỀ NÔNG THÔN
    CHƯƠNG 5 ÔNG BÁC SĨ IVAN IVANYCH. TÔI HỌC
    NÓI
    CHƯƠNG 6 CHA TÔI CHẾT. TÔI KHÔNG MUỐN NÓI
    NỮA
    CHƯƠNG 7 MẸ
    CHƯƠNG 8 PETYA SKOVORODNIKOV
    CHƯƠNG 9 MỘT GẠCH, MỘT GẠCH, GẠCH NỮA,
    GẠCH THỨ NĂM, THỨ HAI MƯƠI, THỨ MỘT TRĂM
    CHƯƠNG 10 DÌ DASHA
    CHƯƠNG 11 CUỘC NÓI CHUYỆN VỚI PETYA
    CHƯƠNG 12 GAER KULY TRONG TIỂU ĐOÀN CẢM
    TỬ
    CHƯƠNG 13 BUỔI ĐƯA ĐÁM MẸ
    CHƯƠNG 14 BỎ TRỐN, TÔI KHÔNG NGỦ. TÔI CHỈ
    GIẢ VỜ NGỦ
    CHƯƠNG 15 ĐẤU TRANH VÀ TÌM TÒI, QUYẾT ĐẠT
    MỤC ĐÍCH CHỨ KHÔNG ĐẦU HÀNG
    CHƯƠNG 16 CHUYẾN BAY ĐẦU TIÊN
    CHƯƠNG 17 NHỮNG CON GIỐNG
    CHƯƠNG 18 NIKOLAI ANTONYCH

    PHẦN THỨ HAI CÓ NHỮNG ĐIỀU ĐỂ SUY NGHĨ
    CHƯƠNG 1 TÔI NGHE KỂ CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
    CHƯƠNG 2 TRƯỜNG HỌC
    CHƯƠNG 3 BÀ CỤ NGƯỜI Ở ENSK
    CHƯƠNG 4 CÓ NHỮNG CHUYỆN XẢY RA LÀM TÔI
    PHẢI SUY NGHĨ
    CHƯƠNG 5 TRONG TUYẾT CÓ MUỐI KHÔNG?
    CHƯƠNG 6 ĐẾN CHƠI NHÀ KATYA
    CHƯƠNG 7 GIA ĐÌNH TATARINOV
    CHƯƠNG 8 ĐỘI KỊCH NHÀ TRƯỜNG
    CHƯƠNG 9 THẦY GIÁO KORABLYOV CẦU HÔN.
    TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ GIÁO
    CHƯƠNG 10 THƯ TRẢ LỜI CỰ TUYỆT
    CHƯƠNG 11 TÔI RA ĐI
    CHƯƠNG 12 MỘT CUỘC NÓI CHUYỆN NGHIÊM TÚC
    CHƯƠNG 13 TÔI SUY NGHĨ
    CHƯƠNG 14 ĐỒNG NĂM MƯƠI CÔ-PẾCH BẰNG BẠC
    PHẦN THỨ BA NHỮNG LÁ THƯ CŨ
    CHƯƠNG 1 BỐN NĂM
    CHƯƠNG 2 PHIÊN TÒA XỬ EVGENY ONEGIN
    CHƯƠNG 3 TRÊN SÂN TRƯỢT BĂNG
    CHƯƠNG 4 NHỮNG THAY ĐỔI
    CHƯƠNG 5 NGƯỜI CHA CỦA KATYA
    CHƯƠNG 6 THAY ĐỔI CÀNG NHIỀU
    CHƯƠNG 7 CÁC NHẬN XÉT BÊN LỀ SÁCH. NHỮNG
    CON CHUỘT CỦA VALYA. NGƯỜI QUEN CŨ
    CHƯƠNG 8 DẠ HỘI
    CHƯƠNG 9 CUỘC HẸN HÒ ĐẦU TIÊN. ĐÊM KHÔNG
    NGỦ
    CHƯƠNG 10 NHỮNG CHUYỆN KHÔNG HAY

    CHƯƠNG 11 TÔI VỀ ENSK
    CHƯƠNG 12 NGÔI NHÀ THÂN THUỘC
    CHƯƠNG 13 NHỮNG BỨC THƯ CŨ
    CHƯƠNG 14 GẶP NHAU Ở VƯỜN NHÀ THỜ. ĐỪNG
    CÓ TIN Ở CON NGƯỜI ẤY
    CHƯƠNG 15 CHÚNG TÔI ĐI DẠO. TẢO MỘ. GIA ĐÌNH
    BUBENCHIKOV. NGÀY BIỆT LY
    CHƯƠNG 16 CÁI GÌ ĐANG CHỜ TÔI Ở MOSKVA
    CHƯƠNG 17 VALKA
    CHƯƠNG 18 MỘT CHẾT MỘT SỐNG
    CHƯƠNG 19 BẠN CŨ
    CHƯƠNG 20 LẼ RA MỌI VIỆC CÓ THỂ KHÁC HẲN
    CHƯƠNG 21 BÀ MARIA VASILIEVNA
    CHƯƠNG 22 ĐÊM
    CHƯƠNG 23 LẠI NỘI QUY. KHÔNG PHẢI ÔNG ẤY.
    CHƯƠNG 24 LỜI VU KHỐNG
    CHƯƠNG 25 CUỘC HẸN HÒ CUỐI CÙNG
    PHẦN THỨ TƯ MIỀN BẮC
    CHƯƠNG 1 TRƯỜNG HÀNG KHÔNG
    CHƯƠNG 2 ĐÁM CƯỚI SANYA
    CHƯƠNG 3 TÔI VIẾT THƯ CHO BÁC SĨ IVAN
    IVANYCH
    CHƯƠNG 4 TÔI NHẬN ĐƯỢC THƯ TRẢ LỜI
    CHƯƠNG 5 BA NĂM
    CHƯƠNG 6 Ở NHÀ BÁC SĨ
    CHƯƠNG 7 TÔI ĐỌC NHẬT KÝ
    CHƯƠNG 8 GIA ĐÌNH BÁC SĨ
    CHƯƠNG 9 “HÌNH NHƯ CHÚNG MÌNH ĐÃ GẶP
    NHAU…”
    CHƯƠNG 10 CHÚC NGỦ NGON

    CHƯƠNG 11 BAY
    CHƯƠNG 12 BÃO TUYẾT
    CHƯƠNG 13 BẾP ĐÈN CỒN LÀ CÁI GÌ
    CHƯƠNG 14 CÁI CÂU LIÊM CŨ BẰNG ĐỒNG THAU
    CHƯƠNG 15 VANOKAN
    PHẦN THỨ NĂM VÌ LƯƠNG TÂM
    CHƯƠNG 1 GẶP KATYA
    CHƯƠNG 2 LỄ KỶ NIỆM CỦA THẦY KORABLYOV
    CHƯƠNG 3 VÔ ĐỀ
    CHƯƠNG 4 RẤT NHIỀU TIN MỚI
    CHƯƠNG 5 TRONG RẠP HÁT
    CHƯƠNG 6 LẠI CÓ NHIỀU ĐIỀU MỚI
    CHƯƠNG 7 “NHÀ TÔI CÓ KHÁCH”
    CHƯƠNG 8 TRUNG THÀNH VỚI VẬT KỶ NIỆM
    CHƯƠNG 9 TẤT CẢ ĐÃ ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH, CÔ ẤY
    DỌN ĐI
    CHƯƠNG 10 TẠI NGÕ SIVTSEV VRAZHEK
    CHƯƠNG 11 MỘT NGÀY BẬN RỘN
    CHƯƠNG 12 ROMASHKA
    PHẦN THỨ SÁU TUỔI XUÂN ĐANG TIẾP TỤC
    CHƯƠNG 1 “CÔ CHƯA HIỂU CẬU TA ĐÂU”
    CHƯƠNG 2 TRÊN QUẢNG TRƯỜNG SOBACHY
    CHƯƠNG 3 CHÚC CUỘC HÀNH TRÌNH THÀNH
    CÔNG VÀ HẠNH PHÚC!
    CHƯƠNG 4 CHÚNG TA HÃY CẠN CỐC VÌ SANYA
    CHƯƠNG 5 Ở ĐÂY CÓ VIẾT DÒNG CHỮ “TÀU ST.
    MARIA”
    CHƯƠNG 6 Ở NHÀ BÀ
    CHƯƠNG 7 MÙA ĐÔNG
    CHƯƠNG 8 THÀNH PHỐ LENIN

    CHƯƠNG 9 GẶP GỠ
    CHƯƠNG 10 ĐÊM
    CHƯƠNG 11 CÔ EM
    CHƯƠNG 12 VĨNH BIỆT
    CHƯƠNG 13 PETYA CON
    CHƯƠNG 14 NGƯỜI KHÁCH TRONG ĐÊM KHUYA
    CHƯƠNG 15 TUỔI XUÂN ĐANG ĐƯỢC KÉO DÀI
    THÊM
    CHƯƠNG 16 “ANH TRÔNG THẤY EM BẾ CON TRONG
    TAY”
    PHẦN THỨ BẢY PHÂN LY
    CHƯƠNG 1 NĂM NĂM
    CHƯƠNG 2 BÀ KỂ CHUYỆN GÌ
    CHƯƠNG 3 “PHẢI NHỚ ĐẤY, EM PHẢI TIN TƯỞNG”
    CHƯƠNG 4 “NHẤT ĐỊNH CHÚNG TÔI SẼ GẶP LẠI
    NHAU, NHƯNG KHÔNG PHẢI TRONG NGÀY MỘT
    NGÀY HAI”
    CHƯƠNG 5 ANH EM
    CHƯƠNG 6 BÂY GIỜ CHÚNG TA ĐỀU BÌNH ĐẲNG
    CHƯƠNG 7 GỬI “EKATERINA IVANOVNA
    TATARINOVA GRIGORIEVA”
    CHƯƠNG 8 ĐÂY LÀ THÀNH TÍCH CỦA BÁC SĨ
    CHƯƠNG 9 RÚT LUI
    CHƯƠNG 10 CUỘC SỐNG ĐƯƠNG ĐI LÊN
    CHƯƠNG 11 BỮA ĂN TỐI. “KHÔNG PHẢI NÓI VỀ TÔI
    ĐÂU”
    CHƯƠNG 12 TÔI TIN TƯỞNG
    CHƯƠNG 13 NGUỒN HY VỌNG
    CHƯƠNG 14 HẾT NGUỒN HY VỌNG

    CHƯƠNG 15 CẦU MONG MỐI TÌNH CỦA EM CỨU
    SỐNG ĐƯỢC ANH
    CHƯƠNG 16 XIN CHÀO – LENINGRAD
    PHẦN THỨ TÁM ĐẤU TRANH VÀ TÌM TÒI
    CHƯƠNG 1 BUỔI SÁNG
    CHƯƠNG 2 CẬU ẤY
    CHƯƠNG 3 CHÚNG TÔI LÀM TẤT CẢ NHỮNG GÌ CÓ
    THỂ LÀM ĐƯỢC
    CHƯƠNG 4 “CẬU ĐẤY À, CÚ MÈO”
    CHƯƠNG 5 MỐI HẬN CŨ
    CHƯƠNG 6 NHỮNG CÔ GÁI TỪ STANISLAV ĐẾN
    CHƯƠNG 7 TRONG CÁNH RỪNG BẠCH DƯƠNG NHỎ
    HẸP
    CHƯƠNG 8 CHẲNG CÓ AI BIẾT CẢ
    CHƯƠNG 9 MỘT MÌNH
    CHƯƠNG 10 CÁC CHÚ BÉ
    CHƯƠNG 11 CÂU CHUYỆN VỀ TÌNH YÊU
    CHƯƠNG 12 TRONG QUÂN Y VIỆN
    CHƯƠNG 13 BẢN ÁN
    CHƯƠNG 14 TÔI ĐI TÌM KATYA
    CHƯƠNG 15 CUỘC GẶP GỠ NHÀ ĐỊA LÝ THỦY VĂN
    R.
    CHƯƠNG 16 QUYẾT ĐỊNH
    CHƯƠNG 17 NHỮNG NGƯỜI BẠN VẮNG NHÀ
    CHƯƠNG 18 NGƯỜI QUEN CŨ. TẤM ẢNH CỦA
    KATYA
    CHƯƠNG 19 “ANH KHÔNG THỂ GIẾT CHẾT ĐƯỢC
    TÔI”
    CHƯƠNG 20 BÓNG TỐI

    PHẦN THỨ CHÍN QUYẾT ĐẠT MỤC ĐÍCH CHỨ KHÔNG
    ĐẦU HÀNG
    CHƯƠNG 1 NGƯỜI VỢ
    CHƯƠNG 2 SỰ VIỆC CÒN CHƯA KẾT THÚC
    CHƯƠNG 3 TỰ DO SĂN LÙNG
    CHƯƠNG 4 BÁC SĨ LÀM VIỆC Ở THÀNH PHỐ BẮC
    CỰC
    CHƯƠNG 5 CẠN CỐC VÌ NHỮNG NGƯỜI TRÊN MẶT
    BIỂN
    CHƯƠNG 6 KHOẢNG CÁCH XA XĂM
    CHƯƠNG 7 LẠI Ở THÀNH PHỐ ZAPOLYARYE
    CHƯƠNG 8 CHIẾN THẮNG
    PHẦN THỨ MƯỜI TRANG CUỐI CÙNG
    CHƯƠNG 1 LỜI GIẢI ĐÁP
    CHƯƠNG 2 MỘT VIỆC HẾT SỨC LẠ ĐỜI
    CHƯƠNG 3 ĐÓ CHÍNH LÀ KATYA
    CHƯƠNG 4 NHỮNG BỨC THƯ VĨNH BIỆT
    CHƯƠNG 5 TRANG CUỐI CÙNG
    CHƯƠNG 6 TRỞ VỀ
    CHƯƠNG 7 HAI CUỘC NÓI CHUYỆN
    CHƯƠNG 8 BẢN BÁO CÁO
    CHƯƠNG 9 CHƯƠNG CUỐI CÙNG
    ĐOẠN KẾT
    HẾT
    CHÚ THÍCH
    PHƯƠNG NGỮ, TỪ ĐỊA PHƯƠNG

    LỜI GIỚI THIỆU
    Có những cuốn sách mà ngay từ thời còn nhỏ nó đã trở thành
    người bạn thân thiết của ta và sau đó nó cứ tồn tại trong suốt cả
    đời mình. Cuốn tiểu thuyết “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” của
    Veniamin Aleksandrovich Kaverin, một nhà văn, nhà báo nổi
    tiếng của Liên Xô là một cuốn sách như vậy. Không phải ngẫu
    nhiên mà từ Nhà xuất bản Văn học Thiếu nhi, đến Nhà xuất bản
    Đội Cận Vệ thanh niên, Nhà xuất bản Văn học, Nhà xuất bản
    Chính trị quốc gia và hàng chục Nhà xuất bản khác ở Liên Xô đã
    in đi in lại cuốn tiểu thuyết này tới bốn, năm chục lần, mỗi lần
    hàng chục vạn bản[1].
    Kaverin sinh năm 1902. Từ ngày còn theo học ở trường trung
    học, ông đã say mê văn học và bắt đầu làm thơ. Năm 1919 ông
    học ở trường Đại học Tổng hợp Moskva; năm 1920 chuyển sang
    học ở trường Đại học Tổng hợp Leningrad và đồng thời còn
    tham gia nghiên cứu tiếng Ả-rập trong Học viện Ngôn ngữ
    Phương Đông. Giữa lúc đó “Câu lạc bộ văn học” Leningrad tổ
    chức cuộc thi văn cho các cây bút thanh niên, Kaverin đã tham
    gia với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, cuốn “Cây số thứ 11”.
    Truyện này đã được Maksim Gorky rất thích và khen ngợi. Từ đó
    trở đi Kaverin thường xuyên được sự chỉ đạo và giúp đỡ của nhà
    văn cách mạng vĩ đại đó.
    Trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, Kaverin đã
    công tác trên hạm đội Phương Bắc, đồng thời làm phóng viên
    cho tờ báo “Tin tức” và đã được tặng thưởng “Huy chương cờ
    đỏ”.

    Thời kỳ đầu, phần lớn những tác phẩm của Kaverin là những
    cuốn tiểu thuyết ảo tưởng; sau đó ông chuyển sang đề tài bộ mặt
    tinh thần và quá trình trưởng thành của thanh niên trong thời
    đại Xô Viết. Tiểu thuyết của ông khá nhiều, có hơn tám quyển
    lớn và nhiều cuốn đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.
    “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” là cuốn tiểu thuyết dài nổi
    tiếng nhất của Kaverin. Tác phẩm kể lại câu chuyện về chiếc tàu
    thám hiểm “St. Maria” của nước Nga trước Cách mạng tháng
    Mười, về thuyền trưởng Tatarinov và đội thám hiểm do ông
    lãnh đạo đã bị mất tích ở vùng Bắc cực và về chuyện đại úy
    không quân Liên Xô Aleksandr Grigoriev sau ngày Cách mạng
    đã đi tìm đội thám hiểm đó. Câu chuyện kéo dài trong hơn ba
    mươi năm, qua những tình tiết phức tạp, tinh tế, tác giả đã biểu
    hiện vô cùng sắc nét ý chí kiên cường và tinh thần cao thượng
    của thanh niên Liên Xô. Sau khi xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã
    lôi cuốn người đọc mãnh liệt. Năm 1946 “THUYỀN TRƯỞNG VÀ
    ĐẠI ÚY” đã được tặng giải thưởng văn học Stalin. Hiện nay
    “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” vốn là một trong số tác phẩm
    được nhân dân và thanh thiếu niên Liên Xô yêu thích nhất.
    Về giá trị của tác phẩm, nhà phê bình văn học V. Annenkov đã
    viết: “Grigoriev, nhân vật chính của “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI
    ÚY” đã trở thành tấm gương cho nhiều người. Không phải ngẫu
    nhiên mà một thanh niên nước ngoài đã viết: ““THUYỀN
    TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã đặt vào tay anh một vũ khí sắc bén. Vũ
    khí ấy là “Đấu tranh và tìm tòi, quyết đạt mục đích chứ không
    đầu hàng!””
    Tính chất lãng mạn của lao động sáng tạo, của phát minh
    khoa học, tính chất lãng mạn của dũng cảm và chiến công là
    động cơ của tư tưởng và tình cảm trong những nhân vật tốt đẹp

    nhất của Kaverin”.
    Theo nhà phê bình văn học G. Tre lova thì “THUYỀN
    TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã liên tiếp góp phần đào tạo thế hệ thanh
    niên cùng thời đại với nhân vật của nó… “THUYỀN TRƯỞNG VÀ
    ĐẠI ÚY” được tính trong số những cuốn sách văn học Xô Viết
    đặc biệt được yêu thích, đặc biệt được phổ biến rộng rãi trong
    quần chúng, những cuốn sách ấy xuất sắc ở điểm là mọi người
    đều mê.
    Và theo ý kiến của Viện văn học thế giới mang tên Lenin thì
    “Cuốn tiểu thuyết “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” của Kaverin
    đầy tinh thần dũng cảm, bền bỉ, dám nghĩ, dám làm. Nó đã trở
    thành một trong những cuốn sách được thanh thiếu niên Liên
    Xô yêu thích nhất”.
    Tóm lại đây là một tác phẩm văn học lớn, một cuốn tiểu
    thuyết có nội dung giáo dục rất cao, có sức hấp dẫn mãnh liệt.
    Hấp dẫn, không chỉ vì nó ly kỳ, dồn dập, cái gì cũng mới lạ,
    mà còn do nội dung tư tưởng, do số phận và cá tính của các
    nhân vật chính, do lời văn trong sáng, tươi mát và phong phú
    của nó.
    Xin trân trọng giới thiệu với toàn thể các bạn nam nữ thanh
    niên và các em thiếu niên lớn tuổi.
    Hà Nội, mùa xuân năm 1974
    Ngọc Kỳ

    Phần thứ nhất
    THỜI THƠ ẤU

    Chương 1
    Lá thư. Đi câu tôm biếc
    Tôi còn nhớ mãi cái sân rộng thênh thang nhưng bẩn thỉu và
    những căn nhà thấp bé có hàng rào bao bọc ấy. Cái sân ở ngay
    cạnh một con sông và cứ mùa xuân đến khi băng tuyết tan,
    nước rút đi là trên sân lại đầy những củi rác và vỏ sò, đôi khi còn
    có cả những vật rất hiếm thấy. Chẳng hạn như có lần chúng tôi
    vớ được một cái túi chật ních những bì thư. Sau đó nước sông lại
    đưa đến và nhẹ nhàng đẩy luôn chính cái người đưa thư ấy vào
    bờ. Anh ta nằm ngửa, hai tay giơ lên như muốn che nắng. Người
    này còn trẻ lắm, tóc vàng hoe, những chiếc khuy đồng trên áo
    vét kín cổ sáng lóng lánh – có lẽ trước khi đi đưa chuyến thư
    cuối cùng này anh ta vừa mới đánh khuy bằng phấn.

    Người cảnh sát mang cái túi đi, vứt lại bó thư bên trong đã bị
    nước ngấm ướt sũng. Dì Dasha nhặt đem về nhà. Chắc là túi
    đựng thư còn mới, lại làm bằng da và nắp đậy rất khít nên

    những bức thư bên trong vẫn còn xem được. Mỗi buổi tối dì
    Dasha lại đọc lên một bức thư, có khi dì chỉ đọc cho mình tôi
    nghe, có khi cả xóm cùng nghe. Việc đó thú vị đến nỗi cả các bà
    già thường đến nhà ông Skovorodnikov chơi bài cũng bỏ đấy
    đến nhập bọn với chúng tôi. Trong số thư ấy có một bức được dì
    Dasha hay đọc nhất, đến nỗi sau này tôi đã thuộc lòng. Từ đó
    đến nay bao nhiêu năm tháng đã trôi qua mà tôi vẫn còn thuộc
    từ đầu đến cuối.
    “Bà Maria Vasilievna kính mến!
    Trước hết xin báo tin để bà rõ là ông Ivan Lvovich hãy còn sống
    và khỏe mạnh. Cách đây bốn tháng, theo lệnh của ông, tôi đã rời
    khỏi chiếc tàu buồm cùng mười ba người nữa trong đội thủy thủ.
    Tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa sẽ được gặp bà, nên tôi sẽ không viết
    tỉ mỉ về chuyến đi gian nan này của chúng tôi trên những núi băng
    trôi về đất Franz Josef. Chúng tôi đã phải chịu đựng mọi nguy nan
    và gian khổ khôn lường. Tôi chỉ muốn nói với bà một điều là trong
    cả nhóm chỉ còn mình tôi đến được mũi Flora một cách an toàn
    (nếu không kể đến đôi chân cứng dại vì băng giá). Chiếc tàu “St.
    Phocas” thuộc đội thám hiểm của trung úy Sedov đã cứu tôi và đưa
    về Arkhangelsk. Tôi được sống sót nhưng có lẽ phải lấy làm tiếc về
    điều đó vì một ngày gần đây tôi sẽ phải cưa chân và sau đó thì chỉ
    còn biết trông chờ ở lòng nhân từ của Chúa. Tôi không biết sẽ sống
    ra sao khi không còn chân nào nữa. Dưới đây tôi xin báo để bà biết:
    chiếc tàu “St. Maria” bị nghẽn băng ở ngoài biển Kara và từ tháng
    Mười năm 1912 nó không ngừng di chuyển lên phía Bắc cùng với
    những tảng băng Bắc cực. Khi chúng tôi rời khỏi chiếc tàu buồm thì
    nó ở vĩ độ 82°55'. Nó nằm nguyên giữa biển băng hay nói cho đúng
    hơn thì từ mùa thu năm 1912 nó còn nằm nguyên ở đó cho đến khi
    chúng tôi đi khỏi. Rất có thể nó sẽ đi được trong năm nay, nhưng
    theo ý tôi thì có lẽ phải đến sang năm, khi nó trôi đến gần chỗ mà

    chiếc tàu “Fram” đã được giải thoát, nó mới có khả năng thoát ra
    khỏi biển băng ấy. Lương thực còn cho những người ở lại trên tàu
    đủ dùng đến tháng Mười hoặc tháng Mười một sang năm. Dù thế
    nào đi nữa cũng xin bà tin cho rằng chúng tôi rời khỏi tàu không
    phải vì nó ở vào tình thế tuyệt vọng. Tất nhiên tôi phải chấp hành
    lệnh của Thuyền trưởng, song cũng xin thú thật rằng lệnh đó của
    ông rất phù hợp với nguyện vọng riêng của tôi. Khi tôi cùng với
    mười ba thủy thủ rời khỏi tàu thì ông Ivan Lvovich có nhờ tôi
    chuyển một gói niêm phong cho Ngài Cục trưởng Cục Địa lý thủy
    văn hiện đã quá cố và một phong thư cho bà. Tôi không dám mạo
    hiểm gửi bưu điện những thứ ấy bởi vì hiện nay chỉ mình tôi còn
    sống, tôi phải thận trọng tất cả những gì làm bằng chứng cho hành
    vi chính trực của mình. Do đó xin bà phái người hoặc bà đích thân
    đến Arkhangelsk để nhận các thứ trên, bởi vì tôi còn phải nằm ở
    nhà thương này ít nhất cũng là ba tháng nữa. Tôi mong thư trả lời
    của bà.
    Xin gửi bà lời chào kính trọng và luôn luôn sẵn sàng hầu bà.
    Hoa tiêu tàu viễn hành I. Klimov”
    Địa chỉ đề thư đã bị nước thấm nhòe nhưng vẫn còn có thể
    thấy được, địa chỉ ấy cũng viết bằng nét chữ cứng cáp, thẳng tắp
    trên chiếc phong bì giấy dày đã ngả màu vàng.
    Đối với tôi, bức thư ấy cứ như một thứ kinh cầu nguyện – tối
    nào tôi cũng nhẩm đi nhẩm lại trong lúc chờ cha tôi đi làm về.

    Cha tôi ở bến tàu về rất khuya. Giờ đây tàu thủy ra vào hàng
    ngày và không chở đay gai, bột mì như trước nữa mà toàn chở
    những hòm đạn và phụ tùng súng ống nặng trình trịch.
    Cha tôi người đẫy đà, vạm vỡ, ria mép rậm, đầu đội chiếc mũ
    dạ con và mặc quần vải bạt. Mẹ tôi nói luôn mồm còn cha thì cứ
    lặng thinh ngồi ăn, thỉnh thoảng ho vài tiếng và vuốt bộ ria. Sau
    đó cha dắt các con – tôi và em gái tôi – lên giường đi ngủ. Từ
    người cha tỏa ra mùi bao tải, khi thì mùi táo, mùi bột mì, có khi
    lại là mùi hôi của dầu máy. Tôi còn nhớ cái mùi đó đã làm cho
    tôi phát ngán.
    Có lẽ chính trong cái đêm bất hạnh ấy khi nằm cạnh cha tôi,
    lần đầu tiên tôi đã nhận xét một cách có ý thức về tất cả mọi vật
    chung quanh. Một căn phòng nhỏ hẹp với cái trần thấp lè tè dán

    giấy báo. Bên dưới cửa sổ có một khe hở lớn và qua đó gió từ
    ngoài sông lùa vào. Đó là ngôi nhà của chúng tôi. Một người đàn
    bà xinh đẹp, da ngăm đen để xõa tóc đang nằm ngủ trên hai
    chiếc bao tải nhét đầy rơm đặt dưới đất, đó là mẹ tôi. Đôi bàn
    chân trẻ con nhỏ bé thò ra ngoài cái chăn rách tả tơi, đó là chân
    em gái tôi. Một thằng bé gầy gò đen đủi, mặc chiếc quần rộng
    thùng thình, run rẩy bò từ trên giường xuống và rón rén đi ra
    sân – đó là tôi.
    *
    *    *
    Địa điểm thích hợp đã được chọn sẵn. Dây dợ chuẩn bị đầy đủ
    rồi, đến cả củi khô cũng đã chất đống sẵn ở cạnh Prolom, chỉ còn
    thiếu có miếng thịt thiu nữa là có thể đi câu tôm biếc được thôi.
    Đáy con sông ở chỗ chúng tôi màu sắc sặc sỡ cho nên tôm ở đây
    cũng lắm màu nhiều vẻ. Con thì đen, con thì xanh màu lá cây,
    con thì vàng. Những loại tôm này cứ đốt lửa lên là chúng sẽ đến
    và dùng nhái con làm mồi mà câu cũng được. Nhưng con tôm
    biếc thì chỉ có thịt thiu mới câu được, về điểm này, tất cả bọn trẻ
    con đều khẳng định như vậy. Mãi hôm qua mới gặp may: tôi
    xoáy được của mẹ tôi một miếng thịt, đem ra phơi nắng suốt
    một ngày. Bây giờ nó đã thối rữa ra rồi, chẳng cần phải cầm cũng
    đã thấy rõ.
    Tôi chạy thật nhanh dọc theo bờ sông đến Prolom. Ở đây đã
    chất sẵn củi để đốt lửa. Từ xa đã có thể nhìn thấy hai cái tháp:
    bờ bên này là tháp Pokrovskaya, còn bờ bên kia là tháp
    Spasskaya. Sau khi nổ ra chiến tranh, tháp Spasskaya được dùng
    làm kho chứa da của quân đội. Petya Skovorodnikov quả quyết
    rằng ngày xưa trong tháp Spasskaya có ma và chính mắt cậu ta
    đã nhìn thấy lũ ma bơi từ bờ bên kia sông sang bờ bên này của
    chúng tôi. Sau khi sang sông, lũ ma đánh đắm thuyền đi và kéo

    nhau vào sống ở trong tháp Pokrovskaya. Cậu ấy còn cam đoan
    rằng lũ ma rất thích hút thuốc lá và uống rượu. Đầu chúng nhọn
    hoắt và trong bọn chúng có nhiều đứa thọt chân bởi vì chúng
    rơi từ trên trời xuống. Lũ ma ở trong tháp Pokrovskaya ngày
    càng sinh sôi nảy nở và mỗi khi đẹp trời là chúng lại lẻn vào bờ
    ăn cắp thuốc lá của những người đánh cá buộc vào lưới để cúng
    thủy thần.
    Tóm lại là khi tôi nhìn thấy một bóng đen gầy gò ở chỗ bức
    tường hổng trong lúc đang thổi lửa thì tôi cũng chẳng lấy gì làm
    ngạc nhiên cả.
    - Nhóc con, mày làm gì ở đây? – Con ma hỏi tôi y như người
    vậy.
    Nếu lúc đó tôi nói được tôi cũng không trả lời nó. Tôi cứ nhìn
    nó trừng trừng và run bắn người lên.
    Đúng vào lúc đó mặt trăng ló ra khỏi đám mây nên có thể
    nhìn thấy người lính canh đang đi lại chung quanh kho chứa da
    của quân đội ở bờ sông bên kia, dáng to lớn, đẫy đà, lưng đeo
    khẩu súng trường chĩa nòng lên trời.
    - Câu tôm à?
    “Con ma” nhẹ nhàng nhảy xuống và đến ngồi bên đống lửa.
    - Sao cứ câm như hến thế, thằng ngốc? – Nó hỏi lại, giọng cục
    cằn.
    Không, đó không phải là ma! Đó chính là một người gầy còm
    hốc hác, đầu không mũ, gã cầm cái gậy con, luôn tay đập gậy
    vào chân mình. Tôi không nhìn kỹ mặt gã, nhưng tôi cũng nhận
    ra ngay là gã mặc có mỗi chiếc áo vét lên mình trần và dùng một
    chiếc khăn choàng thay cho áo sơ-mi.

    - Sao, mày không muốn nói chuyện với tao à, thằng khốn? –
    Gã lấy gậy chọc chọc vào người tôi mấy cái. – Thế nào, trả lời đi!
    Trả lời đi! Không thì…
    Không đứng dậy, gã nắm luôn lấy chân tôi kéo tới chỗ gã. Tôi
    ú ớ.
    - À, thì ra mày vừa câm vừa điếc!
    Gã bỏ tôi ra và cứ ngồi mãi, tay cầm gậy chọc vào đống than.
    - Cái thành phố hay thật, – gã nói vẻ chán chường. – Nhà nào
    cũng có chó; bọn cảnh sát như bầy thú dữ. Một lũ ăn tôm khốn
    kiếp!
    Gã bắt đầu chửi rủa.
    Nếu tôi biết sau đó một tiếng đồng hồ việc gì sẽ xảy ra thì dù
    tôi không thể nói lại với người khác một lời nào, tôi cũng sẽ cố
    gắng nhớ lấy tất cả những lời gã nói. Gã chửi rủa mãi, thậm chí
    nghiến răng nghiến lợi lại mà nhổ một bãi nước bọt vào đống
    lửa. Sau đó gã im lặng ngửa đầu lên ngồi bó gối. Tôi liếc nhìn và
    nếu gã không đáng ghét như vậy thì có lẽ tôi cũng đã thương hại
    gã.
    Bỗng gã đứng phắt dậy. Vài phút sau gã đã ở trên chiếc cầu
    phao – chiếc cầu này do quân lính mới bắc – sau đó thoáng thấy
    bóng gã bên bờ bên kia rồi mất hút.
    Đống lửa của tôi tắt ngấm. Nhưng dù không có ánh lửa tôi
    vẫn thấy rõ là tôi đã câu được rất nhiều tôm, nhưng trong đó
    không có con tôm biếc nào cả. Toàn là những con tôm đen
    thông thường chẳng lấy gì làm to lắm. Đem những con tôm này
    đến bán ở quán rượu chỉ được một cô-pếch[2] một đôi.
    Gió lạnh từ đâu phía sau thổi tới cứ lùa vào ống quần của tôi,

    tôi bắt đầu thấy lạnh cóng. Phải về thôi! Lần cuối cùng tôi quăng
    dây câu có sẵn mồi thịt thiu xuống nước thì thấy người lính gác
    ở bờ sông bên kia đang chạy xuống dốc. Tháp Spasskaya đứng
    sừng sững trên con sông. Từ tháp đến bờ sông là một cái dốc rải
    đá. Trăng sáng vằng vặc, trên dốc chẳng có một bóng người nào
    cả. Vậy mà không hiểu tại sao người lính gác lại vừa chạy vừa bỏ
    súng ra khỏi vai.
    - Đứng lại!
    Người lính không bắn mà chỉ lên đạn. Ngay lúc đó tôi nhìn
    thấy rõ người đang bị rượt theo trên cầu phao, sở dĩ tôi phải viết
    thận trọng như thế là vì cho đến giờ tôi cũng không dám khẳng
    định rằng đó chính là người trước đây một tiếng đồng hồ đã
    ngồi bên cạnh đống lửa của tôi. Song hình như giờ đây tôi vẫn
    còn nhìn thấy cái cảnh thế này: bờ sông tĩnh mịch, con đường
    sáng ánh trăng như rộng thêm ra chạy thẳng từ chỗ tôi đến
    những chiếc xà-lan đầu cầu phao và hai cái bóng đen dài của
    những người đang chạy trên cầu.
    Người lính gác chạy nặng nề và có một lần phải đứng lại để
    thở. Song người chạy trước rõ ràng lại còn nhọc nhằn hơn, bởi vì
    có lúc bỗng nhiên gã ngồi thụp xuống bên thành cầu. Người lính
    gác chạy tới chỗ gã, thình lình kêu lên một tiếng rồi ngã vật ra
    đằng sau – có lẽ bị đánh bất ngờ từ dưới lên. Người lính nằm vắt
    trên thành cầu rồi từ từ tuột xuống. Lúc đó tên hung thủ đã biến
    mất sau bức tường pháo đài.
    Không hiểu tại sao đêm hôm đó lại không có ai canh gác cầu
    phao: trong chòi gác trống không mà chung quanh cũng chẳng
    có người nào. Chỉ có mỗi mình người lính gác nằm nghiêng ở đó,
    hai tay vươn ra phía trước. Một miếng da to tướng văng ra bên
    cạnh. Lúc tôi sợ quá run bắn người lên đi đến gần thì thấy người

    lính ngáp một cách chậm chạp. Sau nhiều năm tôi mới biết rằng
    có nhiều người cũng ngáp trước khi chết. Đoạn người lính thở
    một hơi rõ dài, dường như khoan khoái, rồi tất cả lại trở nên
    tĩnh mịch.
    Chẳng biết làm gì hơn, tôi cúi xuống nhìn rồi chạy đến chòi
    gác xem – lúc đó tôi mới biết trong chòi gác không có người, thế
    là tôi lại quay về chỗ người lính. Tôi không kêu lên được, không
    phải vì hồi ấy tôi bị câm mà chính là vì sợ quá. Đúng lúc ấy từ
    trên bờ có tiếng người nói, tôi cắm đầu chạy về chỗ câu tôm vừa
    rồi. Sau này tôi cũng chẳng bao giờ lại chạy nhanh đến thế, thở
    không ra hơi, đau tức cả ngực. Tôi cũng chẳng kịp lấy cỏ đậy giỏ
    tôm vì khi về đến nhà thì tôm rơi mất một nửa. Lúc đó còn chú ý
    gì đến tôm nữa!
    Tôi lẳng lặng hé cửa, tim đập thình thịch. Trong gian phòng
    duy nhất của chúng tôi tối om om, mọi người đang ngủ ngon
    lành, chẳng ai biết tôi lén ra đi rồi lại trở về. Một phút sau tôi lại
    nằm lên chỗ cũ cạnh cha tôi. Nhưng mãi tôi vẫn không tài nào
    chợp mắt được. Trước mắt tôi lại hiện ra chiếc cầu phao dưới
    ánh trăng vằng vặc và hai cái bóng đen dài đang chạy.

    Chương 2
    Cha
    Sáng hôm sau có hai chuyện làm cho tôi rất buồn.
    Chuyện thứ nhất là mẹ tôi đã phát hiện thấy tôm và đã đem
    luộc hết. Thế là hai mươi cô-pếch của tôi coi như đi tong, hy
    vọng mua lưỡi câu và con cá mồi[3] mới cũng tiêu tan. Chuyện
    thứ hai là tôi đánh mất con dao nhíp. Thực ra thì con dao này là
    của cha tôi, vì lưỡi dao bị gãy nên cha mới cho tôi. Tôi đã đi tìm
    khắp trong nhà, ngoài sân mà chẳng thấy, tựa như nó đã chui
    tọt xuống đất mất tăm.
    Tôi loay hoay như thế cho đến tận mười hai giờ là lúc tôi phải
    mang cơm trưa ra bến tàu cho cha tôi. Đem cơm trưa cho cha là
    nhiệm vụ của tôi và tôi rất tự hào về nhiệm vụ này.
    Hiện nay bến tàu ở bờ sông bên kia, còn bờ bên này là con
    đường phố lớn hai bên trồng bồ đề. Cho đến nay những cây bồ
    đề này vẫn được cả thành phố chúng tôi yêu thích. Hôm đó, khi
    tôi xách cái túi đựng hộp canh đỗ và khoai tây mang đến cho
    cha tôi thì thấy trên đại lộ này có rất nhiều lán cho công nhân,
    dọc theo tường pháo đài có những bao tải và túi vải đựng bột mì
    chất cao từng đống; những tấm gỗ to rộng bắc từ xà-lan lên bờ,
    những người công nhân khuân vác luôn miệng hét: “Tránh ra
    này”! – Họ đẩy những chiếc xe gỗ chất đầy hàng chạy từ xà-lan
    xuống. Tôi còn nhớ nước sông ở bến tàu nổi váng ánh lên nhiều
    màu sặc sỡ, những cái cọc gỗ để buộc tàu đã bị mòn vẹt, mùi cá
    tanh, mùi hắc ín, mùi bao tải lẫn lộn với nhau nồng nặc.

    Lúc tôi tới bến tàu, mọi người vẫn còn đang làm việc. Có một
    chiếc xe đẩy bị kẹt bánh giữa khe ván cầu, làm cho việc đi lại từ
    xà-lan lên bờ bị gián đoạn. Những người đằng sau chửi mắng
    ầm ĩ. Hai người đẩy xe nằm đè lên chiếc xà beng, ra sức đẩy
    chiếc xe bị kẹt bánh lên để đặt vào đường xe đi. Lúc đó cha tôi
    đủng đỉnh vòng qua người họ. Ông nói câu gì đó rồi cúi xuống…
    Tôi cứ nhớ mãi dáng điệu của cha lúc đó: khuôn mặt to tròn có
    ria rậm, đôi vai to rộng, cha nhấc chiếc xe đẩy chở đầy hàng rất
    nặng ấy lên một cách nhẹ nhàng. Sau này không bao giờ tôi còn
    được thấy cha tôi như thế nữa.
    Cha vừa ăn cơm vừa nhìn tôi – “Thế nào, Sanya?” – Lúc đó
    trên bến tàu hiện ra viên cảnh sát trưởng béo phị và ba tên cảnh
    sát nữa. Một tên gọi “ông bác” đến – mọi người đều gọi bác trùm
    phường bốc vác ở đây như vậy – và nói với bác điều gì đó. “Ông
    bác” hốt hoảng kêu lên một tiếng; làm dấu thánh giá rồi cả mấy
    người cùng đến chỗ chúng tôi.
    - Anh là Ivan Grigoriev? – Tên cảnh sát trưởng hỏi và đưa
    thanh kiếm ra sau lưng.
    - Chính tôi.
    - Bắt lấy hắn! – Tên cảnh sát trưởng hét lên, mặt tím bầm. –
    Hắn bị bắt!
    Mọi người xôn xao. Cha tôi đứng dậy. Tất cả lặng im.
    - Vì sao?
    - Tội gì thì đến chỗ tao mày sẽ rõ! Bắt hắn đi!
    Bọn cảnh sát đi đến chỗ cha tôi và túm lấy hai tay. Cha tôi khẽ
    lắc vai một cái – bọn chúng nhảy lùi lại mấy bước, một tên cảnh
    sát vội vàng rút kiếm.

    - Bẩm quan lớn, thế này là thế nào ạ? – Cha hỏi. – Vì sao lại bắt
    tôi? Tôi chẳng phải là ai xa lạ, mọi người đều biết tôi.
    - Không đâu, chú mày ạ, mọi người còn chưa biết hết về chú
    mày đâu, – tên cảnh sát trưởng bác lời. – Mày là quân ăn cướp.
    Giải hắn đi!
    Bọn cảnh sát lại vây lấy cha tôi.
    - Này thằng ngốc, đừng có ngoe nguẩy cái con cá mòi ấy, – cha
    khẽ nói qua kẽ răng với tên cảnh sát vừa rút kiếm ra. – Bẩm
    quan, tôi là người có nhà có cửa, tôi làm việc ở bến tàu này đã
    hai mươi năm nay. Tôi đã làm điều gì xấu xin ngài nói hết cả ra
    để cho mọi người đều biết, rốt cuộc tôi đã phạm tội gì mà bị bắt.
    Nếu không mọi người sẽ cho tôi là kẻ cướp thật!
    - Hừ, mày còn giả vờ hả, làm như ông thánh ấy! – Tên cảnh sát
    trưởng hét lên. – Tao còn lạ gì chúng mày! Nào! Hừ!
    Bọn cảnh sát có vẻ còn lưỡng lự.
    - Nào!
    - Thưa quan, hãy chờ cho một tí, tôi sẽ tự đi được, – cha nói. –
    Sanya… – Cha cúi xuống bảo tôi. – Sanya, chạy mau về nhà báo
    cho mẹ… À, tao quên mất, mày là…
    Cha tôi muốn nói rằng tôi bị câm, nhưng Người lại im. Từ xưa
    đến nay chưa bao giờ cha nói đến tiếng này. Như thể cha tôi vẫn
    còn hy vọng rằng có một ngày nào đó tôi sẽ nói được. Ông nín
    lặng và nhìn chung quanh.
    - Tôi sẽ dẫn nó về, ông Ivan ạ, – bác trùm phường nói. – Ông
    cứ yên tâm.
    - Bác Misha, bác đi hộ nhé. À, còn… – Cha tôi rút ra ba rúp đưa
    cho bác trùm phường. – Nhờ bác chuyển cho nhà tôi. Thôi, xin

    từ biệt!
    Mọi người đồng thanh chào lại cha tôi.
    Ông xoa đầu tôi và nói:
    - Đừng khóc, Sanya!
    Thế mà tôi không biết là mình đang khóc.
    Giờ đây tôi nhớ lại cảnh khi mẹ tôi biết tin cha tôi bị bắt mà
    rùng mình. Mẹ không khóc, nhưng khi bác trùm phường vừa đi
    khỏi, mẹ liền ngồi lên giường, nghiến chặt răng mà đập mạnh
    đầu vào tường. Tôi và em gái khóc rống lên mà mẹ tôi cũng
    không ngoái cổ lại. Bà lắp bắp nói gì đó và cứ đập đầu vào tường.
    Sau đó mẹ tôi đứng dậy, trùm khăn lên đầu rồi đi ra ngoài.
    Dì Dasha lo liệu cho chúng tôi suốt ngày hôm đó. Chúng tôi đi
    ngủ. Thực ra chỉ có em gái tôi ngủ thôi, còn tôi nằm đấy, hai mắt
    mở thao láo và suy nghĩ… Trước hết là nghĩ về cha tôi, nhớ lại
    lúc ông chào từ biệt mọi người. Rồi tôi lại nghĩ đến tên cảnh sát
    trưởng béo phị, nghĩ đến thằng con trai nó mặc quần áo lính
    thủy. Tôi đã nhìn thấy thằng bé ấy ở trong vườn nhà tỉnh
    trưởng. Rồi tôi lại nghĩ đến chiếc xe đạp ba bánh của nó. Thằng
    bé này thường đi chiếc xe đạp ấy, – giá tôi mà có được chiếc xe
    đạp con ấy! – Cuối cùng khi mẹ tôi về thì tôi chẳng nghĩ gì nữa.
    Mẹ tôi bước vào nhà, người đen sạm, gầy tọp đi và dì Dasha chạy
    đến chỗ mẹ…
    Không hiểu sao tự nhiên tôi lại cảm thấy hình như cha tôi đã
    bị cảnh sát chém chết. Tôi nằm yên bất động như vậy hồi lâu,
    đau đớn lặng người đi và chẳng nghe thấy gì nữa. Sau đó tôi mới
    rõ là cha còn sống, nhưng bọn cảnh sát không cho mẹ tôi vào
    gặp ông. Mẹ nhắc đi nhắc lại ba lần rằng cha bị bắt vì tội giết
    người, – ban đêm người lính gác bị giết trên chiếc cầu phao. –

    Bây giờ tôi mới đoán rằng cái đêm mà mẹ nói chính là đêm vừa
    qua, còn người lính gác là người lính gác ấy và cái cầu phao cũng
    chính là cái cầu phao mà người lính gác nằm duỗi hai tay ra. Tôi
    vùng bật dậy chạy bổ đến chỗ mẹ và hét ầm lên. Mẹ ôm chặt lấy
    tôi: có lẽ mẹ tưởng là tôi sợ quá. Nhưng đấy chính là tôi đang
    “nói” đấy…
    Trời, giá mà lúc đó tôi không bị câm!
    Tôi rất muốn nói lại toàn bộ câu chuyện. Tôi đã lén chạy ra
    câu tôm ở sông Peschinka như thế nào, đã nhìn thấy một con
    người bất chính tay cầm cây gậy từ chỗ lỗ hổng của bức tường
    quanh pháo đài đi ra và hắn đã nghiến răng nghiến lợi chửi bới
    như thế nào, sau đó hắn nhổ một bãi nước bọt như thế nào vào
    đống lửa rồi chuồn ra sao. Song đối với một đứa trẻ lên tám tuổi
    bập bẹ chỉ biết nói được đôi ba tiếng ú ớ thì việc kể lại những
    điều đó thật là một việc làm quá khó khăn.
    - Bọn trẻ sợ hết hồn rồi! – Dì Dasha thở dài.
    Khi đó tôi im tiếng và nhìn mẹ tôi, tưởng rằng bây giờ thì tất
    cả đã rõ ràng.
    - Không, hình như nó muốn nói gì. Con có biết chuyện gì
    không, hở Sanya?
    Ôi, giá như tôi không bị câm! Tôi bắt đầu thuật lại, dùng tay
    ra hiệu… Mẹ là người hiểu tôi hơn ai hết, thế mà lần này tôi lại
    hoàn toàn thất vọng vì thấy rằng chính mẹ cũng không hiểu
    được tí gì cả. Hiểu thế nào được! Sự việc xảy ra trên cầu phao
    làm sao mà giống được cái cảnh một thằng bé gầy còm đen đủi,
    trên mình chỉ mặc mỗi chiếc sơ-mi đang lồng lộn chạy quanh
    nhà, khi thì nằm lăn ra giường ý muốn nói rằng đêm ấy cha đã
    ngủ say như thế nào, khi lại nhảy lên ghế, giơ hai nắm tay lên

    trước mặt dì Dasha đang chẳng hiểu đầu đuôi ra sao.
    Cuối cùng dì Dasha làm dấu thánh cho tôi.
    - Tụi trẻ con đã đánh nó.
    Tôi lắc đầu.
    - Nó đang kể lại chuyện cha nó bị bắt đấy, – mẹ nói. – Kể lại
    chuyện bọn cảnh sát đã xông vào đánh cha nó. Có đúng không,
    Sanya?
    Tôi không nhịn được nữa, gục đầu lên đùi mẹ khóc òa lên. Mẹ
    bế tôi lên giường, tôi nằm mãi, lắng nghe xem hai người nói
    những gì và suy nghĩ xem làm thế nào có thể nói lên được điều
    bí mật phi thường này của tôi.

    Chương 3
    Chạy chọt
    Nếu sáng hôm sau mẹ tôi không ốm thì chắc chắn tôi sẽ tìm
    được cách trình bày cho ra sự việc này. Xưa nay mẹ tôi vốn là
    người thất thường, nhưng kỳ lạ như lần này thì tôi chưa bao giờ
    thấy.
    Trước đây khi nào mẹ đột nhiên đứng cạnh cửa sổ hàng tiếng
    đồng hồ hoặc đang đêm mà mẹ nhảy từ trên giường xuống,
    mình mặc mỗi chiếc áo cánh ngồi cạnh bàn suốt đêm là cha
    phải đưa mẹ về nhà quê nghỉ mấy...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML