CHÀO XUÂN MỚI
Thuyen Truong Va Dai Uy - Veniamin Kaverin

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:28' 17-03-2024
Dung lượng: 9.2 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:28' 17-03-2024
Dung lượng: 9.2 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY
V.KAVERIN
(Giải thưởng văn học Stalin 1946) Tái bản
Ngọc Kỳ và Trần Luân Kim dịch
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN – 2004
Dịch theo bản Nga văn của Nhà xuất bản “Văn nghệ” Moskva
1964 và bản Trung văn của Nhà xuất bản “Nhân dân văn học”
Bắc Kinh 1959.
Nguồn sách: Cải
OCR: 4DHN
Điều hành dự án: Rafa
Những người tham gia soát lỗi: bichdinh, langtu, Lichan,
Deathshine, Antigone, Cải, AsuraZ, Rafa, Donquixote,
Mystery2110, thichankem, Mot_sach09, Lemontree123,
hhongxuan, Chi_Chi, minhtrang, hhanhh, Ban Tang Du Tử,
hero229
Soát lỗi lần cuối: Caruri
Chế bản: 4DHN và Caruri
Ngày hoàn thành: Tháng 2 năm 2018
Mục lục
LỜI GIỚI THIỆU
PHẦN THỨ NHẤT THỜI THƠ ẤU
CHƯƠNG 1 LÁ THƯ. ĐI CÂU TÔM BIẾC
CHƯƠNG 2 CHA
CHƯƠNG 3 CHẠY CHỌT
CHƯƠNG 4 VỀ NÔNG THÔN
CHƯƠNG 5 ÔNG BÁC SĨ IVAN IVANYCH. TÔI HỌC
NÓI
CHƯƠNG 6 CHA TÔI CHẾT. TÔI KHÔNG MUỐN NÓI
NỮA
CHƯƠNG 7 MẸ
CHƯƠNG 8 PETYA SKOVORODNIKOV
CHƯƠNG 9 MỘT GẠCH, MỘT GẠCH, GẠCH NỮA,
GẠCH THỨ NĂM, THỨ HAI MƯƠI, THỨ MỘT TRĂM
CHƯƠNG 10 DÌ DASHA
CHƯƠNG 11 CUỘC NÓI CHUYỆN VỚI PETYA
CHƯƠNG 12 GAER KULY TRONG TIỂU ĐOÀN CẢM
TỬ
CHƯƠNG 13 BUỔI ĐƯA ĐÁM MẸ
CHƯƠNG 14 BỎ TRỐN, TÔI KHÔNG NGỦ. TÔI CHỈ
GIẢ VỜ NGỦ
CHƯƠNG 15 ĐẤU TRANH VÀ TÌM TÒI, QUYẾT ĐẠT
MỤC ĐÍCH CHỨ KHÔNG ĐẦU HÀNG
CHƯƠNG 16 CHUYẾN BAY ĐẦU TIÊN
CHƯƠNG 17 NHỮNG CON GIỐNG
CHƯƠNG 18 NIKOLAI ANTONYCH
PHẦN THỨ HAI CÓ NHỮNG ĐIỀU ĐỂ SUY NGHĨ
CHƯƠNG 1 TÔI NGHE KỂ CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
CHƯƠNG 2 TRƯỜNG HỌC
CHƯƠNG 3 BÀ CỤ NGƯỜI Ở ENSK
CHƯƠNG 4 CÓ NHỮNG CHUYỆN XẢY RA LÀM TÔI
PHẢI SUY NGHĨ
CHƯƠNG 5 TRONG TUYẾT CÓ MUỐI KHÔNG?
CHƯƠNG 6 ĐẾN CHƠI NHÀ KATYA
CHƯƠNG 7 GIA ĐÌNH TATARINOV
CHƯƠNG 8 ĐỘI KỊCH NHÀ TRƯỜNG
CHƯƠNG 9 THẦY GIÁO KORABLYOV CẦU HÔN.
TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ GIÁO
CHƯƠNG 10 THƯ TRẢ LỜI CỰ TUYỆT
CHƯƠNG 11 TÔI RA ĐI
CHƯƠNG 12 MỘT CUỘC NÓI CHUYỆN NGHIÊM TÚC
CHƯƠNG 13 TÔI SUY NGHĨ
CHƯƠNG 14 ĐỒNG NĂM MƯƠI CÔ-PẾCH BẰNG BẠC
PHẦN THỨ BA NHỮNG LÁ THƯ CŨ
CHƯƠNG 1 BỐN NĂM
CHƯƠNG 2 PHIÊN TÒA XỬ EVGENY ONEGIN
CHƯƠNG 3 TRÊN SÂN TRƯỢT BĂNG
CHƯƠNG 4 NHỮNG THAY ĐỔI
CHƯƠNG 5 NGƯỜI CHA CỦA KATYA
CHƯƠNG 6 THAY ĐỔI CÀNG NHIỀU
CHƯƠNG 7 CÁC NHẬN XÉT BÊN LỀ SÁCH. NHỮNG
CON CHUỘT CỦA VALYA. NGƯỜI QUEN CŨ
CHƯƠNG 8 DẠ HỘI
CHƯƠNG 9 CUỘC HẸN HÒ ĐẦU TIÊN. ĐÊM KHÔNG
NGỦ
CHƯƠNG 10 NHỮNG CHUYỆN KHÔNG HAY
CHƯƠNG 11 TÔI VỀ ENSK
CHƯƠNG 12 NGÔI NHÀ THÂN THUỘC
CHƯƠNG 13 NHỮNG BỨC THƯ CŨ
CHƯƠNG 14 GẶP NHAU Ở VƯỜN NHÀ THỜ. ĐỪNG
CÓ TIN Ở CON NGƯỜI ẤY
CHƯƠNG 15 CHÚNG TÔI ĐI DẠO. TẢO MỘ. GIA ĐÌNH
BUBENCHIKOV. NGÀY BIỆT LY
CHƯƠNG 16 CÁI GÌ ĐANG CHỜ TÔI Ở MOSKVA
CHƯƠNG 17 VALKA
CHƯƠNG 18 MỘT CHẾT MỘT SỐNG
CHƯƠNG 19 BẠN CŨ
CHƯƠNG 20 LẼ RA MỌI VIỆC CÓ THỂ KHÁC HẲN
CHƯƠNG 21 BÀ MARIA VASILIEVNA
CHƯƠNG 22 ĐÊM
CHƯƠNG 23 LẠI NỘI QUY. KHÔNG PHẢI ÔNG ẤY.
CHƯƠNG 24 LỜI VU KHỐNG
CHƯƠNG 25 CUỘC HẸN HÒ CUỐI CÙNG
PHẦN THỨ TƯ MIỀN BẮC
CHƯƠNG 1 TRƯỜNG HÀNG KHÔNG
CHƯƠNG 2 ĐÁM CƯỚI SANYA
CHƯƠNG 3 TÔI VIẾT THƯ CHO BÁC SĨ IVAN
IVANYCH
CHƯƠNG 4 TÔI NHẬN ĐƯỢC THƯ TRẢ LỜI
CHƯƠNG 5 BA NĂM
CHƯƠNG 6 Ở NHÀ BÁC SĨ
CHƯƠNG 7 TÔI ĐỌC NHẬT KÝ
CHƯƠNG 8 GIA ĐÌNH BÁC SĨ
CHƯƠNG 9 “HÌNH NHƯ CHÚNG MÌNH ĐÃ GẶP
NHAU…”
CHƯƠNG 10 CHÚC NGỦ NGON
CHƯƠNG 11 BAY
CHƯƠNG 12 BÃO TUYẾT
CHƯƠNG 13 BẾP ĐÈN CỒN LÀ CÁI GÌ
CHƯƠNG 14 CÁI CÂU LIÊM CŨ BẰNG ĐỒNG THAU
CHƯƠNG 15 VANOKAN
PHẦN THỨ NĂM VÌ LƯƠNG TÂM
CHƯƠNG 1 GẶP KATYA
CHƯƠNG 2 LỄ KỶ NIỆM CỦA THẦY KORABLYOV
CHƯƠNG 3 VÔ ĐỀ
CHƯƠNG 4 RẤT NHIỀU TIN MỚI
CHƯƠNG 5 TRONG RẠP HÁT
CHƯƠNG 6 LẠI CÓ NHIỀU ĐIỀU MỚI
CHƯƠNG 7 “NHÀ TÔI CÓ KHÁCH”
CHƯƠNG 8 TRUNG THÀNH VỚI VẬT KỶ NIỆM
CHƯƠNG 9 TẤT CẢ ĐÃ ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH, CÔ ẤY
DỌN ĐI
CHƯƠNG 10 TẠI NGÕ SIVTSEV VRAZHEK
CHƯƠNG 11 MỘT NGÀY BẬN RỘN
CHƯƠNG 12 ROMASHKA
PHẦN THỨ SÁU TUỔI XUÂN ĐANG TIẾP TỤC
CHƯƠNG 1 “CÔ CHƯA HIỂU CẬU TA ĐÂU”
CHƯƠNG 2 TRÊN QUẢNG TRƯỜNG SOBACHY
CHƯƠNG 3 CHÚC CUỘC HÀNH TRÌNH THÀNH
CÔNG VÀ HẠNH PHÚC!
CHƯƠNG 4 CHÚNG TA HÃY CẠN CỐC VÌ SANYA
CHƯƠNG 5 Ở ĐÂY CÓ VIẾT DÒNG CHỮ “TÀU ST.
MARIA”
CHƯƠNG 6 Ở NHÀ BÀ
CHƯƠNG 7 MÙA ĐÔNG
CHƯƠNG 8 THÀNH PHỐ LENIN
CHƯƠNG 9 GẶP GỠ
CHƯƠNG 10 ĐÊM
CHƯƠNG 11 CÔ EM
CHƯƠNG 12 VĨNH BIỆT
CHƯƠNG 13 PETYA CON
CHƯƠNG 14 NGƯỜI KHÁCH TRONG ĐÊM KHUYA
CHƯƠNG 15 TUỔI XUÂN ĐANG ĐƯỢC KÉO DÀI
THÊM
CHƯƠNG 16 “ANH TRÔNG THẤY EM BẾ CON TRONG
TAY”
PHẦN THỨ BẢY PHÂN LY
CHƯƠNG 1 NĂM NĂM
CHƯƠNG 2 BÀ KỂ CHUYỆN GÌ
CHƯƠNG 3 “PHẢI NHỚ ĐẤY, EM PHẢI TIN TƯỞNG”
CHƯƠNG 4 “NHẤT ĐỊNH CHÚNG TÔI SẼ GẶP LẠI
NHAU, NHƯNG KHÔNG PHẢI TRONG NGÀY MỘT
NGÀY HAI”
CHƯƠNG 5 ANH EM
CHƯƠNG 6 BÂY GIỜ CHÚNG TA ĐỀU BÌNH ĐẲNG
CHƯƠNG 7 GỬI “EKATERINA IVANOVNA
TATARINOVA GRIGORIEVA”
CHƯƠNG 8 ĐÂY LÀ THÀNH TÍCH CỦA BÁC SĨ
CHƯƠNG 9 RÚT LUI
CHƯƠNG 10 CUỘC SỐNG ĐƯƠNG ĐI LÊN
CHƯƠNG 11 BỮA ĂN TỐI. “KHÔNG PHẢI NÓI VỀ TÔI
ĐÂU”
CHƯƠNG 12 TÔI TIN TƯỞNG
CHƯƠNG 13 NGUỒN HY VỌNG
CHƯƠNG 14 HẾT NGUỒN HY VỌNG
CHƯƠNG 15 CẦU MONG MỐI TÌNH CỦA EM CỨU
SỐNG ĐƯỢC ANH
CHƯƠNG 16 XIN CHÀO – LENINGRAD
PHẦN THỨ TÁM ĐẤU TRANH VÀ TÌM TÒI
CHƯƠNG 1 BUỔI SÁNG
CHƯƠNG 2 CẬU ẤY
CHƯƠNG 3 CHÚNG TÔI LÀM TẤT CẢ NHỮNG GÌ CÓ
THỂ LÀM ĐƯỢC
CHƯƠNG 4 “CẬU ĐẤY À, CÚ MÈO”
CHƯƠNG 5 MỐI HẬN CŨ
CHƯƠNG 6 NHỮNG CÔ GÁI TỪ STANISLAV ĐẾN
CHƯƠNG 7 TRONG CÁNH RỪNG BẠCH DƯƠNG NHỎ
HẸP
CHƯƠNG 8 CHẲNG CÓ AI BIẾT CẢ
CHƯƠNG 9 MỘT MÌNH
CHƯƠNG 10 CÁC CHÚ BÉ
CHƯƠNG 11 CÂU CHUYỆN VỀ TÌNH YÊU
CHƯƠNG 12 TRONG QUÂN Y VIỆN
CHƯƠNG 13 BẢN ÁN
CHƯƠNG 14 TÔI ĐI TÌM KATYA
CHƯƠNG 15 CUỘC GẶP GỠ NHÀ ĐỊA LÝ THỦY VĂN
R.
CHƯƠNG 16 QUYẾT ĐỊNH
CHƯƠNG 17 NHỮNG NGƯỜI BẠN VẮNG NHÀ
CHƯƠNG 18 NGƯỜI QUEN CŨ. TẤM ẢNH CỦA
KATYA
CHƯƠNG 19 “ANH KHÔNG THỂ GIẾT CHẾT ĐƯỢC
TÔI”
CHƯƠNG 20 BÓNG TỐI
PHẦN THỨ CHÍN QUYẾT ĐẠT MỤC ĐÍCH CHỨ KHÔNG
ĐẦU HÀNG
CHƯƠNG 1 NGƯỜI VỢ
CHƯƠNG 2 SỰ VIỆC CÒN CHƯA KẾT THÚC
CHƯƠNG 3 TỰ DO SĂN LÙNG
CHƯƠNG 4 BÁC SĨ LÀM VIỆC Ở THÀNH PHỐ BẮC
CỰC
CHƯƠNG 5 CẠN CỐC VÌ NHỮNG NGƯỜI TRÊN MẶT
BIỂN
CHƯƠNG 6 KHOẢNG CÁCH XA XĂM
CHƯƠNG 7 LẠI Ở THÀNH PHỐ ZAPOLYARYE
CHƯƠNG 8 CHIẾN THẮNG
PHẦN THỨ MƯỜI TRANG CUỐI CÙNG
CHƯƠNG 1 LỜI GIẢI ĐÁP
CHƯƠNG 2 MỘT VIỆC HẾT SỨC LẠ ĐỜI
CHƯƠNG 3 ĐÓ CHÍNH LÀ KATYA
CHƯƠNG 4 NHỮNG BỨC THƯ VĨNH BIỆT
CHƯƠNG 5 TRANG CUỐI CÙNG
CHƯƠNG 6 TRỞ VỀ
CHƯƠNG 7 HAI CUỘC NÓI CHUYỆN
CHƯƠNG 8 BẢN BÁO CÁO
CHƯƠNG 9 CHƯƠNG CUỐI CÙNG
ĐOẠN KẾT
HẾT
CHÚ THÍCH
PHƯƠNG NGỮ, TỪ ĐỊA PHƯƠNG
LỜI GIỚI THIỆU
Có những cuốn sách mà ngay từ thời còn nhỏ nó đã trở thành
người bạn thân thiết của ta và sau đó nó cứ tồn tại trong suốt cả
đời mình. Cuốn tiểu thuyết “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” của
Veniamin Aleksandrovich Kaverin, một nhà văn, nhà báo nổi
tiếng của Liên Xô là một cuốn sách như vậy. Không phải ngẫu
nhiên mà từ Nhà xuất bản Văn học Thiếu nhi, đến Nhà xuất bản
Đội Cận Vệ thanh niên, Nhà xuất bản Văn học, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia và hàng chục Nhà xuất bản khác ở Liên Xô đã
in đi in lại cuốn tiểu thuyết này tới bốn, năm chục lần, mỗi lần
hàng chục vạn bản[1].
Kaverin sinh năm 1902. Từ ngày còn theo học ở trường trung
học, ông đã say mê văn học và bắt đầu làm thơ. Năm 1919 ông
học ở trường Đại học Tổng hợp Moskva; năm 1920 chuyển sang
học ở trường Đại học Tổng hợp Leningrad và đồng thời còn
tham gia nghiên cứu tiếng Ả-rập trong Học viện Ngôn ngữ
Phương Đông. Giữa lúc đó “Câu lạc bộ văn học” Leningrad tổ
chức cuộc thi văn cho các cây bút thanh niên, Kaverin đã tham
gia với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, cuốn “Cây số thứ 11”.
Truyện này đã được Maksim Gorky rất thích và khen ngợi. Từ đó
trở đi Kaverin thường xuyên được sự chỉ đạo và giúp đỡ của nhà
văn cách mạng vĩ đại đó.
Trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, Kaverin đã
công tác trên hạm đội Phương Bắc, đồng thời làm phóng viên
cho tờ báo “Tin tức” và đã được tặng thưởng “Huy chương cờ
đỏ”.
Thời kỳ đầu, phần lớn những tác phẩm của Kaverin là những
cuốn tiểu thuyết ảo tưởng; sau đó ông chuyển sang đề tài bộ mặt
tinh thần và quá trình trưởng thành của thanh niên trong thời
đại Xô Viết. Tiểu thuyết của ông khá nhiều, có hơn tám quyển
lớn và nhiều cuốn đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.
“THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” là cuốn tiểu thuyết dài nổi
tiếng nhất của Kaverin. Tác phẩm kể lại câu chuyện về chiếc tàu
thám hiểm “St. Maria” của nước Nga trước Cách mạng tháng
Mười, về thuyền trưởng Tatarinov và đội thám hiểm do ông
lãnh đạo đã bị mất tích ở vùng Bắc cực và về chuyện đại úy
không quân Liên Xô Aleksandr Grigoriev sau ngày Cách mạng
đã đi tìm đội thám hiểm đó. Câu chuyện kéo dài trong hơn ba
mươi năm, qua những tình tiết phức tạp, tinh tế, tác giả đã biểu
hiện vô cùng sắc nét ý chí kiên cường và tinh thần cao thượng
của thanh niên Liên Xô. Sau khi xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã
lôi cuốn người đọc mãnh liệt. Năm 1946 “THUYỀN TRƯỞNG VÀ
ĐẠI ÚY” đã được tặng giải thưởng văn học Stalin. Hiện nay
“THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” vốn là một trong số tác phẩm
được nhân dân và thanh thiếu niên Liên Xô yêu thích nhất.
Về giá trị của tác phẩm, nhà phê bình văn học V. Annenkov đã
viết: “Grigoriev, nhân vật chính của “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI
ÚY” đã trở thành tấm gương cho nhiều người. Không phải ngẫu
nhiên mà một thanh niên nước ngoài đã viết: ““THUYỀN
TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã đặt vào tay anh một vũ khí sắc bén. Vũ
khí ấy là “Đấu tranh và tìm tòi, quyết đạt mục đích chứ không
đầu hàng!””
Tính chất lãng mạn của lao động sáng tạo, của phát minh
khoa học, tính chất lãng mạn của dũng cảm và chiến công là
động cơ của tư tưởng và tình cảm trong những nhân vật tốt đẹp
nhất của Kaverin”.
Theo nhà phê bình văn học G. Tre lova thì “THUYỀN
TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã liên tiếp góp phần đào tạo thế hệ thanh
niên cùng thời đại với nhân vật của nó… “THUYỀN TRƯỞNG VÀ
ĐẠI ÚY” được tính trong số những cuốn sách văn học Xô Viết
đặc biệt được yêu thích, đặc biệt được phổ biến rộng rãi trong
quần chúng, những cuốn sách ấy xuất sắc ở điểm là mọi người
đều mê.
Và theo ý kiến của Viện văn học thế giới mang tên Lenin thì
“Cuốn tiểu thuyết “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” của Kaverin
đầy tinh thần dũng cảm, bền bỉ, dám nghĩ, dám làm. Nó đã trở
thành một trong những cuốn sách được thanh thiếu niên Liên
Xô yêu thích nhất”.
Tóm lại đây là một tác phẩm văn học lớn, một cuốn tiểu
thuyết có nội dung giáo dục rất cao, có sức hấp dẫn mãnh liệt.
Hấp dẫn, không chỉ vì nó ly kỳ, dồn dập, cái gì cũng mới lạ,
mà còn do nội dung tư tưởng, do số phận và cá tính của các
nhân vật chính, do lời văn trong sáng, tươi mát và phong phú
của nó.
Xin trân trọng giới thiệu với toàn thể các bạn nam nữ thanh
niên và các em thiếu niên lớn tuổi.
Hà Nội, mùa xuân năm 1974
Ngọc Kỳ
Phần thứ nhất
THỜI THƠ ẤU
Chương 1
Lá thư. Đi câu tôm biếc
Tôi còn nhớ mãi cái sân rộng thênh thang nhưng bẩn thỉu và
những căn nhà thấp bé có hàng rào bao bọc ấy. Cái sân ở ngay
cạnh một con sông và cứ mùa xuân đến khi băng tuyết tan,
nước rút đi là trên sân lại đầy những củi rác và vỏ sò, đôi khi còn
có cả những vật rất hiếm thấy. Chẳng hạn như có lần chúng tôi
vớ được một cái túi chật ních những bì thư. Sau đó nước sông lại
đưa đến và nhẹ nhàng đẩy luôn chính cái người đưa thư ấy vào
bờ. Anh ta nằm ngửa, hai tay giơ lên như muốn che nắng. Người
này còn trẻ lắm, tóc vàng hoe, những chiếc khuy đồng trên áo
vét kín cổ sáng lóng lánh – có lẽ trước khi đi đưa chuyến thư
cuối cùng này anh ta vừa mới đánh khuy bằng phấn.
Người cảnh sát mang cái túi đi, vứt lại bó thư bên trong đã bị
nước ngấm ướt sũng. Dì Dasha nhặt đem về nhà. Chắc là túi
đựng thư còn mới, lại làm bằng da và nắp đậy rất khít nên
những bức thư bên trong vẫn còn xem được. Mỗi buổi tối dì
Dasha lại đọc lên một bức thư, có khi dì chỉ đọc cho mình tôi
nghe, có khi cả xóm cùng nghe. Việc đó thú vị đến nỗi cả các bà
già thường đến nhà ông Skovorodnikov chơi bài cũng bỏ đấy
đến nhập bọn với chúng tôi. Trong số thư ấy có một bức được dì
Dasha hay đọc nhất, đến nỗi sau này tôi đã thuộc lòng. Từ đó
đến nay bao nhiêu năm tháng đã trôi qua mà tôi vẫn còn thuộc
từ đầu đến cuối.
“Bà Maria Vasilievna kính mến!
Trước hết xin báo tin để bà rõ là ông Ivan Lvovich hãy còn sống
và khỏe mạnh. Cách đây bốn tháng, theo lệnh của ông, tôi đã rời
khỏi chiếc tàu buồm cùng mười ba người nữa trong đội thủy thủ.
Tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa sẽ được gặp bà, nên tôi sẽ không viết
tỉ mỉ về chuyến đi gian nan này của chúng tôi trên những núi băng
trôi về đất Franz Josef. Chúng tôi đã phải chịu đựng mọi nguy nan
và gian khổ khôn lường. Tôi chỉ muốn nói với bà một điều là trong
cả nhóm chỉ còn mình tôi đến được mũi Flora một cách an toàn
(nếu không kể đến đôi chân cứng dại vì băng giá). Chiếc tàu “St.
Phocas” thuộc đội thám hiểm của trung úy Sedov đã cứu tôi và đưa
về Arkhangelsk. Tôi được sống sót nhưng có lẽ phải lấy làm tiếc về
điều đó vì một ngày gần đây tôi sẽ phải cưa chân và sau đó thì chỉ
còn biết trông chờ ở lòng nhân từ của Chúa. Tôi không biết sẽ sống
ra sao khi không còn chân nào nữa. Dưới đây tôi xin báo để bà biết:
chiếc tàu “St. Maria” bị nghẽn băng ở ngoài biển Kara và từ tháng
Mười năm 1912 nó không ngừng di chuyển lên phía Bắc cùng với
những tảng băng Bắc cực. Khi chúng tôi rời khỏi chiếc tàu buồm thì
nó ở vĩ độ 82°55'. Nó nằm nguyên giữa biển băng hay nói cho đúng
hơn thì từ mùa thu năm 1912 nó còn nằm nguyên ở đó cho đến khi
chúng tôi đi khỏi. Rất có thể nó sẽ đi được trong năm nay, nhưng
theo ý tôi thì có lẽ phải đến sang năm, khi nó trôi đến gần chỗ mà
chiếc tàu “Fram” đã được giải thoát, nó mới có khả năng thoát ra
khỏi biển băng ấy. Lương thực còn cho những người ở lại trên tàu
đủ dùng đến tháng Mười hoặc tháng Mười một sang năm. Dù thế
nào đi nữa cũng xin bà tin cho rằng chúng tôi rời khỏi tàu không
phải vì nó ở vào tình thế tuyệt vọng. Tất nhiên tôi phải chấp hành
lệnh của Thuyền trưởng, song cũng xin thú thật rằng lệnh đó của
ông rất phù hợp với nguyện vọng riêng của tôi. Khi tôi cùng với
mười ba thủy thủ rời khỏi tàu thì ông Ivan Lvovich có nhờ tôi
chuyển một gói niêm phong cho Ngài Cục trưởng Cục Địa lý thủy
văn hiện đã quá cố và một phong thư cho bà. Tôi không dám mạo
hiểm gửi bưu điện những thứ ấy bởi vì hiện nay chỉ mình tôi còn
sống, tôi phải thận trọng tất cả những gì làm bằng chứng cho hành
vi chính trực của mình. Do đó xin bà phái người hoặc bà đích thân
đến Arkhangelsk để nhận các thứ trên, bởi vì tôi còn phải nằm ở
nhà thương này ít nhất cũng là ba tháng nữa. Tôi mong thư trả lời
của bà.
Xin gửi bà lời chào kính trọng và luôn luôn sẵn sàng hầu bà.
Hoa tiêu tàu viễn hành I. Klimov”
Địa chỉ đề thư đã bị nước thấm nhòe nhưng vẫn còn có thể
thấy được, địa chỉ ấy cũng viết bằng nét chữ cứng cáp, thẳng tắp
trên chiếc phong bì giấy dày đã ngả màu vàng.
Đối với tôi, bức thư ấy cứ như một thứ kinh cầu nguyện – tối
nào tôi cũng nhẩm đi nhẩm lại trong lúc chờ cha tôi đi làm về.
Cha tôi ở bến tàu về rất khuya. Giờ đây tàu thủy ra vào hàng
ngày và không chở đay gai, bột mì như trước nữa mà toàn chở
những hòm đạn và phụ tùng súng ống nặng trình trịch.
Cha tôi người đẫy đà, vạm vỡ, ria mép rậm, đầu đội chiếc mũ
dạ con và mặc quần vải bạt. Mẹ tôi nói luôn mồm còn cha thì cứ
lặng thinh ngồi ăn, thỉnh thoảng ho vài tiếng và vuốt bộ ria. Sau
đó cha dắt các con – tôi và em gái tôi – lên giường đi ngủ. Từ
người cha tỏa ra mùi bao tải, khi thì mùi táo, mùi bột mì, có khi
lại là mùi hôi của dầu máy. Tôi còn nhớ cái mùi đó đã làm cho
tôi phát ngán.
Có lẽ chính trong cái đêm bất hạnh ấy khi nằm cạnh cha tôi,
lần đầu tiên tôi đã nhận xét một cách có ý thức về tất cả mọi vật
chung quanh. Một căn phòng nhỏ hẹp với cái trần thấp lè tè dán
giấy báo. Bên dưới cửa sổ có một khe hở lớn và qua đó gió từ
ngoài sông lùa vào. Đó là ngôi nhà của chúng tôi. Một người đàn
bà xinh đẹp, da ngăm đen để xõa tóc đang nằm ngủ trên hai
chiếc bao tải nhét đầy rơm đặt dưới đất, đó là mẹ tôi. Đôi bàn
chân trẻ con nhỏ bé thò ra ngoài cái chăn rách tả tơi, đó là chân
em gái tôi. Một thằng bé gầy gò đen đủi, mặc chiếc quần rộng
thùng thình, run rẩy bò từ trên giường xuống và rón rén đi ra
sân – đó là tôi.
*
* *
Địa điểm thích hợp đã được chọn sẵn. Dây dợ chuẩn bị đầy đủ
rồi, đến cả củi khô cũng đã chất đống sẵn ở cạnh Prolom, chỉ còn
thiếu có miếng thịt thiu nữa là có thể đi câu tôm biếc được thôi.
Đáy con sông ở chỗ chúng tôi màu sắc sặc sỡ cho nên tôm ở đây
cũng lắm màu nhiều vẻ. Con thì đen, con thì xanh màu lá cây,
con thì vàng. Những loại tôm này cứ đốt lửa lên là chúng sẽ đến
và dùng nhái con làm mồi mà câu cũng được. Nhưng con tôm
biếc thì chỉ có thịt thiu mới câu được, về điểm này, tất cả bọn trẻ
con đều khẳng định như vậy. Mãi hôm qua mới gặp may: tôi
xoáy được của mẹ tôi một miếng thịt, đem ra phơi nắng suốt
một ngày. Bây giờ nó đã thối rữa ra rồi, chẳng cần phải cầm cũng
đã thấy rõ.
Tôi chạy thật nhanh dọc theo bờ sông đến Prolom. Ở đây đã
chất sẵn củi để đốt lửa. Từ xa đã có thể nhìn thấy hai cái tháp:
bờ bên này là tháp Pokrovskaya, còn bờ bên kia là tháp
Spasskaya. Sau khi nổ ra chiến tranh, tháp Spasskaya được dùng
làm kho chứa da của quân đội. Petya Skovorodnikov quả quyết
rằng ngày xưa trong tháp Spasskaya có ma và chính mắt cậu ta
đã nhìn thấy lũ ma bơi từ bờ bên kia sông sang bờ bên này của
chúng tôi. Sau khi sang sông, lũ ma đánh đắm thuyền đi và kéo
nhau vào sống ở trong tháp Pokrovskaya. Cậu ấy còn cam đoan
rằng lũ ma rất thích hút thuốc lá và uống rượu. Đầu chúng nhọn
hoắt và trong bọn chúng có nhiều đứa thọt chân bởi vì chúng
rơi từ trên trời xuống. Lũ ma ở trong tháp Pokrovskaya ngày
càng sinh sôi nảy nở và mỗi khi đẹp trời là chúng lại lẻn vào bờ
ăn cắp thuốc lá của những người đánh cá buộc vào lưới để cúng
thủy thần.
Tóm lại là khi tôi nhìn thấy một bóng đen gầy gò ở chỗ bức
tường hổng trong lúc đang thổi lửa thì tôi cũng chẳng lấy gì làm
ngạc nhiên cả.
- Nhóc con, mày làm gì ở đây? – Con ma hỏi tôi y như người
vậy.
Nếu lúc đó tôi nói được tôi cũng không trả lời nó. Tôi cứ nhìn
nó trừng trừng và run bắn người lên.
Đúng vào lúc đó mặt trăng ló ra khỏi đám mây nên có thể
nhìn thấy người lính canh đang đi lại chung quanh kho chứa da
của quân đội ở bờ sông bên kia, dáng to lớn, đẫy đà, lưng đeo
khẩu súng trường chĩa nòng lên trời.
- Câu tôm à?
“Con ma” nhẹ nhàng nhảy xuống và đến ngồi bên đống lửa.
- Sao cứ câm như hến thế, thằng ngốc? – Nó hỏi lại, giọng cục
cằn.
Không, đó không phải là ma! Đó chính là một người gầy còm
hốc hác, đầu không mũ, gã cầm cái gậy con, luôn tay đập gậy
vào chân mình. Tôi không nhìn kỹ mặt gã, nhưng tôi cũng nhận
ra ngay là gã mặc có mỗi chiếc áo vét lên mình trần và dùng một
chiếc khăn choàng thay cho áo sơ-mi.
- Sao, mày không muốn nói chuyện với tao à, thằng khốn? –
Gã lấy gậy chọc chọc vào người tôi mấy cái. – Thế nào, trả lời đi!
Trả lời đi! Không thì…
Không đứng dậy, gã nắm luôn lấy chân tôi kéo tới chỗ gã. Tôi
ú ớ.
- À, thì ra mày vừa câm vừa điếc!
Gã bỏ tôi ra và cứ ngồi mãi, tay cầm gậy chọc vào đống than.
- Cái thành phố hay thật, – gã nói vẻ chán chường. – Nhà nào
cũng có chó; bọn cảnh sát như bầy thú dữ. Một lũ ăn tôm khốn
kiếp!
Gã bắt đầu chửi rủa.
Nếu tôi biết sau đó một tiếng đồng hồ việc gì sẽ xảy ra thì dù
tôi không thể nói lại với người khác một lời nào, tôi cũng sẽ cố
gắng nhớ lấy tất cả những lời gã nói. Gã chửi rủa mãi, thậm chí
nghiến răng nghiến lợi lại mà nhổ một bãi nước bọt vào đống
lửa. Sau đó gã im lặng ngửa đầu lên ngồi bó gối. Tôi liếc nhìn và
nếu gã không đáng ghét như vậy thì có lẽ tôi cũng đã thương hại
gã.
Bỗng gã đứng phắt dậy. Vài phút sau gã đã ở trên chiếc cầu
phao – chiếc cầu này do quân lính mới bắc – sau đó thoáng thấy
bóng gã bên bờ bên kia rồi mất hút.
Đống lửa của tôi tắt ngấm. Nhưng dù không có ánh lửa tôi
vẫn thấy rõ là tôi đã câu được rất nhiều tôm, nhưng trong đó
không có con tôm biếc nào cả. Toàn là những con tôm đen
thông thường chẳng lấy gì làm to lắm. Đem những con tôm này
đến bán ở quán rượu chỉ được một cô-pếch[2] một đôi.
Gió lạnh từ đâu phía sau thổi tới cứ lùa vào ống quần của tôi,
tôi bắt đầu thấy lạnh cóng. Phải về thôi! Lần cuối cùng tôi quăng
dây câu có sẵn mồi thịt thiu xuống nước thì thấy người lính gác
ở bờ sông bên kia đang chạy xuống dốc. Tháp Spasskaya đứng
sừng sững trên con sông. Từ tháp đến bờ sông là một cái dốc rải
đá. Trăng sáng vằng vặc, trên dốc chẳng có một bóng người nào
cả. Vậy mà không hiểu tại sao người lính gác lại vừa chạy vừa bỏ
súng ra khỏi vai.
- Đứng lại!
Người lính không bắn mà chỉ lên đạn. Ngay lúc đó tôi nhìn
thấy rõ người đang bị rượt theo trên cầu phao, sở dĩ tôi phải viết
thận trọng như thế là vì cho đến giờ tôi cũng không dám khẳng
định rằng đó chính là người trước đây một tiếng đồng hồ đã
ngồi bên cạnh đống lửa của tôi. Song hình như giờ đây tôi vẫn
còn nhìn thấy cái cảnh thế này: bờ sông tĩnh mịch, con đường
sáng ánh trăng như rộng thêm ra chạy thẳng từ chỗ tôi đến
những chiếc xà-lan đầu cầu phao và hai cái bóng đen dài của
những người đang chạy trên cầu.
Người lính gác chạy nặng nề và có một lần phải đứng lại để
thở. Song người chạy trước rõ ràng lại còn nhọc nhằn hơn, bởi vì
có lúc bỗng nhiên gã ngồi thụp xuống bên thành cầu. Người lính
gác chạy tới chỗ gã, thình lình kêu lên một tiếng rồi ngã vật ra
đằng sau – có lẽ bị đánh bất ngờ từ dưới lên. Người lính nằm vắt
trên thành cầu rồi từ từ tuột xuống. Lúc đó tên hung thủ đã biến
mất sau bức tường pháo đài.
Không hiểu tại sao đêm hôm đó lại không có ai canh gác cầu
phao: trong chòi gác trống không mà chung quanh cũng chẳng
có người nào. Chỉ có mỗi mình người lính gác nằm nghiêng ở đó,
hai tay vươn ra phía trước. Một miếng da to tướng văng ra bên
cạnh. Lúc tôi sợ quá run bắn người lên đi đến gần thì thấy người
lính ngáp một cách chậm chạp. Sau nhiều năm tôi mới biết rằng
có nhiều người cũng ngáp trước khi chết. Đoạn người lính thở
một hơi rõ dài, dường như khoan khoái, rồi tất cả lại trở nên
tĩnh mịch.
Chẳng biết làm gì hơn, tôi cúi xuống nhìn rồi chạy đến chòi
gác xem – lúc đó tôi mới biết trong chòi gác không có người, thế
là tôi lại quay về chỗ người lính. Tôi không kêu lên được, không
phải vì hồi ấy tôi bị câm mà chính là vì sợ quá. Đúng lúc ấy từ
trên bờ có tiếng người nói, tôi cắm đầu chạy về chỗ câu tôm vừa
rồi. Sau này tôi cũng chẳng bao giờ lại chạy nhanh đến thế, thở
không ra hơi, đau tức cả ngực. Tôi cũng chẳng kịp lấy cỏ đậy giỏ
tôm vì khi về đến nhà thì tôm rơi mất một nửa. Lúc đó còn chú ý
gì đến tôm nữa!
Tôi lẳng lặng hé cửa, tim đập thình thịch. Trong gian phòng
duy nhất của chúng tôi tối om om, mọi người đang ngủ ngon
lành, chẳng ai biết tôi lén ra đi rồi lại trở về. Một phút sau tôi lại
nằm lên chỗ cũ cạnh cha tôi. Nhưng mãi tôi vẫn không tài nào
chợp mắt được. Trước mắt tôi lại hiện ra chiếc cầu phao dưới
ánh trăng vằng vặc và hai cái bóng đen dài đang chạy.
Chương 2
Cha
Sáng hôm sau có hai chuyện làm cho tôi rất buồn.
Chuyện thứ nhất là mẹ tôi đã phát hiện thấy tôm và đã đem
luộc hết. Thế là hai mươi cô-pếch của tôi coi như đi tong, hy
vọng mua lưỡi câu và con cá mồi[3] mới cũng tiêu tan. Chuyện
thứ hai là tôi đánh mất con dao nhíp. Thực ra thì con dao này là
của cha tôi, vì lưỡi dao bị gãy nên cha mới cho tôi. Tôi đã đi tìm
khắp trong nhà, ngoài sân mà chẳng thấy, tựa như nó đã chui
tọt xuống đất mất tăm.
Tôi loay hoay như thế cho đến tận mười hai giờ là lúc tôi phải
mang cơm trưa ra bến tàu cho cha tôi. Đem cơm trưa cho cha là
nhiệm vụ của tôi và tôi rất tự hào về nhiệm vụ này.
Hiện nay bến tàu ở bờ sông bên kia, còn bờ bên này là con
đường phố lớn hai bên trồng bồ đề. Cho đến nay những cây bồ
đề này vẫn được cả thành phố chúng tôi yêu thích. Hôm đó, khi
tôi xách cái túi đựng hộp canh đỗ và khoai tây mang đến cho
cha tôi thì thấy trên đại lộ này có rất nhiều lán cho công nhân,
dọc theo tường pháo đài có những bao tải và túi vải đựng bột mì
chất cao từng đống; những tấm gỗ to rộng bắc từ xà-lan lên bờ,
những người công nhân khuân vác luôn miệng hét: “Tránh ra
này”! – Họ đẩy những chiếc xe gỗ chất đầy hàng chạy từ xà-lan
xuống. Tôi còn nhớ nước sông ở bến tàu nổi váng ánh lên nhiều
màu sặc sỡ, những cái cọc gỗ để buộc tàu đã bị mòn vẹt, mùi cá
tanh, mùi hắc ín, mùi bao tải lẫn lộn với nhau nồng nặc.
Lúc tôi tới bến tàu, mọi người vẫn còn đang làm việc. Có một
chiếc xe đẩy bị kẹt bánh giữa khe ván cầu, làm cho việc đi lại từ
xà-lan lên bờ bị gián đoạn. Những người đằng sau chửi mắng
ầm ĩ. Hai người đẩy xe nằm đè lên chiếc xà beng, ra sức đẩy
chiếc xe bị kẹt bánh lên để đặt vào đường xe đi. Lúc đó cha tôi
đủng đỉnh vòng qua người họ. Ông nói câu gì đó rồi cúi xuống…
Tôi cứ nhớ mãi dáng điệu của cha lúc đó: khuôn mặt to tròn có
ria rậm, đôi vai to rộng, cha nhấc chiếc xe đẩy chở đầy hàng rất
nặng ấy lên một cách nhẹ nhàng. Sau này không bao giờ tôi còn
được thấy cha tôi như thế nữa.
Cha vừa ăn cơm vừa nhìn tôi – “Thế nào, Sanya?” – Lúc đó
trên bến tàu hiện ra viên cảnh sát trưởng béo phị và ba tên cảnh
sát nữa. Một tên gọi “ông bác” đến – mọi người đều gọi bác trùm
phường bốc vác ở đây như vậy – và nói với bác điều gì đó. “Ông
bác” hốt hoảng kêu lên một tiếng; làm dấu thánh giá rồi cả mấy
người cùng đến chỗ chúng tôi.
- Anh là Ivan Grigoriev? – Tên cảnh sát trưởng hỏi và đưa
thanh kiếm ra sau lưng.
- Chính tôi.
- Bắt lấy hắn! – Tên cảnh sát trưởng hét lên, mặt tím bầm. –
Hắn bị bắt!
Mọi người xôn xao. Cha tôi đứng dậy. Tất cả lặng im.
- Vì sao?
- Tội gì thì đến chỗ tao mày sẽ rõ! Bắt hắn đi!
Bọn cảnh sát đi đến chỗ cha tôi và túm lấy hai tay. Cha tôi khẽ
lắc vai một cái – bọn chúng nhảy lùi lại mấy bước, một tên cảnh
sát vội vàng rút kiếm.
- Bẩm quan lớn, thế này là thế nào ạ? – Cha hỏi. – Vì sao lại bắt
tôi? Tôi chẳng phải là ai xa lạ, mọi người đều biết tôi.
- Không đâu, chú mày ạ, mọi người còn chưa biết hết về chú
mày đâu, – tên cảnh sát trưởng bác lời. – Mày là quân ăn cướp.
Giải hắn đi!
Bọn cảnh sát lại vây lấy cha tôi.
- Này thằng ngốc, đừng có ngoe nguẩy cái con cá mòi ấy, – cha
khẽ nói qua kẽ răng với tên cảnh sát vừa rút kiếm ra. – Bẩm
quan, tôi là người có nhà có cửa, tôi làm việc ở bến tàu này đã
hai mươi năm nay. Tôi đã làm điều gì xấu xin ngài nói hết cả ra
để cho mọi người đều biết, rốt cuộc tôi đã phạm tội gì mà bị bắt.
Nếu không mọi người sẽ cho tôi là kẻ cướp thật!
- Hừ, mày còn giả vờ hả, làm như ông thánh ấy! – Tên cảnh sát
trưởng hét lên. – Tao còn lạ gì chúng mày! Nào! Hừ!
Bọn cảnh sát có vẻ còn lưỡng lự.
- Nào!
- Thưa quan, hãy chờ cho một tí, tôi sẽ tự đi được, – cha nói. –
Sanya… – Cha cúi xuống bảo tôi. – Sanya, chạy mau về nhà báo
cho mẹ… À, tao quên mất, mày là…
Cha tôi muốn nói rằng tôi bị câm, nhưng Người lại im. Từ xưa
đến nay chưa bao giờ cha nói đến tiếng này. Như thể cha tôi vẫn
còn hy vọng rằng có một ngày nào đó tôi sẽ nói được. Ông nín
lặng và nhìn chung quanh.
- Tôi sẽ dẫn nó về, ông Ivan ạ, – bác trùm phường nói. – Ông
cứ yên tâm.
- Bác Misha, bác đi hộ nhé. À, còn… – Cha tôi rút ra ba rúp đưa
cho bác trùm phường. – Nhờ bác chuyển cho nhà tôi. Thôi, xin
từ biệt!
Mọi người đồng thanh chào lại cha tôi.
Ông xoa đầu tôi và nói:
- Đừng khóc, Sanya!
Thế mà tôi không biết là mình đang khóc.
Giờ đây tôi nhớ lại cảnh khi mẹ tôi biết tin cha tôi bị bắt mà
rùng mình. Mẹ không khóc, nhưng khi bác trùm phường vừa đi
khỏi, mẹ liền ngồi lên giường, nghiến chặt răng mà đập mạnh
đầu vào tường. Tôi và em gái khóc rống lên mà mẹ tôi cũng
không ngoái cổ lại. Bà lắp bắp nói gì đó và cứ đập đầu vào tường.
Sau đó mẹ tôi đứng dậy, trùm khăn lên đầu rồi đi ra ngoài.
Dì Dasha lo liệu cho chúng tôi suốt ngày hôm đó. Chúng tôi đi
ngủ. Thực ra chỉ có em gái tôi ngủ thôi, còn tôi nằm đấy, hai mắt
mở thao láo và suy nghĩ… Trước hết là nghĩ về cha tôi, nhớ lại
lúc ông chào từ biệt mọi người. Rồi tôi lại nghĩ đến tên cảnh sát
trưởng béo phị, nghĩ đến thằng con trai nó mặc quần áo lính
thủy. Tôi đã nhìn thấy thằng bé ấy ở trong vườn nhà tỉnh
trưởng. Rồi tôi lại nghĩ đến chiếc xe đạp ba bánh của nó. Thằng
bé này thường đi chiếc xe đạp ấy, – giá tôi mà có được chiếc xe
đạp con ấy! – Cuối cùng khi mẹ tôi về thì tôi chẳng nghĩ gì nữa.
Mẹ tôi bước vào nhà, người đen sạm, gầy tọp đi và dì Dasha chạy
đến chỗ mẹ…
Không hiểu sao tự nhiên tôi lại cảm thấy hình như cha tôi đã
bị cảnh sát chém chết. Tôi nằm yên bất động như vậy hồi lâu,
đau đớn lặng người đi và chẳng nghe thấy gì nữa. Sau đó tôi mới
rõ là cha còn sống, nhưng bọn cảnh sát không cho mẹ tôi vào
gặp ông. Mẹ nhắc đi nhắc lại ba lần rằng cha bị bắt vì tội giết
người, – ban đêm người lính gác bị giết trên chiếc cầu phao. –
Bây giờ tôi mới đoán rằng cái đêm mà mẹ nói chính là đêm vừa
qua, còn người lính gác là người lính gác ấy và cái cầu phao cũng
chính là cái cầu phao mà người lính gác nằm duỗi hai tay ra. Tôi
vùng bật dậy chạy bổ đến chỗ mẹ và hét ầm lên. Mẹ ôm chặt lấy
tôi: có lẽ mẹ tưởng là tôi sợ quá. Nhưng đấy chính là tôi đang
“nói” đấy…
Trời, giá mà lúc đó tôi không bị câm!
Tôi rất muốn nói lại toàn bộ câu chuyện. Tôi đã lén chạy ra
câu tôm ở sông Peschinka như thế nào, đã nhìn thấy một con
người bất chính tay cầm cây gậy từ chỗ lỗ hổng của bức tường
quanh pháo đài đi ra và hắn đã nghiến răng nghiến lợi chửi bới
như thế nào, sau đó hắn nhổ một bãi nước bọt như thế nào vào
đống lửa rồi chuồn ra sao. Song đối với một đứa trẻ lên tám tuổi
bập bẹ chỉ biết nói được đôi ba tiếng ú ớ thì việc kể lại những
điều đó thật là một việc làm quá khó khăn.
- Bọn trẻ sợ hết hồn rồi! – Dì Dasha thở dài.
Khi đó tôi im tiếng và nhìn mẹ tôi, tưởng rằng bây giờ thì tất
cả đã rõ ràng.
- Không, hình như nó muốn nói gì. Con có biết chuyện gì
không, hở Sanya?
Ôi, giá như tôi không bị câm! Tôi bắt đầu thuật lại, dùng tay
ra hiệu… Mẹ là người hiểu tôi hơn ai hết, thế mà lần này tôi lại
hoàn toàn thất vọng vì thấy rằng chính mẹ cũng không hiểu
được tí gì cả. Hiểu thế nào được! Sự việc xảy ra trên cầu phao
làm sao mà giống được cái cảnh một thằng bé gầy còm đen đủi,
trên mình chỉ mặc mỗi chiếc sơ-mi đang lồng lộn chạy quanh
nhà, khi thì nằm lăn ra giường ý muốn nói rằng đêm ấy cha đã
ngủ say như thế nào, khi lại nhảy lên ghế, giơ hai nắm tay lên
trước mặt dì Dasha đang chẳng hiểu đầu đuôi ra sao.
Cuối cùng dì Dasha làm dấu thánh cho tôi.
- Tụi trẻ con đã đánh nó.
Tôi lắc đầu.
- Nó đang kể lại chuyện cha nó bị bắt đấy, – mẹ nói. – Kể lại
chuyện bọn cảnh sát đã xông vào đánh cha nó. Có đúng không,
Sanya?
Tôi không nhịn được nữa, gục đầu lên đùi mẹ khóc òa lên. Mẹ
bế tôi lên giường, tôi nằm mãi, lắng nghe xem hai người nói
những gì và suy nghĩ xem làm thế nào có thể nói lên được điều
bí mật phi thường này của tôi.
Chương 3
Chạy chọt
Nếu sáng hôm sau mẹ tôi không ốm thì chắc chắn tôi sẽ tìm
được cách trình bày cho ra sự việc này. Xưa nay mẹ tôi vốn là
người thất thường, nhưng kỳ lạ như lần này thì tôi chưa bao giờ
thấy.
Trước đây khi nào mẹ đột nhiên đứng cạnh cửa sổ hàng tiếng
đồng hồ hoặc đang đêm mà mẹ nhảy từ trên giường xuống,
mình mặc mỗi chiếc áo cánh ngồi cạnh bàn suốt đêm là cha
phải đưa mẹ về nhà quê nghỉ mấy...
V.KAVERIN
(Giải thưởng văn học Stalin 1946) Tái bản
Ngọc Kỳ và Trần Luân Kim dịch
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN – 2004
Dịch theo bản Nga văn của Nhà xuất bản “Văn nghệ” Moskva
1964 và bản Trung văn của Nhà xuất bản “Nhân dân văn học”
Bắc Kinh 1959.
Nguồn sách: Cải
OCR: 4DHN
Điều hành dự án: Rafa
Những người tham gia soát lỗi: bichdinh, langtu, Lichan,
Deathshine, Antigone, Cải, AsuraZ, Rafa, Donquixote,
Mystery2110, thichankem, Mot_sach09, Lemontree123,
hhongxuan, Chi_Chi, minhtrang, hhanhh, Ban Tang Du Tử,
hero229
Soát lỗi lần cuối: Caruri
Chế bản: 4DHN và Caruri
Ngày hoàn thành: Tháng 2 năm 2018
Mục lục
LỜI GIỚI THIỆU
PHẦN THỨ NHẤT THỜI THƠ ẤU
CHƯƠNG 1 LÁ THƯ. ĐI CÂU TÔM BIẾC
CHƯƠNG 2 CHA
CHƯƠNG 3 CHẠY CHỌT
CHƯƠNG 4 VỀ NÔNG THÔN
CHƯƠNG 5 ÔNG BÁC SĨ IVAN IVANYCH. TÔI HỌC
NÓI
CHƯƠNG 6 CHA TÔI CHẾT. TÔI KHÔNG MUỐN NÓI
NỮA
CHƯƠNG 7 MẸ
CHƯƠNG 8 PETYA SKOVORODNIKOV
CHƯƠNG 9 MỘT GẠCH, MỘT GẠCH, GẠCH NỮA,
GẠCH THỨ NĂM, THỨ HAI MƯƠI, THỨ MỘT TRĂM
CHƯƠNG 10 DÌ DASHA
CHƯƠNG 11 CUỘC NÓI CHUYỆN VỚI PETYA
CHƯƠNG 12 GAER KULY TRONG TIỂU ĐOÀN CẢM
TỬ
CHƯƠNG 13 BUỔI ĐƯA ĐÁM MẸ
CHƯƠNG 14 BỎ TRỐN, TÔI KHÔNG NGỦ. TÔI CHỈ
GIẢ VỜ NGỦ
CHƯƠNG 15 ĐẤU TRANH VÀ TÌM TÒI, QUYẾT ĐẠT
MỤC ĐÍCH CHỨ KHÔNG ĐẦU HÀNG
CHƯƠNG 16 CHUYẾN BAY ĐẦU TIÊN
CHƯƠNG 17 NHỮNG CON GIỐNG
CHƯƠNG 18 NIKOLAI ANTONYCH
PHẦN THỨ HAI CÓ NHỮNG ĐIỀU ĐỂ SUY NGHĨ
CHƯƠNG 1 TÔI NGHE KỂ CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
CHƯƠNG 2 TRƯỜNG HỌC
CHƯƠNG 3 BÀ CỤ NGƯỜI Ở ENSK
CHƯƠNG 4 CÓ NHỮNG CHUYỆN XẢY RA LÀM TÔI
PHẢI SUY NGHĨ
CHƯƠNG 5 TRONG TUYẾT CÓ MUỐI KHÔNG?
CHƯƠNG 6 ĐẾN CHƠI NHÀ KATYA
CHƯƠNG 7 GIA ĐÌNH TATARINOV
CHƯƠNG 8 ĐỘI KỊCH NHÀ TRƯỜNG
CHƯƠNG 9 THẦY GIÁO KORABLYOV CẦU HÔN.
TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ GIÁO
CHƯƠNG 10 THƯ TRẢ LỜI CỰ TUYỆT
CHƯƠNG 11 TÔI RA ĐI
CHƯƠNG 12 MỘT CUỘC NÓI CHUYỆN NGHIÊM TÚC
CHƯƠNG 13 TÔI SUY NGHĨ
CHƯƠNG 14 ĐỒNG NĂM MƯƠI CÔ-PẾCH BẰNG BẠC
PHẦN THỨ BA NHỮNG LÁ THƯ CŨ
CHƯƠNG 1 BỐN NĂM
CHƯƠNG 2 PHIÊN TÒA XỬ EVGENY ONEGIN
CHƯƠNG 3 TRÊN SÂN TRƯỢT BĂNG
CHƯƠNG 4 NHỮNG THAY ĐỔI
CHƯƠNG 5 NGƯỜI CHA CỦA KATYA
CHƯƠNG 6 THAY ĐỔI CÀNG NHIỀU
CHƯƠNG 7 CÁC NHẬN XÉT BÊN LỀ SÁCH. NHỮNG
CON CHUỘT CỦA VALYA. NGƯỜI QUEN CŨ
CHƯƠNG 8 DẠ HỘI
CHƯƠNG 9 CUỘC HẸN HÒ ĐẦU TIÊN. ĐÊM KHÔNG
NGỦ
CHƯƠNG 10 NHỮNG CHUYỆN KHÔNG HAY
CHƯƠNG 11 TÔI VỀ ENSK
CHƯƠNG 12 NGÔI NHÀ THÂN THUỘC
CHƯƠNG 13 NHỮNG BỨC THƯ CŨ
CHƯƠNG 14 GẶP NHAU Ở VƯỜN NHÀ THỜ. ĐỪNG
CÓ TIN Ở CON NGƯỜI ẤY
CHƯƠNG 15 CHÚNG TÔI ĐI DẠO. TẢO MỘ. GIA ĐÌNH
BUBENCHIKOV. NGÀY BIỆT LY
CHƯƠNG 16 CÁI GÌ ĐANG CHỜ TÔI Ở MOSKVA
CHƯƠNG 17 VALKA
CHƯƠNG 18 MỘT CHẾT MỘT SỐNG
CHƯƠNG 19 BẠN CŨ
CHƯƠNG 20 LẼ RA MỌI VIỆC CÓ THỂ KHÁC HẲN
CHƯƠNG 21 BÀ MARIA VASILIEVNA
CHƯƠNG 22 ĐÊM
CHƯƠNG 23 LẠI NỘI QUY. KHÔNG PHẢI ÔNG ẤY.
CHƯƠNG 24 LỜI VU KHỐNG
CHƯƠNG 25 CUỘC HẸN HÒ CUỐI CÙNG
PHẦN THỨ TƯ MIỀN BẮC
CHƯƠNG 1 TRƯỜNG HÀNG KHÔNG
CHƯƠNG 2 ĐÁM CƯỚI SANYA
CHƯƠNG 3 TÔI VIẾT THƯ CHO BÁC SĨ IVAN
IVANYCH
CHƯƠNG 4 TÔI NHẬN ĐƯỢC THƯ TRẢ LỜI
CHƯƠNG 5 BA NĂM
CHƯƠNG 6 Ở NHÀ BÁC SĨ
CHƯƠNG 7 TÔI ĐỌC NHẬT KÝ
CHƯƠNG 8 GIA ĐÌNH BÁC SĨ
CHƯƠNG 9 “HÌNH NHƯ CHÚNG MÌNH ĐÃ GẶP
NHAU…”
CHƯƠNG 10 CHÚC NGỦ NGON
CHƯƠNG 11 BAY
CHƯƠNG 12 BÃO TUYẾT
CHƯƠNG 13 BẾP ĐÈN CỒN LÀ CÁI GÌ
CHƯƠNG 14 CÁI CÂU LIÊM CŨ BẰNG ĐỒNG THAU
CHƯƠNG 15 VANOKAN
PHẦN THỨ NĂM VÌ LƯƠNG TÂM
CHƯƠNG 1 GẶP KATYA
CHƯƠNG 2 LỄ KỶ NIỆM CỦA THẦY KORABLYOV
CHƯƠNG 3 VÔ ĐỀ
CHƯƠNG 4 RẤT NHIỀU TIN MỚI
CHƯƠNG 5 TRONG RẠP HÁT
CHƯƠNG 6 LẠI CÓ NHIỀU ĐIỀU MỚI
CHƯƠNG 7 “NHÀ TÔI CÓ KHÁCH”
CHƯƠNG 8 TRUNG THÀNH VỚI VẬT KỶ NIỆM
CHƯƠNG 9 TẤT CẢ ĐÃ ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH, CÔ ẤY
DỌN ĐI
CHƯƠNG 10 TẠI NGÕ SIVTSEV VRAZHEK
CHƯƠNG 11 MỘT NGÀY BẬN RỘN
CHƯƠNG 12 ROMASHKA
PHẦN THỨ SÁU TUỔI XUÂN ĐANG TIẾP TỤC
CHƯƠNG 1 “CÔ CHƯA HIỂU CẬU TA ĐÂU”
CHƯƠNG 2 TRÊN QUẢNG TRƯỜNG SOBACHY
CHƯƠNG 3 CHÚC CUỘC HÀNH TRÌNH THÀNH
CÔNG VÀ HẠNH PHÚC!
CHƯƠNG 4 CHÚNG TA HÃY CẠN CỐC VÌ SANYA
CHƯƠNG 5 Ở ĐÂY CÓ VIẾT DÒNG CHỮ “TÀU ST.
MARIA”
CHƯƠNG 6 Ở NHÀ BÀ
CHƯƠNG 7 MÙA ĐÔNG
CHƯƠNG 8 THÀNH PHỐ LENIN
CHƯƠNG 9 GẶP GỠ
CHƯƠNG 10 ĐÊM
CHƯƠNG 11 CÔ EM
CHƯƠNG 12 VĨNH BIỆT
CHƯƠNG 13 PETYA CON
CHƯƠNG 14 NGƯỜI KHÁCH TRONG ĐÊM KHUYA
CHƯƠNG 15 TUỔI XUÂN ĐANG ĐƯỢC KÉO DÀI
THÊM
CHƯƠNG 16 “ANH TRÔNG THẤY EM BẾ CON TRONG
TAY”
PHẦN THỨ BẢY PHÂN LY
CHƯƠNG 1 NĂM NĂM
CHƯƠNG 2 BÀ KỂ CHUYỆN GÌ
CHƯƠNG 3 “PHẢI NHỚ ĐẤY, EM PHẢI TIN TƯỞNG”
CHƯƠNG 4 “NHẤT ĐỊNH CHÚNG TÔI SẼ GẶP LẠI
NHAU, NHƯNG KHÔNG PHẢI TRONG NGÀY MỘT
NGÀY HAI”
CHƯƠNG 5 ANH EM
CHƯƠNG 6 BÂY GIỜ CHÚNG TA ĐỀU BÌNH ĐẲNG
CHƯƠNG 7 GỬI “EKATERINA IVANOVNA
TATARINOVA GRIGORIEVA”
CHƯƠNG 8 ĐÂY LÀ THÀNH TÍCH CỦA BÁC SĨ
CHƯƠNG 9 RÚT LUI
CHƯƠNG 10 CUỘC SỐNG ĐƯƠNG ĐI LÊN
CHƯƠNG 11 BỮA ĂN TỐI. “KHÔNG PHẢI NÓI VỀ TÔI
ĐÂU”
CHƯƠNG 12 TÔI TIN TƯỞNG
CHƯƠNG 13 NGUỒN HY VỌNG
CHƯƠNG 14 HẾT NGUỒN HY VỌNG
CHƯƠNG 15 CẦU MONG MỐI TÌNH CỦA EM CỨU
SỐNG ĐƯỢC ANH
CHƯƠNG 16 XIN CHÀO – LENINGRAD
PHẦN THỨ TÁM ĐẤU TRANH VÀ TÌM TÒI
CHƯƠNG 1 BUỔI SÁNG
CHƯƠNG 2 CẬU ẤY
CHƯƠNG 3 CHÚNG TÔI LÀM TẤT CẢ NHỮNG GÌ CÓ
THỂ LÀM ĐƯỢC
CHƯƠNG 4 “CẬU ĐẤY À, CÚ MÈO”
CHƯƠNG 5 MỐI HẬN CŨ
CHƯƠNG 6 NHỮNG CÔ GÁI TỪ STANISLAV ĐẾN
CHƯƠNG 7 TRONG CÁNH RỪNG BẠCH DƯƠNG NHỎ
HẸP
CHƯƠNG 8 CHẲNG CÓ AI BIẾT CẢ
CHƯƠNG 9 MỘT MÌNH
CHƯƠNG 10 CÁC CHÚ BÉ
CHƯƠNG 11 CÂU CHUYỆN VỀ TÌNH YÊU
CHƯƠNG 12 TRONG QUÂN Y VIỆN
CHƯƠNG 13 BẢN ÁN
CHƯƠNG 14 TÔI ĐI TÌM KATYA
CHƯƠNG 15 CUỘC GẶP GỠ NHÀ ĐỊA LÝ THỦY VĂN
R.
CHƯƠNG 16 QUYẾT ĐỊNH
CHƯƠNG 17 NHỮNG NGƯỜI BẠN VẮNG NHÀ
CHƯƠNG 18 NGƯỜI QUEN CŨ. TẤM ẢNH CỦA
KATYA
CHƯƠNG 19 “ANH KHÔNG THỂ GIẾT CHẾT ĐƯỢC
TÔI”
CHƯƠNG 20 BÓNG TỐI
PHẦN THỨ CHÍN QUYẾT ĐẠT MỤC ĐÍCH CHỨ KHÔNG
ĐẦU HÀNG
CHƯƠNG 1 NGƯỜI VỢ
CHƯƠNG 2 SỰ VIỆC CÒN CHƯA KẾT THÚC
CHƯƠNG 3 TỰ DO SĂN LÙNG
CHƯƠNG 4 BÁC SĨ LÀM VIỆC Ở THÀNH PHỐ BẮC
CỰC
CHƯƠNG 5 CẠN CỐC VÌ NHỮNG NGƯỜI TRÊN MẶT
BIỂN
CHƯƠNG 6 KHOẢNG CÁCH XA XĂM
CHƯƠNG 7 LẠI Ở THÀNH PHỐ ZAPOLYARYE
CHƯƠNG 8 CHIẾN THẮNG
PHẦN THỨ MƯỜI TRANG CUỐI CÙNG
CHƯƠNG 1 LỜI GIẢI ĐÁP
CHƯƠNG 2 MỘT VIỆC HẾT SỨC LẠ ĐỜI
CHƯƠNG 3 ĐÓ CHÍNH LÀ KATYA
CHƯƠNG 4 NHỮNG BỨC THƯ VĨNH BIỆT
CHƯƠNG 5 TRANG CUỐI CÙNG
CHƯƠNG 6 TRỞ VỀ
CHƯƠNG 7 HAI CUỘC NÓI CHUYỆN
CHƯƠNG 8 BẢN BÁO CÁO
CHƯƠNG 9 CHƯƠNG CUỐI CÙNG
ĐOẠN KẾT
HẾT
CHÚ THÍCH
PHƯƠNG NGỮ, TỪ ĐỊA PHƯƠNG
LỜI GIỚI THIỆU
Có những cuốn sách mà ngay từ thời còn nhỏ nó đã trở thành
người bạn thân thiết của ta và sau đó nó cứ tồn tại trong suốt cả
đời mình. Cuốn tiểu thuyết “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” của
Veniamin Aleksandrovich Kaverin, một nhà văn, nhà báo nổi
tiếng của Liên Xô là một cuốn sách như vậy. Không phải ngẫu
nhiên mà từ Nhà xuất bản Văn học Thiếu nhi, đến Nhà xuất bản
Đội Cận Vệ thanh niên, Nhà xuất bản Văn học, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia và hàng chục Nhà xuất bản khác ở Liên Xô đã
in đi in lại cuốn tiểu thuyết này tới bốn, năm chục lần, mỗi lần
hàng chục vạn bản[1].
Kaverin sinh năm 1902. Từ ngày còn theo học ở trường trung
học, ông đã say mê văn học và bắt đầu làm thơ. Năm 1919 ông
học ở trường Đại học Tổng hợp Moskva; năm 1920 chuyển sang
học ở trường Đại học Tổng hợp Leningrad và đồng thời còn
tham gia nghiên cứu tiếng Ả-rập trong Học viện Ngôn ngữ
Phương Đông. Giữa lúc đó “Câu lạc bộ văn học” Leningrad tổ
chức cuộc thi văn cho các cây bút thanh niên, Kaverin đã tham
gia với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, cuốn “Cây số thứ 11”.
Truyện này đã được Maksim Gorky rất thích và khen ngợi. Từ đó
trở đi Kaverin thường xuyên được sự chỉ đạo và giúp đỡ của nhà
văn cách mạng vĩ đại đó.
Trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, Kaverin đã
công tác trên hạm đội Phương Bắc, đồng thời làm phóng viên
cho tờ báo “Tin tức” và đã được tặng thưởng “Huy chương cờ
đỏ”.
Thời kỳ đầu, phần lớn những tác phẩm của Kaverin là những
cuốn tiểu thuyết ảo tưởng; sau đó ông chuyển sang đề tài bộ mặt
tinh thần và quá trình trưởng thành của thanh niên trong thời
đại Xô Viết. Tiểu thuyết của ông khá nhiều, có hơn tám quyển
lớn và nhiều cuốn đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.
“THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” là cuốn tiểu thuyết dài nổi
tiếng nhất của Kaverin. Tác phẩm kể lại câu chuyện về chiếc tàu
thám hiểm “St. Maria” của nước Nga trước Cách mạng tháng
Mười, về thuyền trưởng Tatarinov và đội thám hiểm do ông
lãnh đạo đã bị mất tích ở vùng Bắc cực và về chuyện đại úy
không quân Liên Xô Aleksandr Grigoriev sau ngày Cách mạng
đã đi tìm đội thám hiểm đó. Câu chuyện kéo dài trong hơn ba
mươi năm, qua những tình tiết phức tạp, tinh tế, tác giả đã biểu
hiện vô cùng sắc nét ý chí kiên cường và tinh thần cao thượng
của thanh niên Liên Xô. Sau khi xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã
lôi cuốn người đọc mãnh liệt. Năm 1946 “THUYỀN TRƯỞNG VÀ
ĐẠI ÚY” đã được tặng giải thưởng văn học Stalin. Hiện nay
“THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” vốn là một trong số tác phẩm
được nhân dân và thanh thiếu niên Liên Xô yêu thích nhất.
Về giá trị của tác phẩm, nhà phê bình văn học V. Annenkov đã
viết: “Grigoriev, nhân vật chính của “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI
ÚY” đã trở thành tấm gương cho nhiều người. Không phải ngẫu
nhiên mà một thanh niên nước ngoài đã viết: ““THUYỀN
TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã đặt vào tay anh một vũ khí sắc bén. Vũ
khí ấy là “Đấu tranh và tìm tòi, quyết đạt mục đích chứ không
đầu hàng!””
Tính chất lãng mạn của lao động sáng tạo, của phát minh
khoa học, tính chất lãng mạn của dũng cảm và chiến công là
động cơ của tư tưởng và tình cảm trong những nhân vật tốt đẹp
nhất của Kaverin”.
Theo nhà phê bình văn học G. Tre lova thì “THUYỀN
TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã liên tiếp góp phần đào tạo thế hệ thanh
niên cùng thời đại với nhân vật của nó… “THUYỀN TRƯỞNG VÀ
ĐẠI ÚY” được tính trong số những cuốn sách văn học Xô Viết
đặc biệt được yêu thích, đặc biệt được phổ biến rộng rãi trong
quần chúng, những cuốn sách ấy xuất sắc ở điểm là mọi người
đều mê.
Và theo ý kiến của Viện văn học thế giới mang tên Lenin thì
“Cuốn tiểu thuyết “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” của Kaverin
đầy tinh thần dũng cảm, bền bỉ, dám nghĩ, dám làm. Nó đã trở
thành một trong những cuốn sách được thanh thiếu niên Liên
Xô yêu thích nhất”.
Tóm lại đây là một tác phẩm văn học lớn, một cuốn tiểu
thuyết có nội dung giáo dục rất cao, có sức hấp dẫn mãnh liệt.
Hấp dẫn, không chỉ vì nó ly kỳ, dồn dập, cái gì cũng mới lạ,
mà còn do nội dung tư tưởng, do số phận và cá tính của các
nhân vật chính, do lời văn trong sáng, tươi mát và phong phú
của nó.
Xin trân trọng giới thiệu với toàn thể các bạn nam nữ thanh
niên và các em thiếu niên lớn tuổi.
Hà Nội, mùa xuân năm 1974
Ngọc Kỳ
Phần thứ nhất
THỜI THƠ ẤU
Chương 1
Lá thư. Đi câu tôm biếc
Tôi còn nhớ mãi cái sân rộng thênh thang nhưng bẩn thỉu và
những căn nhà thấp bé có hàng rào bao bọc ấy. Cái sân ở ngay
cạnh một con sông và cứ mùa xuân đến khi băng tuyết tan,
nước rút đi là trên sân lại đầy những củi rác và vỏ sò, đôi khi còn
có cả những vật rất hiếm thấy. Chẳng hạn như có lần chúng tôi
vớ được một cái túi chật ních những bì thư. Sau đó nước sông lại
đưa đến và nhẹ nhàng đẩy luôn chính cái người đưa thư ấy vào
bờ. Anh ta nằm ngửa, hai tay giơ lên như muốn che nắng. Người
này còn trẻ lắm, tóc vàng hoe, những chiếc khuy đồng trên áo
vét kín cổ sáng lóng lánh – có lẽ trước khi đi đưa chuyến thư
cuối cùng này anh ta vừa mới đánh khuy bằng phấn.
Người cảnh sát mang cái túi đi, vứt lại bó thư bên trong đã bị
nước ngấm ướt sũng. Dì Dasha nhặt đem về nhà. Chắc là túi
đựng thư còn mới, lại làm bằng da và nắp đậy rất khít nên
những bức thư bên trong vẫn còn xem được. Mỗi buổi tối dì
Dasha lại đọc lên một bức thư, có khi dì chỉ đọc cho mình tôi
nghe, có khi cả xóm cùng nghe. Việc đó thú vị đến nỗi cả các bà
già thường đến nhà ông Skovorodnikov chơi bài cũng bỏ đấy
đến nhập bọn với chúng tôi. Trong số thư ấy có một bức được dì
Dasha hay đọc nhất, đến nỗi sau này tôi đã thuộc lòng. Từ đó
đến nay bao nhiêu năm tháng đã trôi qua mà tôi vẫn còn thuộc
từ đầu đến cuối.
“Bà Maria Vasilievna kính mến!
Trước hết xin báo tin để bà rõ là ông Ivan Lvovich hãy còn sống
và khỏe mạnh. Cách đây bốn tháng, theo lệnh của ông, tôi đã rời
khỏi chiếc tàu buồm cùng mười ba người nữa trong đội thủy thủ.
Tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa sẽ được gặp bà, nên tôi sẽ không viết
tỉ mỉ về chuyến đi gian nan này của chúng tôi trên những núi băng
trôi về đất Franz Josef. Chúng tôi đã phải chịu đựng mọi nguy nan
và gian khổ khôn lường. Tôi chỉ muốn nói với bà một điều là trong
cả nhóm chỉ còn mình tôi đến được mũi Flora một cách an toàn
(nếu không kể đến đôi chân cứng dại vì băng giá). Chiếc tàu “St.
Phocas” thuộc đội thám hiểm của trung úy Sedov đã cứu tôi và đưa
về Arkhangelsk. Tôi được sống sót nhưng có lẽ phải lấy làm tiếc về
điều đó vì một ngày gần đây tôi sẽ phải cưa chân và sau đó thì chỉ
còn biết trông chờ ở lòng nhân từ của Chúa. Tôi không biết sẽ sống
ra sao khi không còn chân nào nữa. Dưới đây tôi xin báo để bà biết:
chiếc tàu “St. Maria” bị nghẽn băng ở ngoài biển Kara và từ tháng
Mười năm 1912 nó không ngừng di chuyển lên phía Bắc cùng với
những tảng băng Bắc cực. Khi chúng tôi rời khỏi chiếc tàu buồm thì
nó ở vĩ độ 82°55'. Nó nằm nguyên giữa biển băng hay nói cho đúng
hơn thì từ mùa thu năm 1912 nó còn nằm nguyên ở đó cho đến khi
chúng tôi đi khỏi. Rất có thể nó sẽ đi được trong năm nay, nhưng
theo ý tôi thì có lẽ phải đến sang năm, khi nó trôi đến gần chỗ mà
chiếc tàu “Fram” đã được giải thoát, nó mới có khả năng thoát ra
khỏi biển băng ấy. Lương thực còn cho những người ở lại trên tàu
đủ dùng đến tháng Mười hoặc tháng Mười một sang năm. Dù thế
nào đi nữa cũng xin bà tin cho rằng chúng tôi rời khỏi tàu không
phải vì nó ở vào tình thế tuyệt vọng. Tất nhiên tôi phải chấp hành
lệnh của Thuyền trưởng, song cũng xin thú thật rằng lệnh đó của
ông rất phù hợp với nguyện vọng riêng của tôi. Khi tôi cùng với
mười ba thủy thủ rời khỏi tàu thì ông Ivan Lvovich có nhờ tôi
chuyển một gói niêm phong cho Ngài Cục trưởng Cục Địa lý thủy
văn hiện đã quá cố và một phong thư cho bà. Tôi không dám mạo
hiểm gửi bưu điện những thứ ấy bởi vì hiện nay chỉ mình tôi còn
sống, tôi phải thận trọng tất cả những gì làm bằng chứng cho hành
vi chính trực của mình. Do đó xin bà phái người hoặc bà đích thân
đến Arkhangelsk để nhận các thứ trên, bởi vì tôi còn phải nằm ở
nhà thương này ít nhất cũng là ba tháng nữa. Tôi mong thư trả lời
của bà.
Xin gửi bà lời chào kính trọng và luôn luôn sẵn sàng hầu bà.
Hoa tiêu tàu viễn hành I. Klimov”
Địa chỉ đề thư đã bị nước thấm nhòe nhưng vẫn còn có thể
thấy được, địa chỉ ấy cũng viết bằng nét chữ cứng cáp, thẳng tắp
trên chiếc phong bì giấy dày đã ngả màu vàng.
Đối với tôi, bức thư ấy cứ như một thứ kinh cầu nguyện – tối
nào tôi cũng nhẩm đi nhẩm lại trong lúc chờ cha tôi đi làm về.
Cha tôi ở bến tàu về rất khuya. Giờ đây tàu thủy ra vào hàng
ngày và không chở đay gai, bột mì như trước nữa mà toàn chở
những hòm đạn và phụ tùng súng ống nặng trình trịch.
Cha tôi người đẫy đà, vạm vỡ, ria mép rậm, đầu đội chiếc mũ
dạ con và mặc quần vải bạt. Mẹ tôi nói luôn mồm còn cha thì cứ
lặng thinh ngồi ăn, thỉnh thoảng ho vài tiếng và vuốt bộ ria. Sau
đó cha dắt các con – tôi và em gái tôi – lên giường đi ngủ. Từ
người cha tỏa ra mùi bao tải, khi thì mùi táo, mùi bột mì, có khi
lại là mùi hôi của dầu máy. Tôi còn nhớ cái mùi đó đã làm cho
tôi phát ngán.
Có lẽ chính trong cái đêm bất hạnh ấy khi nằm cạnh cha tôi,
lần đầu tiên tôi đã nhận xét một cách có ý thức về tất cả mọi vật
chung quanh. Một căn phòng nhỏ hẹp với cái trần thấp lè tè dán
giấy báo. Bên dưới cửa sổ có một khe hở lớn và qua đó gió từ
ngoài sông lùa vào. Đó là ngôi nhà của chúng tôi. Một người đàn
bà xinh đẹp, da ngăm đen để xõa tóc đang nằm ngủ trên hai
chiếc bao tải nhét đầy rơm đặt dưới đất, đó là mẹ tôi. Đôi bàn
chân trẻ con nhỏ bé thò ra ngoài cái chăn rách tả tơi, đó là chân
em gái tôi. Một thằng bé gầy gò đen đủi, mặc chiếc quần rộng
thùng thình, run rẩy bò từ trên giường xuống và rón rén đi ra
sân – đó là tôi.
*
* *
Địa điểm thích hợp đã được chọn sẵn. Dây dợ chuẩn bị đầy đủ
rồi, đến cả củi khô cũng đã chất đống sẵn ở cạnh Prolom, chỉ còn
thiếu có miếng thịt thiu nữa là có thể đi câu tôm biếc được thôi.
Đáy con sông ở chỗ chúng tôi màu sắc sặc sỡ cho nên tôm ở đây
cũng lắm màu nhiều vẻ. Con thì đen, con thì xanh màu lá cây,
con thì vàng. Những loại tôm này cứ đốt lửa lên là chúng sẽ đến
và dùng nhái con làm mồi mà câu cũng được. Nhưng con tôm
biếc thì chỉ có thịt thiu mới câu được, về điểm này, tất cả bọn trẻ
con đều khẳng định như vậy. Mãi hôm qua mới gặp may: tôi
xoáy được của mẹ tôi một miếng thịt, đem ra phơi nắng suốt
một ngày. Bây giờ nó đã thối rữa ra rồi, chẳng cần phải cầm cũng
đã thấy rõ.
Tôi chạy thật nhanh dọc theo bờ sông đến Prolom. Ở đây đã
chất sẵn củi để đốt lửa. Từ xa đã có thể nhìn thấy hai cái tháp:
bờ bên này là tháp Pokrovskaya, còn bờ bên kia là tháp
Spasskaya. Sau khi nổ ra chiến tranh, tháp Spasskaya được dùng
làm kho chứa da của quân đội. Petya Skovorodnikov quả quyết
rằng ngày xưa trong tháp Spasskaya có ma và chính mắt cậu ta
đã nhìn thấy lũ ma bơi từ bờ bên kia sông sang bờ bên này của
chúng tôi. Sau khi sang sông, lũ ma đánh đắm thuyền đi và kéo
nhau vào sống ở trong tháp Pokrovskaya. Cậu ấy còn cam đoan
rằng lũ ma rất thích hút thuốc lá và uống rượu. Đầu chúng nhọn
hoắt và trong bọn chúng có nhiều đứa thọt chân bởi vì chúng
rơi từ trên trời xuống. Lũ ma ở trong tháp Pokrovskaya ngày
càng sinh sôi nảy nở và mỗi khi đẹp trời là chúng lại lẻn vào bờ
ăn cắp thuốc lá của những người đánh cá buộc vào lưới để cúng
thủy thần.
Tóm lại là khi tôi nhìn thấy một bóng đen gầy gò ở chỗ bức
tường hổng trong lúc đang thổi lửa thì tôi cũng chẳng lấy gì làm
ngạc nhiên cả.
- Nhóc con, mày làm gì ở đây? – Con ma hỏi tôi y như người
vậy.
Nếu lúc đó tôi nói được tôi cũng không trả lời nó. Tôi cứ nhìn
nó trừng trừng và run bắn người lên.
Đúng vào lúc đó mặt trăng ló ra khỏi đám mây nên có thể
nhìn thấy người lính canh đang đi lại chung quanh kho chứa da
của quân đội ở bờ sông bên kia, dáng to lớn, đẫy đà, lưng đeo
khẩu súng trường chĩa nòng lên trời.
- Câu tôm à?
“Con ma” nhẹ nhàng nhảy xuống và đến ngồi bên đống lửa.
- Sao cứ câm như hến thế, thằng ngốc? – Nó hỏi lại, giọng cục
cằn.
Không, đó không phải là ma! Đó chính là một người gầy còm
hốc hác, đầu không mũ, gã cầm cái gậy con, luôn tay đập gậy
vào chân mình. Tôi không nhìn kỹ mặt gã, nhưng tôi cũng nhận
ra ngay là gã mặc có mỗi chiếc áo vét lên mình trần và dùng một
chiếc khăn choàng thay cho áo sơ-mi.
- Sao, mày không muốn nói chuyện với tao à, thằng khốn? –
Gã lấy gậy chọc chọc vào người tôi mấy cái. – Thế nào, trả lời đi!
Trả lời đi! Không thì…
Không đứng dậy, gã nắm luôn lấy chân tôi kéo tới chỗ gã. Tôi
ú ớ.
- À, thì ra mày vừa câm vừa điếc!
Gã bỏ tôi ra và cứ ngồi mãi, tay cầm gậy chọc vào đống than.
- Cái thành phố hay thật, – gã nói vẻ chán chường. – Nhà nào
cũng có chó; bọn cảnh sát như bầy thú dữ. Một lũ ăn tôm khốn
kiếp!
Gã bắt đầu chửi rủa.
Nếu tôi biết sau đó một tiếng đồng hồ việc gì sẽ xảy ra thì dù
tôi không thể nói lại với người khác một lời nào, tôi cũng sẽ cố
gắng nhớ lấy tất cả những lời gã nói. Gã chửi rủa mãi, thậm chí
nghiến răng nghiến lợi lại mà nhổ một bãi nước bọt vào đống
lửa. Sau đó gã im lặng ngửa đầu lên ngồi bó gối. Tôi liếc nhìn và
nếu gã không đáng ghét như vậy thì có lẽ tôi cũng đã thương hại
gã.
Bỗng gã đứng phắt dậy. Vài phút sau gã đã ở trên chiếc cầu
phao – chiếc cầu này do quân lính mới bắc – sau đó thoáng thấy
bóng gã bên bờ bên kia rồi mất hút.
Đống lửa của tôi tắt ngấm. Nhưng dù không có ánh lửa tôi
vẫn thấy rõ là tôi đã câu được rất nhiều tôm, nhưng trong đó
không có con tôm biếc nào cả. Toàn là những con tôm đen
thông thường chẳng lấy gì làm to lắm. Đem những con tôm này
đến bán ở quán rượu chỉ được một cô-pếch[2] một đôi.
Gió lạnh từ đâu phía sau thổi tới cứ lùa vào ống quần của tôi,
tôi bắt đầu thấy lạnh cóng. Phải về thôi! Lần cuối cùng tôi quăng
dây câu có sẵn mồi thịt thiu xuống nước thì thấy người lính gác
ở bờ sông bên kia đang chạy xuống dốc. Tháp Spasskaya đứng
sừng sững trên con sông. Từ tháp đến bờ sông là một cái dốc rải
đá. Trăng sáng vằng vặc, trên dốc chẳng có một bóng người nào
cả. Vậy mà không hiểu tại sao người lính gác lại vừa chạy vừa bỏ
súng ra khỏi vai.
- Đứng lại!
Người lính không bắn mà chỉ lên đạn. Ngay lúc đó tôi nhìn
thấy rõ người đang bị rượt theo trên cầu phao, sở dĩ tôi phải viết
thận trọng như thế là vì cho đến giờ tôi cũng không dám khẳng
định rằng đó chính là người trước đây một tiếng đồng hồ đã
ngồi bên cạnh đống lửa của tôi. Song hình như giờ đây tôi vẫn
còn nhìn thấy cái cảnh thế này: bờ sông tĩnh mịch, con đường
sáng ánh trăng như rộng thêm ra chạy thẳng từ chỗ tôi đến
những chiếc xà-lan đầu cầu phao và hai cái bóng đen dài của
những người đang chạy trên cầu.
Người lính gác chạy nặng nề và có một lần phải đứng lại để
thở. Song người chạy trước rõ ràng lại còn nhọc nhằn hơn, bởi vì
có lúc bỗng nhiên gã ngồi thụp xuống bên thành cầu. Người lính
gác chạy tới chỗ gã, thình lình kêu lên một tiếng rồi ngã vật ra
đằng sau – có lẽ bị đánh bất ngờ từ dưới lên. Người lính nằm vắt
trên thành cầu rồi từ từ tuột xuống. Lúc đó tên hung thủ đã biến
mất sau bức tường pháo đài.
Không hiểu tại sao đêm hôm đó lại không có ai canh gác cầu
phao: trong chòi gác trống không mà chung quanh cũng chẳng
có người nào. Chỉ có mỗi mình người lính gác nằm nghiêng ở đó,
hai tay vươn ra phía trước. Một miếng da to tướng văng ra bên
cạnh. Lúc tôi sợ quá run bắn người lên đi đến gần thì thấy người
lính ngáp một cách chậm chạp. Sau nhiều năm tôi mới biết rằng
có nhiều người cũng ngáp trước khi chết. Đoạn người lính thở
một hơi rõ dài, dường như khoan khoái, rồi tất cả lại trở nên
tĩnh mịch.
Chẳng biết làm gì hơn, tôi cúi xuống nhìn rồi chạy đến chòi
gác xem – lúc đó tôi mới biết trong chòi gác không có người, thế
là tôi lại quay về chỗ người lính. Tôi không kêu lên được, không
phải vì hồi ấy tôi bị câm mà chính là vì sợ quá. Đúng lúc ấy từ
trên bờ có tiếng người nói, tôi cắm đầu chạy về chỗ câu tôm vừa
rồi. Sau này tôi cũng chẳng bao giờ lại chạy nhanh đến thế, thở
không ra hơi, đau tức cả ngực. Tôi cũng chẳng kịp lấy cỏ đậy giỏ
tôm vì khi về đến nhà thì tôm rơi mất một nửa. Lúc đó còn chú ý
gì đến tôm nữa!
Tôi lẳng lặng hé cửa, tim đập thình thịch. Trong gian phòng
duy nhất của chúng tôi tối om om, mọi người đang ngủ ngon
lành, chẳng ai biết tôi lén ra đi rồi lại trở về. Một phút sau tôi lại
nằm lên chỗ cũ cạnh cha tôi. Nhưng mãi tôi vẫn không tài nào
chợp mắt được. Trước mắt tôi lại hiện ra chiếc cầu phao dưới
ánh trăng vằng vặc và hai cái bóng đen dài đang chạy.
Chương 2
Cha
Sáng hôm sau có hai chuyện làm cho tôi rất buồn.
Chuyện thứ nhất là mẹ tôi đã phát hiện thấy tôm và đã đem
luộc hết. Thế là hai mươi cô-pếch của tôi coi như đi tong, hy
vọng mua lưỡi câu và con cá mồi[3] mới cũng tiêu tan. Chuyện
thứ hai là tôi đánh mất con dao nhíp. Thực ra thì con dao này là
của cha tôi, vì lưỡi dao bị gãy nên cha mới cho tôi. Tôi đã đi tìm
khắp trong nhà, ngoài sân mà chẳng thấy, tựa như nó đã chui
tọt xuống đất mất tăm.
Tôi loay hoay như thế cho đến tận mười hai giờ là lúc tôi phải
mang cơm trưa ra bến tàu cho cha tôi. Đem cơm trưa cho cha là
nhiệm vụ của tôi và tôi rất tự hào về nhiệm vụ này.
Hiện nay bến tàu ở bờ sông bên kia, còn bờ bên này là con
đường phố lớn hai bên trồng bồ đề. Cho đến nay những cây bồ
đề này vẫn được cả thành phố chúng tôi yêu thích. Hôm đó, khi
tôi xách cái túi đựng hộp canh đỗ và khoai tây mang đến cho
cha tôi thì thấy trên đại lộ này có rất nhiều lán cho công nhân,
dọc theo tường pháo đài có những bao tải và túi vải đựng bột mì
chất cao từng đống; những tấm gỗ to rộng bắc từ xà-lan lên bờ,
những người công nhân khuân vác luôn miệng hét: “Tránh ra
này”! – Họ đẩy những chiếc xe gỗ chất đầy hàng chạy từ xà-lan
xuống. Tôi còn nhớ nước sông ở bến tàu nổi váng ánh lên nhiều
màu sặc sỡ, những cái cọc gỗ để buộc tàu đã bị mòn vẹt, mùi cá
tanh, mùi hắc ín, mùi bao tải lẫn lộn với nhau nồng nặc.
Lúc tôi tới bến tàu, mọi người vẫn còn đang làm việc. Có một
chiếc xe đẩy bị kẹt bánh giữa khe ván cầu, làm cho việc đi lại từ
xà-lan lên bờ bị gián đoạn. Những người đằng sau chửi mắng
ầm ĩ. Hai người đẩy xe nằm đè lên chiếc xà beng, ra sức đẩy
chiếc xe bị kẹt bánh lên để đặt vào đường xe đi. Lúc đó cha tôi
đủng đỉnh vòng qua người họ. Ông nói câu gì đó rồi cúi xuống…
Tôi cứ nhớ mãi dáng điệu của cha lúc đó: khuôn mặt to tròn có
ria rậm, đôi vai to rộng, cha nhấc chiếc xe đẩy chở đầy hàng rất
nặng ấy lên một cách nhẹ nhàng. Sau này không bao giờ tôi còn
được thấy cha tôi như thế nữa.
Cha vừa ăn cơm vừa nhìn tôi – “Thế nào, Sanya?” – Lúc đó
trên bến tàu hiện ra viên cảnh sát trưởng béo phị và ba tên cảnh
sát nữa. Một tên gọi “ông bác” đến – mọi người đều gọi bác trùm
phường bốc vác ở đây như vậy – và nói với bác điều gì đó. “Ông
bác” hốt hoảng kêu lên một tiếng; làm dấu thánh giá rồi cả mấy
người cùng đến chỗ chúng tôi.
- Anh là Ivan Grigoriev? – Tên cảnh sát trưởng hỏi và đưa
thanh kiếm ra sau lưng.
- Chính tôi.
- Bắt lấy hắn! – Tên cảnh sát trưởng hét lên, mặt tím bầm. –
Hắn bị bắt!
Mọi người xôn xao. Cha tôi đứng dậy. Tất cả lặng im.
- Vì sao?
- Tội gì thì đến chỗ tao mày sẽ rõ! Bắt hắn đi!
Bọn cảnh sát đi đến chỗ cha tôi và túm lấy hai tay. Cha tôi khẽ
lắc vai một cái – bọn chúng nhảy lùi lại mấy bước, một tên cảnh
sát vội vàng rút kiếm.
- Bẩm quan lớn, thế này là thế nào ạ? – Cha hỏi. – Vì sao lại bắt
tôi? Tôi chẳng phải là ai xa lạ, mọi người đều biết tôi.
- Không đâu, chú mày ạ, mọi người còn chưa biết hết về chú
mày đâu, – tên cảnh sát trưởng bác lời. – Mày là quân ăn cướp.
Giải hắn đi!
Bọn cảnh sát lại vây lấy cha tôi.
- Này thằng ngốc, đừng có ngoe nguẩy cái con cá mòi ấy, – cha
khẽ nói qua kẽ răng với tên cảnh sát vừa rút kiếm ra. – Bẩm
quan, tôi là người có nhà có cửa, tôi làm việc ở bến tàu này đã
hai mươi năm nay. Tôi đã làm điều gì xấu xin ngài nói hết cả ra
để cho mọi người đều biết, rốt cuộc tôi đã phạm tội gì mà bị bắt.
Nếu không mọi người sẽ cho tôi là kẻ cướp thật!
- Hừ, mày còn giả vờ hả, làm như ông thánh ấy! – Tên cảnh sát
trưởng hét lên. – Tao còn lạ gì chúng mày! Nào! Hừ!
Bọn cảnh sát có vẻ còn lưỡng lự.
- Nào!
- Thưa quan, hãy chờ cho một tí, tôi sẽ tự đi được, – cha nói. –
Sanya… – Cha cúi xuống bảo tôi. – Sanya, chạy mau về nhà báo
cho mẹ… À, tao quên mất, mày là…
Cha tôi muốn nói rằng tôi bị câm, nhưng Người lại im. Từ xưa
đến nay chưa bao giờ cha nói đến tiếng này. Như thể cha tôi vẫn
còn hy vọng rằng có một ngày nào đó tôi sẽ nói được. Ông nín
lặng và nhìn chung quanh.
- Tôi sẽ dẫn nó về, ông Ivan ạ, – bác trùm phường nói. – Ông
cứ yên tâm.
- Bác Misha, bác đi hộ nhé. À, còn… – Cha tôi rút ra ba rúp đưa
cho bác trùm phường. – Nhờ bác chuyển cho nhà tôi. Thôi, xin
từ biệt!
Mọi người đồng thanh chào lại cha tôi.
Ông xoa đầu tôi và nói:
- Đừng khóc, Sanya!
Thế mà tôi không biết là mình đang khóc.
Giờ đây tôi nhớ lại cảnh khi mẹ tôi biết tin cha tôi bị bắt mà
rùng mình. Mẹ không khóc, nhưng khi bác trùm phường vừa đi
khỏi, mẹ liền ngồi lên giường, nghiến chặt răng mà đập mạnh
đầu vào tường. Tôi và em gái khóc rống lên mà mẹ tôi cũng
không ngoái cổ lại. Bà lắp bắp nói gì đó và cứ đập đầu vào tường.
Sau đó mẹ tôi đứng dậy, trùm khăn lên đầu rồi đi ra ngoài.
Dì Dasha lo liệu cho chúng tôi suốt ngày hôm đó. Chúng tôi đi
ngủ. Thực ra chỉ có em gái tôi ngủ thôi, còn tôi nằm đấy, hai mắt
mở thao láo và suy nghĩ… Trước hết là nghĩ về cha tôi, nhớ lại
lúc ông chào từ biệt mọi người. Rồi tôi lại nghĩ đến tên cảnh sát
trưởng béo phị, nghĩ đến thằng con trai nó mặc quần áo lính
thủy. Tôi đã nhìn thấy thằng bé ấy ở trong vườn nhà tỉnh
trưởng. Rồi tôi lại nghĩ đến chiếc xe đạp ba bánh của nó. Thằng
bé này thường đi chiếc xe đạp ấy, – giá tôi mà có được chiếc xe
đạp con ấy! – Cuối cùng khi mẹ tôi về thì tôi chẳng nghĩ gì nữa.
Mẹ tôi bước vào nhà, người đen sạm, gầy tọp đi và dì Dasha chạy
đến chỗ mẹ…
Không hiểu sao tự nhiên tôi lại cảm thấy hình như cha tôi đã
bị cảnh sát chém chết. Tôi nằm yên bất động như vậy hồi lâu,
đau đớn lặng người đi và chẳng nghe thấy gì nữa. Sau đó tôi mới
rõ là cha còn sống, nhưng bọn cảnh sát không cho mẹ tôi vào
gặp ông. Mẹ nhắc đi nhắc lại ba lần rằng cha bị bắt vì tội giết
người, – ban đêm người lính gác bị giết trên chiếc cầu phao. –
Bây giờ tôi mới đoán rằng cái đêm mà mẹ nói chính là đêm vừa
qua, còn người lính gác là người lính gác ấy và cái cầu phao cũng
chính là cái cầu phao mà người lính gác nằm duỗi hai tay ra. Tôi
vùng bật dậy chạy bổ đến chỗ mẹ và hét ầm lên. Mẹ ôm chặt lấy
tôi: có lẽ mẹ tưởng là tôi sợ quá. Nhưng đấy chính là tôi đang
“nói” đấy…
Trời, giá mà lúc đó tôi không bị câm!
Tôi rất muốn nói lại toàn bộ câu chuyện. Tôi đã lén chạy ra
câu tôm ở sông Peschinka như thế nào, đã nhìn thấy một con
người bất chính tay cầm cây gậy từ chỗ lỗ hổng của bức tường
quanh pháo đài đi ra và hắn đã nghiến răng nghiến lợi chửi bới
như thế nào, sau đó hắn nhổ một bãi nước bọt như thế nào vào
đống lửa rồi chuồn ra sao. Song đối với một đứa trẻ lên tám tuổi
bập bẹ chỉ biết nói được đôi ba tiếng ú ớ thì việc kể lại những
điều đó thật là một việc làm quá khó khăn.
- Bọn trẻ sợ hết hồn rồi! – Dì Dasha thở dài.
Khi đó tôi im tiếng và nhìn mẹ tôi, tưởng rằng bây giờ thì tất
cả đã rõ ràng.
- Không, hình như nó muốn nói gì. Con có biết chuyện gì
không, hở Sanya?
Ôi, giá như tôi không bị câm! Tôi bắt đầu thuật lại, dùng tay
ra hiệu… Mẹ là người hiểu tôi hơn ai hết, thế mà lần này tôi lại
hoàn toàn thất vọng vì thấy rằng chính mẹ cũng không hiểu
được tí gì cả. Hiểu thế nào được! Sự việc xảy ra trên cầu phao
làm sao mà giống được cái cảnh một thằng bé gầy còm đen đủi,
trên mình chỉ mặc mỗi chiếc sơ-mi đang lồng lộn chạy quanh
nhà, khi thì nằm lăn ra giường ý muốn nói rằng đêm ấy cha đã
ngủ say như thế nào, khi lại nhảy lên ghế, giơ hai nắm tay lên
trước mặt dì Dasha đang chẳng hiểu đầu đuôi ra sao.
Cuối cùng dì Dasha làm dấu thánh cho tôi.
- Tụi trẻ con đã đánh nó.
Tôi lắc đầu.
- Nó đang kể lại chuyện cha nó bị bắt đấy, – mẹ nói. – Kể lại
chuyện bọn cảnh sát đã xông vào đánh cha nó. Có đúng không,
Sanya?
Tôi không nhịn được nữa, gục đầu lên đùi mẹ khóc òa lên. Mẹ
bế tôi lên giường, tôi nằm mãi, lắng nghe xem hai người nói
những gì và suy nghĩ xem làm thế nào có thể nói lên được điều
bí mật phi thường này của tôi.
Chương 3
Chạy chọt
Nếu sáng hôm sau mẹ tôi không ốm thì chắc chắn tôi sẽ tìm
được cách trình bày cho ra sự việc này. Xưa nay mẹ tôi vốn là
người thất thường, nhưng kỳ lạ như lần này thì tôi chưa bao giờ
thấy.
Trước đây khi nào mẹ đột nhiên đứng cạnh cửa sổ hàng tiếng
đồng hồ hoặc đang đêm mà mẹ nhảy từ trên giường xuống,
mình mặc mỗi chiếc áo cánh ngồi cạnh bàn suốt đêm là cha
phải đưa mẹ về nhà quê nghỉ mấy...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





