CHÀO XUÂN MỚI
Song Huong 30 Nam - Nhieu Tac Gia

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:33' 28-04-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:33' 28-04-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging–in–Publication Data
Nhiều tác giả
Tuyển truyện ngắn Sông Hương 30 năm (1983–2013) / Nhiều tác giả ; Hồ Đăng Thanh
Ngọc ... [và nh.ng. khác] tuyển chọn. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ ; Huế : Thuận Hóa, 2013.
960tr. ; 23cm.
1. Truyện ngắn Việt Nam -- Thế kỷ 21. 2. Văn học Việt Nam -- Thế kỷ 21. I. Hồ Đăng
Thanh Ngọc.
1. Short stories, Vietnamese -- 21st century. 2. Vietnamese literature -- 21st century.
895.92234 -- dc 22
T968
Ban tuyển chọn: HỒ ĐĂNG THANH NGỌC HOÀNG VIỆT HÙNG NHỤY NGUYÊN
Tạp chí Sông Hương chịu trách nhiệm về quyền tác giả
tất cả các truyện ngắn sử dụng trong tuyển tập này.
Lời giới thiệu
Trong bộ sách kỷ niệm 30 năm Sông Hương, riêng tập tuyển truyện ngắn được
chọn xuyên suốt trong 30 năm chứ không phải chỉ 10 năm như các tuyển khác.
Ngoài mảng “rất Huế” được duy trì từ lúc tạp chí mới ra đời cho đến nay là “Huế
- dòng chảy văn hóa”, Sông Hương ghi được dấu ấn trong lòng bạn đọc phải kể
đến ba mảng chính: văn, thơ, lý luận phê bình. Trong đó truyện ngắn luôn được
xem như “xương sống” của mỗi số báo, nhất là mươi năm trở lại đây.
Trong dịp kỷ niệm 20 năm, Sông Hương đã có tuyển Văn dày trên 500 trang
khổ 16x24cm gồm 50 truyện ngắn. Nếu so với 20 năm Sông Hương, thì 10
năm sau này lượng truyện hay tăng lên. Năm 2009, hơn chục truyện ngắn tốt
rải đều trong các số Sông Hương như: Hoa gạo đỏ, Một bước sau quận công,
Cái chết của Rối, Một lát cắt,... đủ để có được một tập truyện đa sắc, hấp dẫn.
Hoặc trong năm 2011, có số báo đến 3 truyện ngắn được tuyển vào tập này:
“Người đọc sẽ đến với một thế giới hiện thực thậm phồn trong sự hỗn chứa hiện
thực trần trụi và những hoang tưởng phi lý, thậm chí hướng tới những dự cảm
trong chiều sâu vô thức nội cảm qua truyện ngắn Ngày cuối cùng của một diễn
viên hài. Bên cạnh đó, Vòng luân hồi của chữ là những mảnh ghép bị đảo lộn
Lờ i g i ớ i t h i ệ u
5
như chính những nhân vật trôi lăn trong luân hồi vẫn không nhận ra kiếp mình.
Và những ám ảnh của con người khi bị ném vào một quái trạng bất khả cứu rỗi
trong Tôi đã nôn ra những đứa trẻ”. (Lời giới thiệu Sông Hương số 269).
Có một điều hơi khác biệt, là chúng tôi đã chủ động chọn lại một số truyện
không có trong Tuyển 20 năm, như Niết bàn bốc cháy (Đoàn Lê), Dịch quỷ sứ
(Tạ Duy Anh), Cún (Nguyễn Huy Thiệp), Người đoán mộng giỏi nhất thế gian
(Phạm Thị Hoài), Qua sông (Cung Tích Biền) v.v... Nhiều tác giả có từ một đến vài
ba truyện ngắn khá trong bộ tuyển Văn 20 và rải rác trên Sông Hương suốt 30
năm, tiếc là do số lượng trang có hạn nên đành phải... gác lại.
Như vậy, chúng tôi không có ý đưa ra một tiêu chí rõ rệt nào ngoài việc chọn
những truyện ngắn khá và hay để không phụ lòng độc giả. Có chăng đó là sự
chú ý trước hết đến các tác giả ở Huế (vẫn trừ ra một số tác giả góp mặt ở trong
tuyển Văn 20). Đó là một Trần Thùy Mai nhẹ nhàng, sâu lắng mà vẫn đầy phức
cảm trong không gian Huế xưa với Trăng nơi đáy giếng; Việt Hùng vẽ Biếm họa
về hạnh phúc gia đình; Những bước chân bên ngoài khe hở là nhân vật chính
của vở bi hài kịch do tác giả Hoàng Trọng Định dàn dựng; Trần Hạ Tháp bày ra
Thế trận linh xà để làm nổi lên chí khí người anh hùng áo vải; Thím Thoải của
Nguyễn Xuân Hoàng khắc khoải nỗi buồn thiếu phụ; Phạm Xuân Phụng “trong
vai” một nhà tâm lý xuyên sâu vào những ẩn ức đẫm tính nhân văn của chú vịt
Mê-sa-li, câu chuyện bên hồ; Hiện thực phũ phàng như tiếng chuông rung lên
trước đạo đức suy đồi được diễn ra âm thầm mà quyết liệt ở Gã kéo chuông nhà
thờ của Thái Ngọc San; Dương Thành Vũ đưa ta về không gian của thời bao cấp
khổ lụy trong Giếng trăng với vài phận đời bi đát và chỉ có thể đi vào ngõ cụt!;
Nguyên Quân tìm chân lý qua Chuyện từ thời chiến: người mẹ anh hùng có một
bàn tay vỗ về đứa con của mình đã hy sinh, và một xoa dịu dòng sám hối của
người lính ngụy...
6
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
So với những tờ báo luôn chào đón “hàng độc” với mức nhuận bút hấp dẫn mà
Sông Hương vẫn hút được nhiều truyện ngắn hay và mới, chứng tỏ nhiều tác
giả có nghề vẫn rất mến mộ Sông Hương. Nhờ đó tuyển tập này dung hợp được
nhiều phong cách. Có truyện như là sự thấm tháp nỗi đời của nhà văn sau bao
nhiêu năm trăn trở. Đơn cử trường hợp của nữ nhà văn Dạ Ngân: nghỉ việc công
sở, trở về tổ ấm của mình lặng lẽ “chép” lại những vết son trên chặng đời đã
qua. Truyện là góc nhìn rất hẹp về chiến tranh song mở ra trước độc giả nhiều
ngã rẽ với một Xuân nữ lỡ mang kiếp đào hoa, mà bạc phận cho những người
đàn ông từng “hành quân” qua cuộc đời chị. Nhức nhối bởi lương tâm bại hoại
của những con người vốn là ruột rà với nhau được lột tả trong Kịch độc. Người
viết đã “tiêm” những rung cảm lạ lùng vào miền hoang mê của lương tri đồng
loại. Những truyện ngắn khác của Bảo Ninh (Bằng chứng), Lê Minh Khuê (Sống
chậm), đọc liền thấm nỗi đau đời như của chính mình chứ không còn là của nhân
vật nữa. Song hành với hơi thở truyền thống là mạch ngầm hiện đại, như Đất
không lối vào của Hạo Nguyên, Mê cung của Nhật Chiêu, Những bức ảnh của Lê
Minh Phong; Sóng ngoài khơi của Khánh Phương, hay Một bước sau quận công,
một dạng tiểu-luận-truyện rất đặc biệt của nhà văn Hồ Anh Thái.
Mong muốn lớn nhất của chúng tôi qua tuyển tập này là nhiều tác phẩm một
lần nữa được vinh danh; để tác giả của nó thêm tin tưởng và lại dành cho Sông
Hương những tác phẩm tâm đắc.
BAN TUYỂN CHỌN
Lờ i g i ớ i t h i ệ u
7
T H Á I
N G Ọ C
S A N
Gã kéo chuông nhà thờ
(SH số tháng 2 - 1983)
m
ới nhìn qua, gã có vẻ hung dữ, một người làm người khác luôn
luôn phải cảnh giác trước khi đến gần. Một vết sẹo chạy từ đỉnh trán bẻ
quặt xuống khóe mắt phải như muốn kéo con mắt gã ra khỏi tròng. Đôi
môi dày nứt nẻ, tím đen mở toang hoác giơ cả hàm răng vàng khè nhựa
bẩn. Một chân gã bị quẹo, không phải do cố tật mà vì bị một miểng pháo
xuyên qua xương đầu gối, làm gã đi đứng rất khó nhọc, từng bước bật
nhún như chiếc lò xo. Tuy vậy, chỉ có vết sẹo mới làm người khác chú
ý, còn cái chân, vì gã luôn ngồi một chỗ nên ít ai biết gã có tật; với lại,
cái nghề gã đang làm cũng ít khi phải sử dụng đôi chân. Cũng thật buồn
cười, một người như gã lại chọn làm cái nghề mà chỉ có phụ nữ mới có
đủ đức tính cần thiết để làm: Chằm nón.
Không hẳn sự chọn lựa nghề nghiệp như vậy là do phản ứng tâm lý,
một lối thích ứng trước cuộc đời mà gã buộc phải chấp nhận sau ngày
giải phóng. Thực ra, cũng thật khó khăn cho gã, từ trước đến nay gã
chẳng biết nghề ngỗng gì. Học hành mới được năm ba chữ, theo không
nổi, bỏ ngang đi chơi lêu lổng. Đi chơi lêu lổng, chán, đầu quân đi lính.
Đi lính, rồi đào ngũ, rồi lại đi lính cho đến khi bị hai miểng pháo ôm
Gã kéo chuông nhà thờ
9
tấm thân tàn tật trở về. Hai năm trước giải phóng còn ít đồng lương phế
binh, với lại gia đình gã cũng chưa đến nỗi nào phải lo toan từng bữa.
Gã còn một đứa em trai là sĩ quan ngụy đã có vợ con ở Đà Nẵng. Thằng
này làm quân nhu, nên hàng tháng đều có gởi tiền chu cấp cho mẹ gã.
Ngoài ra, gã còn một đứa em gái đến nay đã quá tuổi lấy chồng nhưng
chưa có chồng, ở nhà chằm nón. Mẹ gã đang gần đất xa trời. Trước đây,
khi bố gã mới chết và anh em gã còn chưa thành người, bà còn buôn bán
lặt vặt chợ chiều, chợ mai. Sau này, khi có tiền chu cấp của thằng con ở
Đà Nẵng, bà bỏ tất cả, chỉ lo kinh nguyện ở nhà thờ. Bà là một con chiên
ngoan đạo. Đến ngày giải phóng, cuộc sống gia đình gã đảo lộn như bị
một đòn sấm sét. Thằng em gã biệt vô âm tín: có thể hắn và gia đình đã
rữa thây ngoài đại dương; cũng có thể đang lưu lạc ở một bang nào đó
trên nước Mỹ, thù ghét quê hương, hận lây cả gia đình, không thèm viết
thư. Thế là, không biết tự lúc nào, gã mày mò học đứa em gái nghề chằm
nón. Và giờ đây, gã nghiễm nhiên trở nên một thành viên lao động tự do
của địa phương, một lao động, nếu gạt ra ngoài những định kiến và tiêu
chuẩn xã hội này khác, có thể xem là mẫu mực, cần được biểu dương.
Gã tên là Hùng, nhưng từ khi gã bị tàn phế, dân trong địa phương
thêm đằng sau một cái đuôi: quẹo. Hùng - quẹo. Còn người quen gã ở
ngoài giáo xứ thì gọi gã là Hùng-nhà-thờ, vì gã ở sát nách nhà thờ, đối
diện với nhà cha xứ. Suốt ngày, từ chỗ Hùng quẹo ngồi chằm nón, có
thể thấy tất cả sinh hoạt trong nhà cha xứ, nếu cửa mở. Và, không hiểu
sao, từ trước đến nay, khi bắt đầu chính thức chằm nón, gã chỉ ngồi một
chỗ ấy. Gã kê một cái đòn thấp trước mái hiên, dựa lưng vô vách, đặt cái
khung nón giữa hai vòng chân và chăm chỉ kéo từng mũi kim nhanh
nhẹn cũng như bao nhiêu người khác. Trước kia, khi hai anh em chưa
xảy ra xung đột lớn thì những công việc linh tinh khác như chải ủi lá,
xây vành... đứa em gái gã làm giúp, nay một mình gã làm hết. Và, nếu
cái chân gã không đau, có khi gã còn làm nhiều hơn đứa em gái gã. Về
mùa mưa, gã ngồi trong nhà, nhưng cũng từ phía ấy ngay khung cửa sổ,
10
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
có thể nhìn thấy nhà cha xứ. Không rõ vì cái tàn cây trứng cá trước mái
hiên hay vì nhà cha xứ có cái gì hấp dẫn mà Hùng quẹo không chịu thay
đổi hướng ngồi.
Nếu có một điều gì đó về gã mà bà con trong họ đạo không bằng lòng
thì hẳn là điều này: Gã không còn đi nhà thờ nữa. Trong một gia đình
vốn nổi tiếng là ngoan đạo, điều ấy thường gây ra những mối lộn xộn.
Mẹ gã rủa gã là quỷ, còn đứa em gái thì coi thường anh ra mặt. Cha xứ
trước, một vị linh mục già hơi lẩm cẩm nhưng đáng kính, thường ghé lại
động viên khuyên năn gã. Những lúc ấy, Hùng quẹo chỉ nhăn răng khỉ ra
dạ dạ cho qua rồi thôi. Vị linh mục già nói nhiều lần không được cũng
nản. Ông bây giờ đã được chuyển về nhà hưu trí Tòa Tổng giám mục
sống những ngày cuối cùng ở trần gian cát bụi, không biết ông còn nhớ
để cầu nguyện cho gã hay không? Riêng đối với Hùng quẹo, thâm tâm
gã rất thương vị linh mục già, một ông cụ từ tâm không có gì đáng chê
trách. Nhưng gã không thể đi nhà thờ đọc kinh được nữa - Mất thì giờ,
vô ích, gã thường nói cộc lốc với mẹ gã như thế. Có lẽ cũng đúng như
thế thôi, theo cách nghĩ của Hùng quẹo, gã chẳng có gì để tin và cũng
chẳng có gì để không tin. Trước đây vì gia đình có đạo nên gã đi nhà thờ
đọc kinh theo thói quen. Lớn lên, những chìm nổi trong cuộc sống làm
những thói quen cũ, thời tuổi nhỏ tưởng là thiên liêng ghê gớm, tự nhiên
bay vèo không dấu vết. Gã không băn khoăn tiếc nuối, cũng chẳng đấu
tranh chọn lựa cái gì. Tự nhiên nó như thế.
Mọi thứ trong cuộc đời đều được sắp đặt đâu từ trước, như cái nhà
thờ, nhà cha xứ, cây trứng cá ngày ngày đứng chặn ngang trước mặt gã.
Gã không băn khoăn suy nghĩ về những gì quá xa xăm. Đôi khi quá cô
độc, vết thương đau nhức, gã lăn lộn như con chó bị đánh. Gã ngồi vít
thành cửa sổ, mồ hôi đổ nhễ nhại và con mắt kéo xếch lên trợn tròng.
Những lúc ấy, gã thật dữ tợn. Nhưng những cơn vật vã ấy qua đi rất
nhanh. Gã biết rằng cuộc đời gã đã được sắp đặt như thế nầy, có muốn
thay cũng không được. Tuyệt nhiên, chưa một lần gã có ý muốn tự tử,
Gã kéo chuông nhà thờ
11
ngay cả sau khi tỉnh dậy từ bệnh viện nhìn cái chân băng bột và khuôn
mặt mình trong gương. Trong nỗi đau đớn tuyệt vọng, gã vẫn còn sống.
Và thế là gã vẫn bám vào cuộc sống. Buổi sáng, gã thức dậy khi hồi
chuông đầu tiên nhà thờ đổ. Trong khi mẹ và em gái gã lục đục đi lễ
sớm, gã nằm thờ thẫn, có khi nhớ lung tung, có khi đầu óc trống rỗng
như cái gáo dừa úp trên vại nước. Gã thường ôn lại mảng đời cũ hồi ở
lính. Đối với gã, chỉ quãng đời ấy là đáng nhớ: nó đã để lại trong đời gã
nhiều kỷ niệm, nhục nhã cũng có mà oanh liệt cũng có. Lần thứ nhất
đầu quân, sau một thời gian bị hành nhục ở quân trường, gã bị ném ra
một đơn vị đóng ở một tiền đồn biên giới. Cực khổ và cái chết đe dọa
từng giờ làm gã sợ hãi không chịu đựng nỗi phải bỏ trốn. Nhưng về nhà
một thời gian gã biết rằng không thể nào sống được yên ổn, gã lại đầu
quân vào một sắc lính khác. Lần này thì gã đã có đủ kinh nghiệm, biết
luồn lách những cực hình ở quân trường, và biết đủ trò phá phách trác
táng sau những cuộc hành quân cực khổ, nguy hiểm. Rượu, gái... những
thứ ấy, giờ đây nhớ lại làm cho gã cực khổ. Đôi khi gã cảm thấy ngạt thở.
Cái thế giới vật chất đó đã bỏ rơi gã, kể từ khi mảnh pháo xéo qua mặt
và găm vào đầu gối gã. Con gái, đàn bà quen biết và cả không quen biết
ở trong họ đạo đã gạt phăng gã ra khỏi tầm nhìn của họ! Gã cũng chưa
có được một nửa mối tình nào để mà ôm ấp hoài niệm. Nếu còn tin ở
Chúa thì gã phải trách là Chúa quá bất công với gã. Bởi vậy, nhiều khi gã
muốn nổi loạn, văng tục, phá phách, muốn đốt cả làng cả xóm... Nhưng
gã không làm được. Bản chất gã vốn là một con người nhu nhược, một
kẻ dễ bị khuất phục bởi hoàn cảnh. Chỉ có một lần duy nhất gã trở nên
hung bạo như con thú dữ, đó là hôm đứa em gái gã dẫn lũ bạn bè nó về
nhà chơi sau buổi lễ ngày chủ nhật. Hùng quẹo thấy chúng nó đứa nào
cũng sồn sồn nói cười nhún nhảy trước mắt gã, làm gã ngứa ngáy khó
chịu. Bỗng dưng, gã không thể xỏ nổi một đường kim trên khung nón.
Gã bỗng thấy khát vọng điên cuồng. Đột nhiên miệng gã mở ra - (sau
nầy gã cũng không nhớ lúc đó gã đã nói những gì, hình như gã xỉa miệng
12
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
vào hỏi một câu gì đó thật vô duyên). Đám con gái thình lình như bị xô
dạt ra. Chúng in lặng trong một giây rồi bật lên những tiếng cười khúc
khích. Cơn khát vọng mê muội trong Hùng quẹo bỗng biến thành một
nỗi thù hằn khủng khiếp. Gã vùng dậy như một con hổ đói, ném phăng
cả cái khung nón vào đám con gái. “Đồ lũ ngựa cái mất dạy! Cút đi! Cút
đi!”. Đám con gái sợ hãi bỏ chạy tan tác, còn Hùng quẹo thì bổ sấp trên
thềm cửa thở hồng hộc như bị động kinh. Sau lần đó, không phải gã chỉ
hối hận mà còn đâm ra sợ hãi cả chính bản thân mình, gã không dám
nhìn thẳng vào bất kỳ phụ nữ nào đi qua trước mặt gã.
Căn nhà Hùng quẹo hình như được xây dựng lên một lần với cái nhà
thờ, có từ thời ông cố gã. Đó là một trong những nhà thờ được xây dựng
đầu tiên ở tỉnh, kiến trúc pha tạp nửa đình ta, nửa nhà tây. Nhà thờ từ
trước đến nay chưa thay đổi, chỉ có quét vôi lại. Nhà Hùng quẹo chỉ còn
cái nền cũ, còn mọi thứ khác đã thay qua đổi lại nhiều lần. Gia đình gã
đạo gốc và họ đạo nầy là một xứ toàn tòng. Thời gian Hùng quẹo lớn
lên, gã đã chứng kiến nhiều sự đổi thay, nhưng có một sự không hề thay
đổi: đó là những hồi chuông kinh nguyện sớm chiều. Bây giờ đây, dù tín
ngưỡng đã mất tiêu trong gã, nhưng mỗi lần nghe tiếng chuông rung,
cả tâm hồn cằn cỗi và đầy thương tích của gã cũng như được đánh thức.
Nhiều khi Hùng quẹo bỗng muốn la toáng lên cho tan những nỗi nhức
nhối phiền muộn.
Giáo xứ nằm bên cửa ngõ thành phố, một vùng xôi đậu nửa thành thị
nửa nông thôn. Trước giải phóng, một số ít giáo dân sống bằng nông
nghiệp, có lẽ họ là những người duy nhất chưa bị cuốn vào những cơn
lốc của thời thế. Đức tin vào Thượng đế và sự gắn bó với đất đai quyện
chặt làm một. Số còn lại dần dần lột bỏ gốc gác của mình, chuyển sang
buôn bán làm các nghề khác, trong đó không ít người giàu có nhờ chiếu
tranh. Và gần như gia đình nào cũng có người thân là sĩ quan, hạ sĩ quan,
binh sĩ, cảnh sát hoặc công chức của chế độ cũ. Bởi vậy có sự xáo trộn
Gã kéo chuông nhà thờ
13
lớn trong nếp sống, trong tư tưởng và tình cảm của bà con giáo dân ở
đây, khi giải phóng đến. Sự kiện đó như một cơn bão lớn ập tới bất ngờ,
có người lâu lắm vẫn chưa hết bàng hoàng.
Cuộc sống trước mắt, trước hết, tự nó đặt ra cho người ta những câu
hỏi phải trả lời, những công việc phải làm. Thế là, như một sự ngẫu
nhiên, những tổ hợp thêu ren, xay xát... ra đời. Rồi hợp tác xã tiêu thụ,
hợp tác xã nông nghiệp... Có những công việc mà trước đây chẳng bao
giờ người ta nghĩ tới, có khi còn tưởng là kinh khủng ghê gớm, bây giờ
bỗng nhiên trở thành bình thường, trở thành những vấn đề thiết yếu
của đời sống, gắn bó như máu với thịt, hợp với quy luật tự nhiên và chắc
chắn chẳng có gì gọi là trái với lời răn của thượng đế cả. Một số thói quen
cũ bắt đầu chết đi và một số thói quen khác đang hình thành.
Gia đình Hùng quẹo cũng không thoát khỏi sự xáo trộn nhất thời nói
trên. Ông cố gã là người địa phương, có lẽ theo đạo từ thời Tự Đức hoặc
Minh Mạng, thuở các vị giáo sĩ dòng Tên mới đặt chân lên đất cố đô cũ
truyền giáo. Thời ông nội gã, gia đình vẫn còn bám vào đất đai để sống.
Đến thời ông bố gã thì đoạn tuyệt hẳn với nhà nông, mấy sào ruộng bán
hết. Ông bố gã làm một viên chức quèn tại sở Công chánh, bị đau gan
chết khi đứa em gái gã mới lên năm. Ba anh em gã, chỉ có thằng em kế là
học hành được, cố gắng thi đỗ tú tài một, đi Thủ Đức trở thành sĩ quan.
Gã và đứa em gái đầu óc tối mù học hành chẳng được; gã học tới đệ lục
còn con em gái mới học đến lớp ba thì ở nhà. Bây giờ cũng may là gã vừa
học được cái nghề chằm nón để kiếm sống qua ngày.
Tin ông Mỹ, một linh mục trẻ nổi tiếng, sẽ chuyển về thay vị linh mục
già đã làm xôn xao trong giáo xứ. Sỡ dĩ như vậy vì ông Mỹ là một tác giả
chính trong một vụ xuyên tạc nói xấu chính quyền cách mạng, bị câu lưu
tạm giam hai tháng mới được thả ra. Trước khi bị giam giữ, ông Mỹ nắm
một chức vụ khá quan trọng trong giáo hội. Ông được thả ra sau khi các
vị có thẩm quyền trong giáo hội ở địa phương đứng ra bảo lãnh. Việc
14
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
đưa ông Mỹ về nhận chức tại một giáo xứ nhỏ là một trong những điều
kiện mà giáo hội địa phương đưa ra cam kết. Bởi vậy, đối với ông Mỹ, sự
“cưỡng bách cư trú” nầy chắc chắn sẽ không lấy gì làm vui.
Hùng quẹo cũng sốt ruột. Gã không thích gì miệng lưỡng của em gái
gã và đám bạn bè của nó đã tô vẽ chân dung ông Mỹ như một vị anh
hùng trong các cuộc thánh chiến. Nhưng gã cũng tò mò muốn biết mặt
mũi ngang dọc của nhân vật dám công khai chống chính quyền sẽ về đây
làm người láng giềng của gã ra sao. Sự việc của ông Mỹ gã cũng đã nghe
nói rồi, nghe đủ thứ nguồn dư luận.
Ông Mỹ về với một xe đồ đạc lỉnh kỉnh. Giáo xứ tiếp ông cũng khá
nồng nhiệt, có đủ các vị chức sắc. Riêng nam nữ thanh niên thì khá đông,
chúng xoắn xuýt quanh ông như muốn công kênh vị anh hùng của mình
lên khỏi đầu để tung hô. Chỉ thiếu có hoa và pháo. Chiều hôm đó Hùng
quẹo không làm việc, gã ngồi ở chỗ cũ và quan sát thật kỹ tất cả mọi diễn
biến tại nhà cha xứ. Khi ông Mỹ vừa bước xuống xe, chỉ có ông từ kéo
chuông ở cạnh nhà Hùng quẹo một bước “lạy cha” hai bước “lạy cha” rối
rít và đám thanh niên ùa đến vây quanh, khiêng dọn đồ đạc. Ba vị trong
hội đồng giáo xứ vẫn đứng trên thềm nhà. Ông Mỹ dong dỏng cao, mang
một cái áo thụng đen hơi cũ nhưng thẳng nếp, cổ có viền trắng. Mặt ông
xương gãy, da bánh mật, khoảng trên ba mươi tuổi, trạc tuổi Hùng quẹo,
nhưng khá đẹp trai. Chắc chắn ông Mỹ biết rằng tất cả mọi người đang
tập trung chú ý đến mình nên mọi cử chỉ thái độ của ông đều tính toán
vừa phải. Ông biết rẽ đám đông để tới bắt tay ba vị trong hội đồng giáo
xứ trước. Nói chung, Hùng quẹo không phát hiện ra điểm gì đặc biệt ở
nhân vật láng giềng nổi tiếng mới tới của mình. Gã chỉ khó chịu chút ít
khi thấy đôi mắt ông Mỹ hơi láu liêng và ông nói cười hơi nhiều với đám
thanh niên, trong đó có đứa em gái gã.
Cuộc sống trở lại với những ngày bình thường - Chuông nhà thờ, kinh
lễ và mỗi người đều lo công việc làm ăn của mình như trước. Một số ít
Gã kéo chuông nhà thờ
15
người có ý chờ đợi một “biến cố” nào đó xảy ra khi ông Mỹ về. Hùng
quẹo vẫn sống cô độc với cái khung nón trên một chỗ ngồi bất di bất
dịch. Càng về sau này, gã làm việc nhiều hơn, năng suất gần bằng hai
người thợ giỏi. Trong danh sách khen thưởng phong trào quần chúng ở
địa phương, tên Hùng quẹo đã được nhắc tới một lần, nhưng vì thái độ
quá cách ly của gã, cuối cùng người ta phải gạt ra. Hùng quẹo bên ngoài
tỏ ra chẳng quan tâm tiếc nuối gì việc ấy, nhưng một đôi khi gã cũng cảm
thấy bâng khuâng suy nghĩ. Và, giả dụ, người ta có phát bằng khen cho
gã chắc chắn gã cũng không đủ can đảm để từ chối.
Thời vị linh mục già, nhà cha xứ thường vắng tanh, chỉ đông người
những khi có lễ lạt. Ông sống bình lặng nhịp nhàng như chiếc kim đồng
hồ. Những người tốt rất mực mến thương, kính phục ông cụ, còn kẻ
xấu cũng chẳng dám làm điều chi xúc phạm đến ông. Vào những chiều
thứ năm và thứ bảy, trước buổi cơm tối và kinh nguyện, ông có cái lệ đi
thăm từng gia đình giáo dân. Tuần này xóm nầy tuần kia xóm kia, cứ
thế đúng một tháng ông cụ đã đi hết cùng giáo xứ. Gặp nhà có chuyện
vui ông ghé lại lâu hơn, còn bình thường chỉ năm ba phút hỏi thăm sức
khỏe, tình hình làm ăn sinh sống rồi đi. Bởi vậy, giáo dân tiếp ông với tất
cả tấm lòng của mình. Hồi ấy ít có chuyện lộn xộn trong giáo xứ. Chính
quyền địa phương cũng rất mực tôn trọng ông cụ, thường hỏi ý kiến ông
cụ trước khi muốn triển khai thực hiện một vấn đề gì liên quan đến giáo
dân. Còn giáo dân, sau một thời gian nghi ngại lo sợ cách mạng, đã bắt
đầu làm quen vơi cuộc sống mới. Dầu cuộc sống ấy biết bao khó khăn
nhưng họ hiểu được rằng ở đâu cũng thế, không chỉ riêng trong giáo xứ.
Cái chính đối với bà con là việc lễ lạt kinh nguyện không ai cấm đoán
như trước đây thường nghe nói. Tiếng chuông vẫn vang lên thánh thót
sáng tối báo những giờ kinh lễ.
Thay đổi đầu tiên từ khi ông Mỹ về là nhà cha xứ thường xuyên rộn
ràng khách khứa. Phần lớn là thanh niên, thanh nữ. Ông Mỹ chứng tỏ
16
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
là một người có sức hấp dẫn đặc biệt, có khả năng tập hợp tuổi trẻ. Chỉ
một thời gian ngắn, ông đã tổ chức một loạt lớp giáo lý, một số hội đoàn
nửa công khai nửa bí mật mang những tên gọi rất kêu, và, bày ra thường
xuyên những cuộc sinh hoạt đông đảo vào các ngày chủ nhật. Đặc biệt
là đội “Thánh ca” của nhà thờ tối nào cũng tập trung tại nhà ông hát
xướng, có khi đông, có khi một hai người. Điều này đã làm cho không
ít bà con lo ngại, thâm tâm nhiều giáo dân không bằng lòng, tuy vậy,
không ai dám công khai phản đối. Dưới danh nghĩa các nhóm “suy niệm
phúc âm” các tổ “tình thương”... ông đã tổ chức các buổi hành hương, du
ngoạn, có khi lên núi, có khi xuống biển. Suốt ngày lúc nào cũng thấy
ông tất bật, hình như ông bị cuốn hút vào những công việc nầy là chính,
còn việc hành lễ kinh nguyện chỉ là thứ yếu, hoặc chỉ là những thủ tục
phải làm lấy lệ cho xong.
Đứa em gái Hùng quẹo trước đây một ngày có thể chằm hai cái nón
bây giờ có khi nửa cái làm không xong: nó còn bày ra may sắm, trưng
diện cho những buổi pic-nic, cắm trại... Mặc dù hát rất dở và chẳng
biết một dấu đô, rê, mi, fa nào, nhưng tối nào nó cũng có mặt trong đội
“Thánh ca” của ông Mỹ.
Lúc đầu Hùng quẹo chẳng để tâm, nhưng dần dần vì ngày nào cũng
chứng kiến cảnh rần rật tới lui tại nhà ông Mỹ làm cho gã nhức mắt, khó
chịu. Nhất là ban đêm, tiếng đàn, tiếng hát, tiếng cười như thể nhạo báng
chọc tức gã. Ga đâm ra xoi mói ông láng giềng của mình. Mơ hồ, qua
cách đi đứng nói năng của ông Mỹ, gây cho gã một vài ấn tượng đen tối,
gã chưa định hình được nó như thế nào, nhưng gã có thể khẳng định đó
là điều mà gã không thể chấp nhận được. Đức tin gã không còn nhưng
gã cũng không có lý do gì để báng bổ nó. Ông Mỹ hiện ra trước mắt gã
như một sự báng bổ, một sự quá trớn, sự tự kiêu, tự đại với những dục
vọng thấp hèn không thể chấp nhận được đối với một bậc tu hành chân
chính. Mỗi ngày định kiến đó càng được nhân lên, trở thành một thứ
Gã kéo chuông nhà thờ
17
tình cảm hằn học trong gã, nhiều khi quá khích. Ngược lại, ông Mỹ cũng
chẳng thích gì gã chằm nón, một phần có lẽ do đứa em Hùng quẹo đã
nói gì với ông, một phần do ngày nào ông cũng phải nhìn thấy gã với
con mắt như chực khiêu khích. Ông thường rùng mình, có cảm tưởng
như lúc nào gã chằm nón cũng sẵn sàng vồ chụp lấy ông để cắn xé. Trong
cuộc đời làm linh mục của mình, có lẽ ông chưa từng gặp trường hợp
con chiên nào như thế. Gã chằm nón như một bóng đen của địa ngục án
ngữ trước mặt ông mỗi ngày, mỗi giờ.
Bởi vậy, một lần ông Mỹ muốn nói chuyện với Hùng quẹo. Ông đứng
trên thềm nhà ngoắt gã sang:
- Này anh Hùng, sang tôi hỏi một tí.
Hùng quẹo làm như không nghe thấy - “Có muốn hỏi thì sang đây,
làm như cha cả thiên hạ” - Gã lầm bầm.
Lúc bấy giờ nếu đứng gần có thể thấy da mặt ông Mỹ đổi màu. Ông
lẩm bẩm điều gì đó không rõ rồi quay vào nhà đóng sầm cửa lại.
Hôm sau, sau buổi lễ sớm, ông Mỹ gọi mẹ Hùng quẹo sang nhà. Không
biết ông Mỹ đã nói gì với bà trong cả tiếng đồng hồ, khiến bà già bước ra
cửa khóc ấm ức. Vừa vào đến sân, bà đã đay nghiến Hùng quẹo:
- Mi là đứa vô nhân thất đức! Mi đã bêu rếu cả nhà chưa bưa chừ còn
báng bổ cha xứ. Mi đi mô đi cho khuất, đồ cái thứ quỉ tha ma bắt.
Hùng quẹo ngồi yên. Gã đã quen tính khí của mẹ gã mỗi khi đụng
tới chuyện nhà thờ. Gã không muốn trả lời, không muốn giải thích: mà
nếu gã có giải thích thế nào thì mẹ gã cũng không bao giờ nghe gã. Đối
với bà tất cả mọi thứ gì có liên quan đến đức tin, liên quan đến cha xứ,
người đại diện của Chúa ở trần gian, đều bất khả xâm phạm. Bởi vậy,
việc Hùng quẹo không chịu đi nhà thờ đối với và là cả một tai họa ghê
gớm. Trong kinh thánh có kể câu chuyện Chúa Giê-su chữa bệnh cho
một người bị quỷ ám, cho nên bà luôn luôn nghĩ rằng, chắc chắn có một
18
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
con quỉ nào đó đã nhập vào con bà. Bà bị tổn thương, đau khổ nhưng
lúc nào bà cũng không quên cầu nguyện cho gã. Hùng quẹo cũng thương
mẹ, nhưng gã không chịu nổi tính khí và sự mù quáng của mẹ. Hai mẹ
con trước đây thường gây gỗ là vì thế. Thực ra, gã cũng không nhớ đức
tín của gã mất tự lúc nào. Hình như nó đã mất từ lúc gã đối đầu giữa cái
sống và cái chết mà gã biết chắc chắn rằng sẽ không có Thượng đế nào
cứu được gã, và sẽ không có xứ sở thiên đường nào ngoài cuộc sống mà
gã rất sợ phải bị mất.
Từ đó quan hệ giữa ông Mỹ và Hùng quẹo trở nên căng thẳng thật sự.
Trong một buổi giảng ở nhà thờ ngày chủ nhật, tuần lễ thánh, ông Mỹ
đã nêu đích danh tên Hùng quẹo trong khi nói về việc Giu-đa bán Chúa.
Hùng quẹo cũng không chịu thua, kể từ đấy, nếu có dịp, gã bắt đầu báng
bổ ông Mỹ với tất cả từ ngữ mà gã có.
Rồi một hôm bỗng dưng có hai nguồn tin được tung ra cùng một lúc,
mặc dù xuất xứ và mức độ có khác nhau. Một nguồn tin, có lẽ xuất phát
từ những người bao bọc chung quanh ông Mỹ, nói rằng Hùng quẹo làm
“cò mồi” cho công an rắp tâm hại linh mục quản xứ. Một nguồn khác,
đúng hơn là dư luận, xì xào về quan hệ không đúng đắn giữa ông Mỹ và
phụ nữ. Dư luận nầy có từ khi cô H. thêu ren ở cuối xóm, một giọng ca
chính trong đội “Thánh ca” của nhà thờ bỗng nhiên bỏ việc đi đâu không
biết. Gia đình thì bảo cô ta đi Đà Nẵng chữa bệnh. Đó chỉ là một cách
nói thôi, ai cũng biết như thế. Từ khi ông Mỹ đến, cô ta là một trong
những người tích cực nhất của đội “Thánh ca”, không có tối nào vắng
mặt tại nhà cha xứ. Khi nguồn dư luận đó đến tai Hùng quẹo, gã tuyên
bố thẳng thừng với em gái gã: “Tao biết tỏng cái con H. nó đi mô...” Bình
thường em gái gã đã đốp chát lại tay đôi với anh, nhưng lần này nó chỉ
ngoe nguẩy bỏ đi, nói trổng: “Anh thì cái chi không biết”.
Không biết mức độ xác thực của cái nguồn dư luận đó như thế nào,
có điều, cả hai sự việc trên đều có những luận chứng khá bảo đảm. Về
Gã kéo chuông nhà thờ
19
nguồn tin thứ nhất do việc thời gian gần đây anh công an xã thường
xuyên ghé chỗ Hùng quẹo. Điều này, chẳng những không cải chính,
Hùng quẹo còn tuyên bố bô bô: “Tao làm việc cho công an đó, đứa nào
làm gì!”. Thực ra, vì quá tức giận, gã nói cho đã vậy thôi, chứ có làm việc
hay không gã cũng không biết. Anh công an xã thời ông linh mục già
ít khi đến giáo xứ, chỉ trừ những khi có việc liên quan đến an ninh, hộ
khẩu, họp hành. Không hiểu sao, từ khi ông Mỹ về, anh đến luôn và chọn
Hùng quẹo làm đối tượng để trò chuyện. Có lẽ một phần do chỗ gã gần
nhà thờ. Riêng Hùng quẹo, lúc đầu gã vừa sợ, và giữ kẽ, không biết anh ta
sẽ tra vấn gì mình. Hóa ra, mọi việc quá đỗi bình thường. Cái anh chàng
mặt mày lạnh như tiền ấy, tưởng chỉ có mỗi công việc tìm cách bắt giữ
người khác, nhưng qua tiếp xúc, Hùng quẹo thấy anh ta cũng chẳng có
gì đáng cho Hùng quẹo khiếp sợ cả, trái lại còn vui tính nữa là khác. Bởi
vậy, dù chưa định rõ mức độ tình cảm của mình như thế nào. Nhưng
mỗi ngày gã càng cởi mở, ít giữ kẻ hơn trong tiếp xúc với anh ta. Và, quả
thật, cũng có một đôi lần anh ta hỏi Hùng quẹo về sinh hoạt của ông Mỹ,
nhưng chỉ hỏi như để cho biết vậy thôi, chứ không phát biểu ý kiến gì.
Cũng có thể anh công ai giữ ý, nhưng điều đó cũng không đủ để kết luận
là Hùng quẹo làm cò mồi. Hùng quẹo không tức giận vì dư luận cho gã
làm “cò mồi”, nhưng gã cay cú với kẻ đã tung ra nguồn tin đó, mà gã cho
rằng chỉ có ông Mỹ chứ không là ai khác, vừa để khỏa lấp chuyện của
mình, vừa để bêu rếu gã.
Riêng về dư luận đối với ông Mỹ thì không phải xuất phát từ Hùng
quẹo. Có thể nói do bà o giúp việc ông Mỹ, hoặc là từ một người nào đó
trong đội “Thánh ca”. Dư luận này, mặc dù được ém nhẹm từ mọi phía,
nó vẫn lan đi rất nhanh, vượt ra khỏi phạm vi giáo xứ. Nhưng dù đã có
nhiều giáo dân bắt đầu không bằng lòng, phản đối ông Mỹ thì mọi người
cũng không muốn kẻ chăn dắt linh hồn mình bị xúc phạm. Hình như đã
có kiến nghị của hội đồng giáo xứ đề nghị giáo hội nên chuyển ông Mỹ
đi một nơi khác.
20
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
Giữa lúc mọi việc còn đang nhập nhằng như thế thì, bỗng nhiên, cô
gái mất tích đột ngột trở về. Rõ ràng sau gần hai tháng vắng nhà, cô ta
giống như người vừa ốm dậy. Mặt mày xanh lét, chỉ có thân hình thì như
có vẻ đẫy ra. Và, như thể không biết có chuyện gì xảy ra trong thời gian
mình vắng mặt, cô ta vẫn tìm đến nhà ông Mỹ ngay buổi chiều vừa trở
lại. Ngoài ra, cô còn đến đấy cả những giờ mà chỉ có Hùng quẹo mới
biết. Điều này làm cho gã chằm nón nẩy sinh một ý định, không phải
để trả thù, cũng không phải do lòng ghen ghét, nhưng mà là để chứng
minh một điều gì đó mà bản thân gã chưa phán quyết đầy đủ. Nhưng ý
định đó thôi thúc gã mãnh liệt, làm cho gã run lên như sắp phải ra tòa
phán xử cuối cùng. Hôm ấy, gã ngồi thu mình trong góc tối mái hiên nhà
trong tư thế của người rình bắt kẻ trộm. Bấy giờ vào khoảng nửa đêm.
Gã không biết gã ngồi như thế đã bao lâu, cho đến khi gã có cảm tưởng
gã thở không nổi nữa thì bóng cô gái hiện ta trong hành lang nhà thờ.
Như một con mèo, cô ta biến rất nhanh vào cửa hông nhà ông Mỹ. Hùng
quẹo đứng bật dậy như chiếc lo xo làm vết thương đau nhức...
General Sciences Library Cataloging–in–Publication Data
Nhiều tác giả
Tuyển truyện ngắn Sông Hương 30 năm (1983–2013) / Nhiều tác giả ; Hồ Đăng Thanh
Ngọc ... [và nh.ng. khác] tuyển chọn. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ ; Huế : Thuận Hóa, 2013.
960tr. ; 23cm.
1. Truyện ngắn Việt Nam -- Thế kỷ 21. 2. Văn học Việt Nam -- Thế kỷ 21. I. Hồ Đăng
Thanh Ngọc.
1. Short stories, Vietnamese -- 21st century. 2. Vietnamese literature -- 21st century.
895.92234 -- dc 22
T968
Ban tuyển chọn: HỒ ĐĂNG THANH NGỌC HOÀNG VIỆT HÙNG NHỤY NGUYÊN
Tạp chí Sông Hương chịu trách nhiệm về quyền tác giả
tất cả các truyện ngắn sử dụng trong tuyển tập này.
Lời giới thiệu
Trong bộ sách kỷ niệm 30 năm Sông Hương, riêng tập tuyển truyện ngắn được
chọn xuyên suốt trong 30 năm chứ không phải chỉ 10 năm như các tuyển khác.
Ngoài mảng “rất Huế” được duy trì từ lúc tạp chí mới ra đời cho đến nay là “Huế
- dòng chảy văn hóa”, Sông Hương ghi được dấu ấn trong lòng bạn đọc phải kể
đến ba mảng chính: văn, thơ, lý luận phê bình. Trong đó truyện ngắn luôn được
xem như “xương sống” của mỗi số báo, nhất là mươi năm trở lại đây.
Trong dịp kỷ niệm 20 năm, Sông Hương đã có tuyển Văn dày trên 500 trang
khổ 16x24cm gồm 50 truyện ngắn. Nếu so với 20 năm Sông Hương, thì 10
năm sau này lượng truyện hay tăng lên. Năm 2009, hơn chục truyện ngắn tốt
rải đều trong các số Sông Hương như: Hoa gạo đỏ, Một bước sau quận công,
Cái chết của Rối, Một lát cắt,... đủ để có được một tập truyện đa sắc, hấp dẫn.
Hoặc trong năm 2011, có số báo đến 3 truyện ngắn được tuyển vào tập này:
“Người đọc sẽ đến với một thế giới hiện thực thậm phồn trong sự hỗn chứa hiện
thực trần trụi và những hoang tưởng phi lý, thậm chí hướng tới những dự cảm
trong chiều sâu vô thức nội cảm qua truyện ngắn Ngày cuối cùng của một diễn
viên hài. Bên cạnh đó, Vòng luân hồi của chữ là những mảnh ghép bị đảo lộn
Lờ i g i ớ i t h i ệ u
5
như chính những nhân vật trôi lăn trong luân hồi vẫn không nhận ra kiếp mình.
Và những ám ảnh của con người khi bị ném vào một quái trạng bất khả cứu rỗi
trong Tôi đã nôn ra những đứa trẻ”. (Lời giới thiệu Sông Hương số 269).
Có một điều hơi khác biệt, là chúng tôi đã chủ động chọn lại một số truyện
không có trong Tuyển 20 năm, như Niết bàn bốc cháy (Đoàn Lê), Dịch quỷ sứ
(Tạ Duy Anh), Cún (Nguyễn Huy Thiệp), Người đoán mộng giỏi nhất thế gian
(Phạm Thị Hoài), Qua sông (Cung Tích Biền) v.v... Nhiều tác giả có từ một đến vài
ba truyện ngắn khá trong bộ tuyển Văn 20 và rải rác trên Sông Hương suốt 30
năm, tiếc là do số lượng trang có hạn nên đành phải... gác lại.
Như vậy, chúng tôi không có ý đưa ra một tiêu chí rõ rệt nào ngoài việc chọn
những truyện ngắn khá và hay để không phụ lòng độc giả. Có chăng đó là sự
chú ý trước hết đến các tác giả ở Huế (vẫn trừ ra một số tác giả góp mặt ở trong
tuyển Văn 20). Đó là một Trần Thùy Mai nhẹ nhàng, sâu lắng mà vẫn đầy phức
cảm trong không gian Huế xưa với Trăng nơi đáy giếng; Việt Hùng vẽ Biếm họa
về hạnh phúc gia đình; Những bước chân bên ngoài khe hở là nhân vật chính
của vở bi hài kịch do tác giả Hoàng Trọng Định dàn dựng; Trần Hạ Tháp bày ra
Thế trận linh xà để làm nổi lên chí khí người anh hùng áo vải; Thím Thoải của
Nguyễn Xuân Hoàng khắc khoải nỗi buồn thiếu phụ; Phạm Xuân Phụng “trong
vai” một nhà tâm lý xuyên sâu vào những ẩn ức đẫm tính nhân văn của chú vịt
Mê-sa-li, câu chuyện bên hồ; Hiện thực phũ phàng như tiếng chuông rung lên
trước đạo đức suy đồi được diễn ra âm thầm mà quyết liệt ở Gã kéo chuông nhà
thờ của Thái Ngọc San; Dương Thành Vũ đưa ta về không gian của thời bao cấp
khổ lụy trong Giếng trăng với vài phận đời bi đát và chỉ có thể đi vào ngõ cụt!;
Nguyên Quân tìm chân lý qua Chuyện từ thời chiến: người mẹ anh hùng có một
bàn tay vỗ về đứa con của mình đã hy sinh, và một xoa dịu dòng sám hối của
người lính ngụy...
6
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
So với những tờ báo luôn chào đón “hàng độc” với mức nhuận bút hấp dẫn mà
Sông Hương vẫn hút được nhiều truyện ngắn hay và mới, chứng tỏ nhiều tác
giả có nghề vẫn rất mến mộ Sông Hương. Nhờ đó tuyển tập này dung hợp được
nhiều phong cách. Có truyện như là sự thấm tháp nỗi đời của nhà văn sau bao
nhiêu năm trăn trở. Đơn cử trường hợp của nữ nhà văn Dạ Ngân: nghỉ việc công
sở, trở về tổ ấm của mình lặng lẽ “chép” lại những vết son trên chặng đời đã
qua. Truyện là góc nhìn rất hẹp về chiến tranh song mở ra trước độc giả nhiều
ngã rẽ với một Xuân nữ lỡ mang kiếp đào hoa, mà bạc phận cho những người
đàn ông từng “hành quân” qua cuộc đời chị. Nhức nhối bởi lương tâm bại hoại
của những con người vốn là ruột rà với nhau được lột tả trong Kịch độc. Người
viết đã “tiêm” những rung cảm lạ lùng vào miền hoang mê của lương tri đồng
loại. Những truyện ngắn khác của Bảo Ninh (Bằng chứng), Lê Minh Khuê (Sống
chậm), đọc liền thấm nỗi đau đời như của chính mình chứ không còn là của nhân
vật nữa. Song hành với hơi thở truyền thống là mạch ngầm hiện đại, như Đất
không lối vào của Hạo Nguyên, Mê cung của Nhật Chiêu, Những bức ảnh của Lê
Minh Phong; Sóng ngoài khơi của Khánh Phương, hay Một bước sau quận công,
một dạng tiểu-luận-truyện rất đặc biệt của nhà văn Hồ Anh Thái.
Mong muốn lớn nhất của chúng tôi qua tuyển tập này là nhiều tác phẩm một
lần nữa được vinh danh; để tác giả của nó thêm tin tưởng và lại dành cho Sông
Hương những tác phẩm tâm đắc.
BAN TUYỂN CHỌN
Lờ i g i ớ i t h i ệ u
7
T H Á I
N G Ọ C
S A N
Gã kéo chuông nhà thờ
(SH số tháng 2 - 1983)
m
ới nhìn qua, gã có vẻ hung dữ, một người làm người khác luôn
luôn phải cảnh giác trước khi đến gần. Một vết sẹo chạy từ đỉnh trán bẻ
quặt xuống khóe mắt phải như muốn kéo con mắt gã ra khỏi tròng. Đôi
môi dày nứt nẻ, tím đen mở toang hoác giơ cả hàm răng vàng khè nhựa
bẩn. Một chân gã bị quẹo, không phải do cố tật mà vì bị một miểng pháo
xuyên qua xương đầu gối, làm gã đi đứng rất khó nhọc, từng bước bật
nhún như chiếc lò xo. Tuy vậy, chỉ có vết sẹo mới làm người khác chú
ý, còn cái chân, vì gã luôn ngồi một chỗ nên ít ai biết gã có tật; với lại,
cái nghề gã đang làm cũng ít khi phải sử dụng đôi chân. Cũng thật buồn
cười, một người như gã lại chọn làm cái nghề mà chỉ có phụ nữ mới có
đủ đức tính cần thiết để làm: Chằm nón.
Không hẳn sự chọn lựa nghề nghiệp như vậy là do phản ứng tâm lý,
một lối thích ứng trước cuộc đời mà gã buộc phải chấp nhận sau ngày
giải phóng. Thực ra, cũng thật khó khăn cho gã, từ trước đến nay gã
chẳng biết nghề ngỗng gì. Học hành mới được năm ba chữ, theo không
nổi, bỏ ngang đi chơi lêu lổng. Đi chơi lêu lổng, chán, đầu quân đi lính.
Đi lính, rồi đào ngũ, rồi lại đi lính cho đến khi bị hai miểng pháo ôm
Gã kéo chuông nhà thờ
9
tấm thân tàn tật trở về. Hai năm trước giải phóng còn ít đồng lương phế
binh, với lại gia đình gã cũng chưa đến nỗi nào phải lo toan từng bữa.
Gã còn một đứa em trai là sĩ quan ngụy đã có vợ con ở Đà Nẵng. Thằng
này làm quân nhu, nên hàng tháng đều có gởi tiền chu cấp cho mẹ gã.
Ngoài ra, gã còn một đứa em gái đến nay đã quá tuổi lấy chồng nhưng
chưa có chồng, ở nhà chằm nón. Mẹ gã đang gần đất xa trời. Trước đây,
khi bố gã mới chết và anh em gã còn chưa thành người, bà còn buôn bán
lặt vặt chợ chiều, chợ mai. Sau này, khi có tiền chu cấp của thằng con ở
Đà Nẵng, bà bỏ tất cả, chỉ lo kinh nguyện ở nhà thờ. Bà là một con chiên
ngoan đạo. Đến ngày giải phóng, cuộc sống gia đình gã đảo lộn như bị
một đòn sấm sét. Thằng em gã biệt vô âm tín: có thể hắn và gia đình đã
rữa thây ngoài đại dương; cũng có thể đang lưu lạc ở một bang nào đó
trên nước Mỹ, thù ghét quê hương, hận lây cả gia đình, không thèm viết
thư. Thế là, không biết tự lúc nào, gã mày mò học đứa em gái nghề chằm
nón. Và giờ đây, gã nghiễm nhiên trở nên một thành viên lao động tự do
của địa phương, một lao động, nếu gạt ra ngoài những định kiến và tiêu
chuẩn xã hội này khác, có thể xem là mẫu mực, cần được biểu dương.
Gã tên là Hùng, nhưng từ khi gã bị tàn phế, dân trong địa phương
thêm đằng sau một cái đuôi: quẹo. Hùng - quẹo. Còn người quen gã ở
ngoài giáo xứ thì gọi gã là Hùng-nhà-thờ, vì gã ở sát nách nhà thờ, đối
diện với nhà cha xứ. Suốt ngày, từ chỗ Hùng quẹo ngồi chằm nón, có
thể thấy tất cả sinh hoạt trong nhà cha xứ, nếu cửa mở. Và, không hiểu
sao, từ trước đến nay, khi bắt đầu chính thức chằm nón, gã chỉ ngồi một
chỗ ấy. Gã kê một cái đòn thấp trước mái hiên, dựa lưng vô vách, đặt cái
khung nón giữa hai vòng chân và chăm chỉ kéo từng mũi kim nhanh
nhẹn cũng như bao nhiêu người khác. Trước kia, khi hai anh em chưa
xảy ra xung đột lớn thì những công việc linh tinh khác như chải ủi lá,
xây vành... đứa em gái gã làm giúp, nay một mình gã làm hết. Và, nếu
cái chân gã không đau, có khi gã còn làm nhiều hơn đứa em gái gã. Về
mùa mưa, gã ngồi trong nhà, nhưng cũng từ phía ấy ngay khung cửa sổ,
10
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
có thể nhìn thấy nhà cha xứ. Không rõ vì cái tàn cây trứng cá trước mái
hiên hay vì nhà cha xứ có cái gì hấp dẫn mà Hùng quẹo không chịu thay
đổi hướng ngồi.
Nếu có một điều gì đó về gã mà bà con trong họ đạo không bằng lòng
thì hẳn là điều này: Gã không còn đi nhà thờ nữa. Trong một gia đình
vốn nổi tiếng là ngoan đạo, điều ấy thường gây ra những mối lộn xộn.
Mẹ gã rủa gã là quỷ, còn đứa em gái thì coi thường anh ra mặt. Cha xứ
trước, một vị linh mục già hơi lẩm cẩm nhưng đáng kính, thường ghé lại
động viên khuyên năn gã. Những lúc ấy, Hùng quẹo chỉ nhăn răng khỉ ra
dạ dạ cho qua rồi thôi. Vị linh mục già nói nhiều lần không được cũng
nản. Ông bây giờ đã được chuyển về nhà hưu trí Tòa Tổng giám mục
sống những ngày cuối cùng ở trần gian cát bụi, không biết ông còn nhớ
để cầu nguyện cho gã hay không? Riêng đối với Hùng quẹo, thâm tâm
gã rất thương vị linh mục già, một ông cụ từ tâm không có gì đáng chê
trách. Nhưng gã không thể đi nhà thờ đọc kinh được nữa - Mất thì giờ,
vô ích, gã thường nói cộc lốc với mẹ gã như thế. Có lẽ cũng đúng như
thế thôi, theo cách nghĩ của Hùng quẹo, gã chẳng có gì để tin và cũng
chẳng có gì để không tin. Trước đây vì gia đình có đạo nên gã đi nhà thờ
đọc kinh theo thói quen. Lớn lên, những chìm nổi trong cuộc sống làm
những thói quen cũ, thời tuổi nhỏ tưởng là thiên liêng ghê gớm, tự nhiên
bay vèo không dấu vết. Gã không băn khoăn tiếc nuối, cũng chẳng đấu
tranh chọn lựa cái gì. Tự nhiên nó như thế.
Mọi thứ trong cuộc đời đều được sắp đặt đâu từ trước, như cái nhà
thờ, nhà cha xứ, cây trứng cá ngày ngày đứng chặn ngang trước mặt gã.
Gã không băn khoăn suy nghĩ về những gì quá xa xăm. Đôi khi quá cô
độc, vết thương đau nhức, gã lăn lộn như con chó bị đánh. Gã ngồi vít
thành cửa sổ, mồ hôi đổ nhễ nhại và con mắt kéo xếch lên trợn tròng.
Những lúc ấy, gã thật dữ tợn. Nhưng những cơn vật vã ấy qua đi rất
nhanh. Gã biết rằng cuộc đời gã đã được sắp đặt như thế nầy, có muốn
thay cũng không được. Tuyệt nhiên, chưa một lần gã có ý muốn tự tử,
Gã kéo chuông nhà thờ
11
ngay cả sau khi tỉnh dậy từ bệnh viện nhìn cái chân băng bột và khuôn
mặt mình trong gương. Trong nỗi đau đớn tuyệt vọng, gã vẫn còn sống.
Và thế là gã vẫn bám vào cuộc sống. Buổi sáng, gã thức dậy khi hồi
chuông đầu tiên nhà thờ đổ. Trong khi mẹ và em gái gã lục đục đi lễ
sớm, gã nằm thờ thẫn, có khi nhớ lung tung, có khi đầu óc trống rỗng
như cái gáo dừa úp trên vại nước. Gã thường ôn lại mảng đời cũ hồi ở
lính. Đối với gã, chỉ quãng đời ấy là đáng nhớ: nó đã để lại trong đời gã
nhiều kỷ niệm, nhục nhã cũng có mà oanh liệt cũng có. Lần thứ nhất
đầu quân, sau một thời gian bị hành nhục ở quân trường, gã bị ném ra
một đơn vị đóng ở một tiền đồn biên giới. Cực khổ và cái chết đe dọa
từng giờ làm gã sợ hãi không chịu đựng nỗi phải bỏ trốn. Nhưng về nhà
một thời gian gã biết rằng không thể nào sống được yên ổn, gã lại đầu
quân vào một sắc lính khác. Lần này thì gã đã có đủ kinh nghiệm, biết
luồn lách những cực hình ở quân trường, và biết đủ trò phá phách trác
táng sau những cuộc hành quân cực khổ, nguy hiểm. Rượu, gái... những
thứ ấy, giờ đây nhớ lại làm cho gã cực khổ. Đôi khi gã cảm thấy ngạt thở.
Cái thế giới vật chất đó đã bỏ rơi gã, kể từ khi mảnh pháo xéo qua mặt
và găm vào đầu gối gã. Con gái, đàn bà quen biết và cả không quen biết
ở trong họ đạo đã gạt phăng gã ra khỏi tầm nhìn của họ! Gã cũng chưa
có được một nửa mối tình nào để mà ôm ấp hoài niệm. Nếu còn tin ở
Chúa thì gã phải trách là Chúa quá bất công với gã. Bởi vậy, nhiều khi gã
muốn nổi loạn, văng tục, phá phách, muốn đốt cả làng cả xóm... Nhưng
gã không làm được. Bản chất gã vốn là một con người nhu nhược, một
kẻ dễ bị khuất phục bởi hoàn cảnh. Chỉ có một lần duy nhất gã trở nên
hung bạo như con thú dữ, đó là hôm đứa em gái gã dẫn lũ bạn bè nó về
nhà chơi sau buổi lễ ngày chủ nhật. Hùng quẹo thấy chúng nó đứa nào
cũng sồn sồn nói cười nhún nhảy trước mắt gã, làm gã ngứa ngáy khó
chịu. Bỗng dưng, gã không thể xỏ nổi một đường kim trên khung nón.
Gã bỗng thấy khát vọng điên cuồng. Đột nhiên miệng gã mở ra - (sau
nầy gã cũng không nhớ lúc đó gã đã nói những gì, hình như gã xỉa miệng
12
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
vào hỏi một câu gì đó thật vô duyên). Đám con gái thình lình như bị xô
dạt ra. Chúng in lặng trong một giây rồi bật lên những tiếng cười khúc
khích. Cơn khát vọng mê muội trong Hùng quẹo bỗng biến thành một
nỗi thù hằn khủng khiếp. Gã vùng dậy như một con hổ đói, ném phăng
cả cái khung nón vào đám con gái. “Đồ lũ ngựa cái mất dạy! Cút đi! Cút
đi!”. Đám con gái sợ hãi bỏ chạy tan tác, còn Hùng quẹo thì bổ sấp trên
thềm cửa thở hồng hộc như bị động kinh. Sau lần đó, không phải gã chỉ
hối hận mà còn đâm ra sợ hãi cả chính bản thân mình, gã không dám
nhìn thẳng vào bất kỳ phụ nữ nào đi qua trước mặt gã.
Căn nhà Hùng quẹo hình như được xây dựng lên một lần với cái nhà
thờ, có từ thời ông cố gã. Đó là một trong những nhà thờ được xây dựng
đầu tiên ở tỉnh, kiến trúc pha tạp nửa đình ta, nửa nhà tây. Nhà thờ từ
trước đến nay chưa thay đổi, chỉ có quét vôi lại. Nhà Hùng quẹo chỉ còn
cái nền cũ, còn mọi thứ khác đã thay qua đổi lại nhiều lần. Gia đình gã
đạo gốc và họ đạo nầy là một xứ toàn tòng. Thời gian Hùng quẹo lớn
lên, gã đã chứng kiến nhiều sự đổi thay, nhưng có một sự không hề thay
đổi: đó là những hồi chuông kinh nguyện sớm chiều. Bây giờ đây, dù tín
ngưỡng đã mất tiêu trong gã, nhưng mỗi lần nghe tiếng chuông rung,
cả tâm hồn cằn cỗi và đầy thương tích của gã cũng như được đánh thức.
Nhiều khi Hùng quẹo bỗng muốn la toáng lên cho tan những nỗi nhức
nhối phiền muộn.
Giáo xứ nằm bên cửa ngõ thành phố, một vùng xôi đậu nửa thành thị
nửa nông thôn. Trước giải phóng, một số ít giáo dân sống bằng nông
nghiệp, có lẽ họ là những người duy nhất chưa bị cuốn vào những cơn
lốc của thời thế. Đức tin vào Thượng đế và sự gắn bó với đất đai quyện
chặt làm một. Số còn lại dần dần lột bỏ gốc gác của mình, chuyển sang
buôn bán làm các nghề khác, trong đó không ít người giàu có nhờ chiếu
tranh. Và gần như gia đình nào cũng có người thân là sĩ quan, hạ sĩ quan,
binh sĩ, cảnh sát hoặc công chức của chế độ cũ. Bởi vậy có sự xáo trộn
Gã kéo chuông nhà thờ
13
lớn trong nếp sống, trong tư tưởng và tình cảm của bà con giáo dân ở
đây, khi giải phóng đến. Sự kiện đó như một cơn bão lớn ập tới bất ngờ,
có người lâu lắm vẫn chưa hết bàng hoàng.
Cuộc sống trước mắt, trước hết, tự nó đặt ra cho người ta những câu
hỏi phải trả lời, những công việc phải làm. Thế là, như một sự ngẫu
nhiên, những tổ hợp thêu ren, xay xát... ra đời. Rồi hợp tác xã tiêu thụ,
hợp tác xã nông nghiệp... Có những công việc mà trước đây chẳng bao
giờ người ta nghĩ tới, có khi còn tưởng là kinh khủng ghê gớm, bây giờ
bỗng nhiên trở thành bình thường, trở thành những vấn đề thiết yếu
của đời sống, gắn bó như máu với thịt, hợp với quy luật tự nhiên và chắc
chắn chẳng có gì gọi là trái với lời răn của thượng đế cả. Một số thói quen
cũ bắt đầu chết đi và một số thói quen khác đang hình thành.
Gia đình Hùng quẹo cũng không thoát khỏi sự xáo trộn nhất thời nói
trên. Ông cố gã là người địa phương, có lẽ theo đạo từ thời Tự Đức hoặc
Minh Mạng, thuở các vị giáo sĩ dòng Tên mới đặt chân lên đất cố đô cũ
truyền giáo. Thời ông nội gã, gia đình vẫn còn bám vào đất đai để sống.
Đến thời ông bố gã thì đoạn tuyệt hẳn với nhà nông, mấy sào ruộng bán
hết. Ông bố gã làm một viên chức quèn tại sở Công chánh, bị đau gan
chết khi đứa em gái gã mới lên năm. Ba anh em gã, chỉ có thằng em kế là
học hành được, cố gắng thi đỗ tú tài một, đi Thủ Đức trở thành sĩ quan.
Gã và đứa em gái đầu óc tối mù học hành chẳng được; gã học tới đệ lục
còn con em gái mới học đến lớp ba thì ở nhà. Bây giờ cũng may là gã vừa
học được cái nghề chằm nón để kiếm sống qua ngày.
Tin ông Mỹ, một linh mục trẻ nổi tiếng, sẽ chuyển về thay vị linh mục
già đã làm xôn xao trong giáo xứ. Sỡ dĩ như vậy vì ông Mỹ là một tác giả
chính trong một vụ xuyên tạc nói xấu chính quyền cách mạng, bị câu lưu
tạm giam hai tháng mới được thả ra. Trước khi bị giam giữ, ông Mỹ nắm
một chức vụ khá quan trọng trong giáo hội. Ông được thả ra sau khi các
vị có thẩm quyền trong giáo hội ở địa phương đứng ra bảo lãnh. Việc
14
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
đưa ông Mỹ về nhận chức tại một giáo xứ nhỏ là một trong những điều
kiện mà giáo hội địa phương đưa ra cam kết. Bởi vậy, đối với ông Mỹ, sự
“cưỡng bách cư trú” nầy chắc chắn sẽ không lấy gì làm vui.
Hùng quẹo cũng sốt ruột. Gã không thích gì miệng lưỡng của em gái
gã và đám bạn bè của nó đã tô vẽ chân dung ông Mỹ như một vị anh
hùng trong các cuộc thánh chiến. Nhưng gã cũng tò mò muốn biết mặt
mũi ngang dọc của nhân vật dám công khai chống chính quyền sẽ về đây
làm người láng giềng của gã ra sao. Sự việc của ông Mỹ gã cũng đã nghe
nói rồi, nghe đủ thứ nguồn dư luận.
Ông Mỹ về với một xe đồ đạc lỉnh kỉnh. Giáo xứ tiếp ông cũng khá
nồng nhiệt, có đủ các vị chức sắc. Riêng nam nữ thanh niên thì khá đông,
chúng xoắn xuýt quanh ông như muốn công kênh vị anh hùng của mình
lên khỏi đầu để tung hô. Chỉ thiếu có hoa và pháo. Chiều hôm đó Hùng
quẹo không làm việc, gã ngồi ở chỗ cũ và quan sát thật kỹ tất cả mọi diễn
biến tại nhà cha xứ. Khi ông Mỹ vừa bước xuống xe, chỉ có ông từ kéo
chuông ở cạnh nhà Hùng quẹo một bước “lạy cha” hai bước “lạy cha” rối
rít và đám thanh niên ùa đến vây quanh, khiêng dọn đồ đạc. Ba vị trong
hội đồng giáo xứ vẫn đứng trên thềm nhà. Ông Mỹ dong dỏng cao, mang
một cái áo thụng đen hơi cũ nhưng thẳng nếp, cổ có viền trắng. Mặt ông
xương gãy, da bánh mật, khoảng trên ba mươi tuổi, trạc tuổi Hùng quẹo,
nhưng khá đẹp trai. Chắc chắn ông Mỹ biết rằng tất cả mọi người đang
tập trung chú ý đến mình nên mọi cử chỉ thái độ của ông đều tính toán
vừa phải. Ông biết rẽ đám đông để tới bắt tay ba vị trong hội đồng giáo
xứ trước. Nói chung, Hùng quẹo không phát hiện ra điểm gì đặc biệt ở
nhân vật láng giềng nổi tiếng mới tới của mình. Gã chỉ khó chịu chút ít
khi thấy đôi mắt ông Mỹ hơi láu liêng và ông nói cười hơi nhiều với đám
thanh niên, trong đó có đứa em gái gã.
Cuộc sống trở lại với những ngày bình thường - Chuông nhà thờ, kinh
lễ và mỗi người đều lo công việc làm ăn của mình như trước. Một số ít
Gã kéo chuông nhà thờ
15
người có ý chờ đợi một “biến cố” nào đó xảy ra khi ông Mỹ về. Hùng
quẹo vẫn sống cô độc với cái khung nón trên một chỗ ngồi bất di bất
dịch. Càng về sau này, gã làm việc nhiều hơn, năng suất gần bằng hai
người thợ giỏi. Trong danh sách khen thưởng phong trào quần chúng ở
địa phương, tên Hùng quẹo đã được nhắc tới một lần, nhưng vì thái độ
quá cách ly của gã, cuối cùng người ta phải gạt ra. Hùng quẹo bên ngoài
tỏ ra chẳng quan tâm tiếc nuối gì việc ấy, nhưng một đôi khi gã cũng cảm
thấy bâng khuâng suy nghĩ. Và, giả dụ, người ta có phát bằng khen cho
gã chắc chắn gã cũng không đủ can đảm để từ chối.
Thời vị linh mục già, nhà cha xứ thường vắng tanh, chỉ đông người
những khi có lễ lạt. Ông sống bình lặng nhịp nhàng như chiếc kim đồng
hồ. Những người tốt rất mực mến thương, kính phục ông cụ, còn kẻ
xấu cũng chẳng dám làm điều chi xúc phạm đến ông. Vào những chiều
thứ năm và thứ bảy, trước buổi cơm tối và kinh nguyện, ông có cái lệ đi
thăm từng gia đình giáo dân. Tuần này xóm nầy tuần kia xóm kia, cứ
thế đúng một tháng ông cụ đã đi hết cùng giáo xứ. Gặp nhà có chuyện
vui ông ghé lại lâu hơn, còn bình thường chỉ năm ba phút hỏi thăm sức
khỏe, tình hình làm ăn sinh sống rồi đi. Bởi vậy, giáo dân tiếp ông với tất
cả tấm lòng của mình. Hồi ấy ít có chuyện lộn xộn trong giáo xứ. Chính
quyền địa phương cũng rất mực tôn trọng ông cụ, thường hỏi ý kiến ông
cụ trước khi muốn triển khai thực hiện một vấn đề gì liên quan đến giáo
dân. Còn giáo dân, sau một thời gian nghi ngại lo sợ cách mạng, đã bắt
đầu làm quen vơi cuộc sống mới. Dầu cuộc sống ấy biết bao khó khăn
nhưng họ hiểu được rằng ở đâu cũng thế, không chỉ riêng trong giáo xứ.
Cái chính đối với bà con là việc lễ lạt kinh nguyện không ai cấm đoán
như trước đây thường nghe nói. Tiếng chuông vẫn vang lên thánh thót
sáng tối báo những giờ kinh lễ.
Thay đổi đầu tiên từ khi ông Mỹ về là nhà cha xứ thường xuyên rộn
ràng khách khứa. Phần lớn là thanh niên, thanh nữ. Ông Mỹ chứng tỏ
16
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
là một người có sức hấp dẫn đặc biệt, có khả năng tập hợp tuổi trẻ. Chỉ
một thời gian ngắn, ông đã tổ chức một loạt lớp giáo lý, một số hội đoàn
nửa công khai nửa bí mật mang những tên gọi rất kêu, và, bày ra thường
xuyên những cuộc sinh hoạt đông đảo vào các ngày chủ nhật. Đặc biệt
là đội “Thánh ca” của nhà thờ tối nào cũng tập trung tại nhà ông hát
xướng, có khi đông, có khi một hai người. Điều này đã làm cho không
ít bà con lo ngại, thâm tâm nhiều giáo dân không bằng lòng, tuy vậy,
không ai dám công khai phản đối. Dưới danh nghĩa các nhóm “suy niệm
phúc âm” các tổ “tình thương”... ông đã tổ chức các buổi hành hương, du
ngoạn, có khi lên núi, có khi xuống biển. Suốt ngày lúc nào cũng thấy
ông tất bật, hình như ông bị cuốn hút vào những công việc nầy là chính,
còn việc hành lễ kinh nguyện chỉ là thứ yếu, hoặc chỉ là những thủ tục
phải làm lấy lệ cho xong.
Đứa em gái Hùng quẹo trước đây một ngày có thể chằm hai cái nón
bây giờ có khi nửa cái làm không xong: nó còn bày ra may sắm, trưng
diện cho những buổi pic-nic, cắm trại... Mặc dù hát rất dở và chẳng
biết một dấu đô, rê, mi, fa nào, nhưng tối nào nó cũng có mặt trong đội
“Thánh ca” của ông Mỹ.
Lúc đầu Hùng quẹo chẳng để tâm, nhưng dần dần vì ngày nào cũng
chứng kiến cảnh rần rật tới lui tại nhà ông Mỹ làm cho gã nhức mắt, khó
chịu. Nhất là ban đêm, tiếng đàn, tiếng hát, tiếng cười như thể nhạo báng
chọc tức gã. Ga đâm ra xoi mói ông láng giềng của mình. Mơ hồ, qua
cách đi đứng nói năng của ông Mỹ, gây cho gã một vài ấn tượng đen tối,
gã chưa định hình được nó như thế nào, nhưng gã có thể khẳng định đó
là điều mà gã không thể chấp nhận được. Đức tin gã không còn nhưng
gã cũng không có lý do gì để báng bổ nó. Ông Mỹ hiện ra trước mắt gã
như một sự báng bổ, một sự quá trớn, sự tự kiêu, tự đại với những dục
vọng thấp hèn không thể chấp nhận được đối với một bậc tu hành chân
chính. Mỗi ngày định kiến đó càng được nhân lên, trở thành một thứ
Gã kéo chuông nhà thờ
17
tình cảm hằn học trong gã, nhiều khi quá khích. Ngược lại, ông Mỹ cũng
chẳng thích gì gã chằm nón, một phần có lẽ do đứa em Hùng quẹo đã
nói gì với ông, một phần do ngày nào ông cũng phải nhìn thấy gã với
con mắt như chực khiêu khích. Ông thường rùng mình, có cảm tưởng
như lúc nào gã chằm nón cũng sẵn sàng vồ chụp lấy ông để cắn xé. Trong
cuộc đời làm linh mục của mình, có lẽ ông chưa từng gặp trường hợp
con chiên nào như thế. Gã chằm nón như một bóng đen của địa ngục án
ngữ trước mặt ông mỗi ngày, mỗi giờ.
Bởi vậy, một lần ông Mỹ muốn nói chuyện với Hùng quẹo. Ông đứng
trên thềm nhà ngoắt gã sang:
- Này anh Hùng, sang tôi hỏi một tí.
Hùng quẹo làm như không nghe thấy - “Có muốn hỏi thì sang đây,
làm như cha cả thiên hạ” - Gã lầm bầm.
Lúc bấy giờ nếu đứng gần có thể thấy da mặt ông Mỹ đổi màu. Ông
lẩm bẩm điều gì đó không rõ rồi quay vào nhà đóng sầm cửa lại.
Hôm sau, sau buổi lễ sớm, ông Mỹ gọi mẹ Hùng quẹo sang nhà. Không
biết ông Mỹ đã nói gì với bà trong cả tiếng đồng hồ, khiến bà già bước ra
cửa khóc ấm ức. Vừa vào đến sân, bà đã đay nghiến Hùng quẹo:
- Mi là đứa vô nhân thất đức! Mi đã bêu rếu cả nhà chưa bưa chừ còn
báng bổ cha xứ. Mi đi mô đi cho khuất, đồ cái thứ quỉ tha ma bắt.
Hùng quẹo ngồi yên. Gã đã quen tính khí của mẹ gã mỗi khi đụng
tới chuyện nhà thờ. Gã không muốn trả lời, không muốn giải thích: mà
nếu gã có giải thích thế nào thì mẹ gã cũng không bao giờ nghe gã. Đối
với bà tất cả mọi thứ gì có liên quan đến đức tin, liên quan đến cha xứ,
người đại diện của Chúa ở trần gian, đều bất khả xâm phạm. Bởi vậy,
việc Hùng quẹo không chịu đi nhà thờ đối với và là cả một tai họa ghê
gớm. Trong kinh thánh có kể câu chuyện Chúa Giê-su chữa bệnh cho
một người bị quỷ ám, cho nên bà luôn luôn nghĩ rằng, chắc chắn có một
18
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
con quỉ nào đó đã nhập vào con bà. Bà bị tổn thương, đau khổ nhưng
lúc nào bà cũng không quên cầu nguyện cho gã. Hùng quẹo cũng thương
mẹ, nhưng gã không chịu nổi tính khí và sự mù quáng của mẹ. Hai mẹ
con trước đây thường gây gỗ là vì thế. Thực ra, gã cũng không nhớ đức
tín của gã mất tự lúc nào. Hình như nó đã mất từ lúc gã đối đầu giữa cái
sống và cái chết mà gã biết chắc chắn rằng sẽ không có Thượng đế nào
cứu được gã, và sẽ không có xứ sở thiên đường nào ngoài cuộc sống mà
gã rất sợ phải bị mất.
Từ đó quan hệ giữa ông Mỹ và Hùng quẹo trở nên căng thẳng thật sự.
Trong một buổi giảng ở nhà thờ ngày chủ nhật, tuần lễ thánh, ông Mỹ
đã nêu đích danh tên Hùng quẹo trong khi nói về việc Giu-đa bán Chúa.
Hùng quẹo cũng không chịu thua, kể từ đấy, nếu có dịp, gã bắt đầu báng
bổ ông Mỹ với tất cả từ ngữ mà gã có.
Rồi một hôm bỗng dưng có hai nguồn tin được tung ra cùng một lúc,
mặc dù xuất xứ và mức độ có khác nhau. Một nguồn tin, có lẽ xuất phát
từ những người bao bọc chung quanh ông Mỹ, nói rằng Hùng quẹo làm
“cò mồi” cho công an rắp tâm hại linh mục quản xứ. Một nguồn khác,
đúng hơn là dư luận, xì xào về quan hệ không đúng đắn giữa ông Mỹ và
phụ nữ. Dư luận nầy có từ khi cô H. thêu ren ở cuối xóm, một giọng ca
chính trong đội “Thánh ca” của nhà thờ bỗng nhiên bỏ việc đi đâu không
biết. Gia đình thì bảo cô ta đi Đà Nẵng chữa bệnh. Đó chỉ là một cách
nói thôi, ai cũng biết như thế. Từ khi ông Mỹ đến, cô ta là một trong
những người tích cực nhất của đội “Thánh ca”, không có tối nào vắng
mặt tại nhà cha xứ. Khi nguồn dư luận đó đến tai Hùng quẹo, gã tuyên
bố thẳng thừng với em gái gã: “Tao biết tỏng cái con H. nó đi mô...” Bình
thường em gái gã đã đốp chát lại tay đôi với anh, nhưng lần này nó chỉ
ngoe nguẩy bỏ đi, nói trổng: “Anh thì cái chi không biết”.
Không biết mức độ xác thực của cái nguồn dư luận đó như thế nào,
có điều, cả hai sự việc trên đều có những luận chứng khá bảo đảm. Về
Gã kéo chuông nhà thờ
19
nguồn tin thứ nhất do việc thời gian gần đây anh công an xã thường
xuyên ghé chỗ Hùng quẹo. Điều này, chẳng những không cải chính,
Hùng quẹo còn tuyên bố bô bô: “Tao làm việc cho công an đó, đứa nào
làm gì!”. Thực ra, vì quá tức giận, gã nói cho đã vậy thôi, chứ có làm việc
hay không gã cũng không biết. Anh công an xã thời ông linh mục già
ít khi đến giáo xứ, chỉ trừ những khi có việc liên quan đến an ninh, hộ
khẩu, họp hành. Không hiểu sao, từ khi ông Mỹ về, anh đến luôn và chọn
Hùng quẹo làm đối tượng để trò chuyện. Có lẽ một phần do chỗ gã gần
nhà thờ. Riêng Hùng quẹo, lúc đầu gã vừa sợ, và giữ kẽ, không biết anh ta
sẽ tra vấn gì mình. Hóa ra, mọi việc quá đỗi bình thường. Cái anh chàng
mặt mày lạnh như tiền ấy, tưởng chỉ có mỗi công việc tìm cách bắt giữ
người khác, nhưng qua tiếp xúc, Hùng quẹo thấy anh ta cũng chẳng có
gì đáng cho Hùng quẹo khiếp sợ cả, trái lại còn vui tính nữa là khác. Bởi
vậy, dù chưa định rõ mức độ tình cảm của mình như thế nào. Nhưng
mỗi ngày gã càng cởi mở, ít giữ kẻ hơn trong tiếp xúc với anh ta. Và, quả
thật, cũng có một đôi lần anh ta hỏi Hùng quẹo về sinh hoạt của ông Mỹ,
nhưng chỉ hỏi như để cho biết vậy thôi, chứ không phát biểu ý kiến gì.
Cũng có thể anh công ai giữ ý, nhưng điều đó cũng không đủ để kết luận
là Hùng quẹo làm cò mồi. Hùng quẹo không tức giận vì dư luận cho gã
làm “cò mồi”, nhưng gã cay cú với kẻ đã tung ra nguồn tin đó, mà gã cho
rằng chỉ có ông Mỹ chứ không là ai khác, vừa để khỏa lấp chuyện của
mình, vừa để bêu rếu gã.
Riêng về dư luận đối với ông Mỹ thì không phải xuất phát từ Hùng
quẹo. Có thể nói do bà o giúp việc ông Mỹ, hoặc là từ một người nào đó
trong đội “Thánh ca”. Dư luận này, mặc dù được ém nhẹm từ mọi phía,
nó vẫn lan đi rất nhanh, vượt ra khỏi phạm vi giáo xứ. Nhưng dù đã có
nhiều giáo dân bắt đầu không bằng lòng, phản đối ông Mỹ thì mọi người
cũng không muốn kẻ chăn dắt linh hồn mình bị xúc phạm. Hình như đã
có kiến nghị của hội đồng giáo xứ đề nghị giáo hội nên chuyển ông Mỹ
đi một nơi khác.
20
Tu y ể n t r u y ệ n n g ắ n S ô n g H ư ơ n g 3 0 n ă m ( 1 9 8 3 - 2 0 1 3 )
Giữa lúc mọi việc còn đang nhập nhằng như thế thì, bỗng nhiên, cô
gái mất tích đột ngột trở về. Rõ ràng sau gần hai tháng vắng nhà, cô ta
giống như người vừa ốm dậy. Mặt mày xanh lét, chỉ có thân hình thì như
có vẻ đẫy ra. Và, như thể không biết có chuyện gì xảy ra trong thời gian
mình vắng mặt, cô ta vẫn tìm đến nhà ông Mỹ ngay buổi chiều vừa trở
lại. Ngoài ra, cô còn đến đấy cả những giờ mà chỉ có Hùng quẹo mới
biết. Điều này làm cho gã chằm nón nẩy sinh một ý định, không phải
để trả thù, cũng không phải do lòng ghen ghét, nhưng mà là để chứng
minh một điều gì đó mà bản thân gã chưa phán quyết đầy đủ. Nhưng ý
định đó thôi thúc gã mãnh liệt, làm cho gã run lên như sắp phải ra tòa
phán xử cuối cùng. Hôm ấy, gã ngồi thu mình trong góc tối mái hiên nhà
trong tư thế của người rình bắt kẻ trộm. Bấy giờ vào khoảng nửa đêm.
Gã không biết gã ngồi như thế đã bao lâu, cho đến khi gã có cảm tưởng
gã thở không nổi nữa thì bóng cô gái hiện ta trong hành lang nhà thờ.
Như một con mèo, cô ta biến rất nhanh vào cửa hông nhà ông Mỹ. Hùng
quẹo đứng bật dậy như chiếc lo xo làm vết thương đau nhức...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





