CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Số Đen - Camilo José Cela & Trương Võ Anh Giang (dịch)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 20h:42' 17-03-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
     

    SỐ ĐEN
    Camilo José Cela
    Making Ebook Project
    BOOKAHOLIC CLUB
     






    Tên sách: SỐ ĐEN
    Tác giả: Camilo José Cela
    Nguyên tác: La familia de Pascual Duarte
    Dịch giả: Trương Võ Anh Giang
    Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn
    Năm xuất bản: 1991
    Số trang: 250
    Khổ sách: 13 x 19 cm
     

    Ảnh bìa: Hồng Đức
    Đánh máy: Phương Nhi, Thu Hoài, Duyên, Bảo Trân, Hải Anh
    Soát lỗi: Vân Thu
    Chế bản ebook: Hồng Sơn
    Ngày thực hiện: 21/10/2012
    Making Ebook Project #282 - www.BookaholicClub.com




    MỤC LỤC
     

    GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
     

    GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
     

    TRÍCH LỜI BẠT
     

    TRÍCH “LỜI TỰA”
     

    CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI GHI LẠI
     

    BỨC THƯ CỦA DUARTE GỞI NGƯỜI ĐẦU TIÊN NHẬN BẢN
    THẢO CỦA HẮN
     

    TRÍCH DI CHÚC DO DON JOAQUIN ĐỂ LẠI
     

    SỐ ĐEN
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     

    I
    II
    III
    IV
    V
    VI
    VII
    VIII
    IX
    X
    XI
    XII

    XIII
     
     
     
     
     
     

    XIV
    XV
    XVI
    XVII
    XVIII
    XIX

     

    CHÚ THÍCH KHÁC CỦA NGƯỜI GHI LẠI
     
     
     

    BỨC THƯ THỨ NHẤT
    BỨC THƯ THỨ HAI




    GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
     

     

    Nhà văn Tây Ban Nha Camilo José Cela sinh trong một gia đình
    thượng lưu bản sứ, học nghành y nhưng thường xuyên nghe các bài giảng
    văn tại khoa Triết Đại học Madrid. Những năm 30, Camilo José Cela tham
    gia nội chiến Tây Ban Nha nhưng bị lao phổi nặng. Khỏi bệnh ông chuyển
    sang học Luật ở Madrid, và bắt đầu viết văn.  Năm 1934, ông viết bài thơ
    đầu tiên Đám tang tôi và từ đó cái chết là đề tài ám ảnh trong các tác phẩm
    của ông; Năm 1942, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết Gia đình Pascual Duarte
    và nhanh chóng trở lên nổi tiếng; đuợc đánh giá là cuốn tiểu thuyết hay nhất
    Tây Ban Nha kể từ thời Don  Kihote. Camilo José Cela sáng tác rất nhiều
    thể loại: Tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn, kí, kịch, thơ, truyện dịch, Ông
    còn soạn Từ điển bí mật, 11 tập, gồm những từ vựng kiêng húy, bị cấm
    đoán, tiếng lóng đường phố…, và Bách khoa tình dục, song tác phẩm nổi
    tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Tổ ong kể về cuộc sống của dân chúng ở
    thủ đô Madrid sau khi kết thúc nội chiến. Năm 1983 ông cho ra đời tiểu
    thuyết được coi là “Trào phúng đen” – Bản Mazurca cho hai người chết.
    Năm 1989, Camilo José Cela là nhà văn đầu tiên của Tây Ban Nha được
    tặng giải Nobel văn học cho những tác phẩm được viết theo lối văn súc tích,
    cô đọng thể hiện lòng trắc ẩn vô hạn đối với những phận người cay đắng và
    hoang mang trong cuộc chiến phi lí. Ông được coi là nhà văn nổi bật nhất
    của Tây Ban Nha sau chiến tranh.

     



    GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
     
     

    Số đen là câu chuyện về cuộc đời của anh nông dân người Tây Ban Nha
    là Pascual Duarte sinh ra trong một thế giới khắc nghiệt đầy trụy lạc, thù
    hận và đói nghèo. Câu chuyện được Pascual kể lại từ trong nhà tù nơi anh
    bị giam giữ chờ ngày hành quyết vì những tội giết người mà anh đã thực
    hiện trong suốt cuộc đời mình. Mặc dù đã có những động lực độc ác và dã
    man, Pascual vẫn giữ lại được cái nhìn đầy thơ trẻ về thế giới và niềm khao
    khát cháy bỏng để hiểu được số phận nào đã đưa anh vào con đường đầy
    máu.
     
     



    TRÍCH LỜI BẠT
     

    Bản dịch tiếng Anh cuốn “Số Đen”
     
     

    Một trong những nhà văn tài ba nhất của thế giới đứng về phía những
    người bị đày xuống địa ngục trong những năm đảo lộn dưới chế độ bọn
    Trục là Camilo José Cela ở Tây Ban Nha…
     

    Cela là một gương mặt nổi bật, ghi chép về cuộc đời của những người
    dân quê ngu dốt của Castille và những kẻ giết người của Extremadura.
     

    Cuốn Số đen, lấy chủ đề quanh việc giết người một cách không có ý
    nghĩa. Như một tiếng chuông gọi hồn thật to, cuốn sách vang lên với âm
    thanh của một khoảng không về tinh thần. Hồi chuông báo tử xuyên qua
    một thảo nguyên trống rỗng của tâm hồn… Phía sau và phía dưới tác phẩm
    là vực thẳm của một cuộc chiến tranh vừa bước vào cao điểm, sự tiêu điều
    lan rộng của một hậu quả đã thấy trước, sự thiếu đức tin vào bất cứ những
    gì không có trước mắt, cái huyền thoại được làm sang tỏ, cái phi lý của vận
    may…
     

    … Một nhà thơ nổi tiếng trong nước đã đặt Cela vào hàng ngũ những
    nhà văn lớn ở Tây Ban Nha có nhiều tài năng trong “nghệ thuật gây dựng
    cái đẹp từ “con số không” và từ những cái khiếm khuyết”. Đó là một truyền
    thống của bốn trăm năm văn học sử mà bắt đầu là tiểu-thuyết-lấy-kẻ-bấtlương-làm-nhân-vật-chính…
     

    … Camilo José Cela đã tạo ra một thế giới mà nghị lực con người
    không còn nữa, những nghị lực phải cúi đầu trước sự hư không hầu như
    huyền bí của con tim chính mình. Những nhân vật của ông không bao giờ đi
    ngang qua mặc cảm xã hội để đến số phận, xuyên qua những con đường
    mòn của xã hội, nói gì đến Hình hài của Chúa Ki-tô hay Nhà chung. Họ có
    thể vật vã đấu tranh, nhưng luôn luôn họ đầu hàng chính họ vào lúc cuối
    cùng. Pascual Duarte đã hành động như thế bên ngoài pháp luật. Hắn hài

    lòng chấp nhận tầm cỡ đầy đủ của chính hắn… Ở Cela, khuynh hướng đó là
    một niềm tin hầu như huyền bí vào sự đúng đắn của điều không lường trước
    được.
     

    Trong khai từ một quyển sách nghiên cứu về “hệ thống thẩm mỹ” trong
    tác phẩm ông của một nhà khảo cứu, ông viết:
     

    “Nhà văn chúng ta sống một ít như con ốc, thỉnh thoảng vươn cổ ra để
    chỉ rụt vào hầu như liền lúc ấy… Nhà văn chúng ta chỉ cần năm sáu ý
    tưởng rõ rệt… để giữ chúng ta bên lề của các thể chế, tất cả các thể chế đó
    đều không tốt, không có ngoại lệ, tất cả các thể chế đó đều thối rữa và cũ
    rích”.
     

    Số đen là một tác phẩm nghiên cứu về tâm lý của cái sợ, về sự hung
    hăng của cái sợ. Một cách đầy đủ hơn: sự hung hăng của sự sợ hãi lẫn rụt
    rè, và cái tội ác về cả hai điều này.
     

    Tất cả điều này là trần trụi, vì không có tính người, như hòn đá, khi nó
    không trình diễn cái nghèo. Sức mạnh của tác phẩm là hành động của một ý
    chí bị tiêu diệt, hay một ý-muốn-dẫn-đến-sự-tiêu-diệt. Thật hết sự kinh tởm
    chuyện người mẹ cắn sứt đầu vú đàn ông không còn tác dụng nữa của con
    trai, người con trai cứ tin rằng người mẹ là để cho sự giết chóc. Thật quái dị
    khi ta thấy một con chó săn bị giết vì theo chủ trong lúc hắn nổi cơn bốc
    đồng; thật hung bạo khi hắn giết một người đàn ông để trả thù vì tình yêu
    của hắn đối với vợ hắn. Tóm lại, có đủ để biến Số đen thành một tiểu thuyết
    cao cấp của truyền thống “biểu hiện” (nói theo hội họa).
     

    Để riêng mọi sự phân biệt về cái thế giới hiện hữu và nơi cứ trú, Cela
    chắc chắn là nhà văn kỳ cựu nhất của Tây Ban Nha hôm nay: kỳ cựu về âm
    thanh, về ngôn từ Tây Ban Nha.
     

    Ngôn ngữ của ông là ngôn ngữ của Đôn Kihôtê lẫn Sancho Pancha…
     

    Thế giới của ông mong manh như không khí ở Avila. Nó cũng đầy đất
    như ở Andalusia…
     

    Trung tâm của ông là Madrid. Ông bị đẩy tới đó bởi một lực hướng tâm
    đặc biệt của Tây Ban Nha.
     

    Và ông đã đứng ngay trung tâm của truyền thống văn chương đó.
     

    Anthony KERRIGAN
     



    TRÍCH “LỜI TỰA”
     

    (Bản dịch tiếng Pháp)
     
     

    Thỉnh thoảng, không đều đặn và như thể bất ngờ, đã xuất hiện những
    cuốn tiểu thuyết mà tầm quan trọng không chỉ ở phẩm chất văn chương của
    tác phẩm, nhưng còn do tính độc đáo của đề tài và tính mới mẻ trong hình
    thức những tác phẩm đó. Như vậy, những tác phẩm này đã tạo một ảnh
    hưởng đáng kể đến một số đông các nhà văn, sau đó ảnh hưởng đến thị hiếu
    của quần chúng, và về lâu về dài cuối cùng tác phẩm đã có tác động làm
    thay đổi đường hướng của những trào lưu văn chương của cả một thời kỳ.
    Sẽ có những độc giả sành sỏi cho rằng nói như vậy, tôi muốn ám chỉ tới
    những tác phẩm rất khác biệt nhau về kỹ thuật cấu thành tác phẩm, về quan
    niệm cũng như về số độc giả đặc trưng của những tác phẩm đó vào thời
    điểm chúng xuất hiện…
     

    Tuy nhiên, đôi khi vì những tình huống lịch sử, chính trị hoặc kinh tế,
    một số xứ sở tạm thời buộc phải đứng bên lề dòng tiến hóa không thể cưỡng
    lại được của toàn nhân loại. Bấy giờ, đời sống văn hóa của những xứ sở ấy
    phải cam chịu một thứ thoái hóa làm tê liệt trong một mức độ nào đó những
    biểu hiện tinh thần của đời sống văn hóa của nhân loại. Nhưng dẫu vậy,
    cuộc sống vẫn tiếp diễn, và một người quan sát chuyên chú và kiên trì sẽ
    chẳng hề chậm trễ để nhận ra những trăn trở dù yếu ớt, những vận động đầu
    tiên nhằm báo hiệu sự phục hưng của một nền văn hóa, một nền nghệ thuật
    và một nền văn học mà tiến trình đã bị ngăn chặn trong một thời gian bởi
    những tình huống bên ngoài…
     

    Trong lĩnh vực tinh thần, những chấn động của cuộc nội chiến đã để lại
    những hậu quả bị đát, không thể cứu vãn được. Khi cuộc nội chiến kết thúc,
    một số khuôn mặt đáng kể nhất của nền văn hóa Tây Ban Nha biến mất…,
    hầu như trong toàn đất nước Tây Ban Nha không còn lấy một nhà trí thức
    có tầm cỡ. Đa số những nhà trí thức đã chọn lựa cuộc sống lưu vong, và thế
    hệ những nhà văn mới ở Tây Ban Nha - những người lẽ ra là bậc thầy của

    họ hoặc đã chết hoặc vắng mặt - bị bỏ mặc cho số phận… - Cela là một
    khuôn mặt lớn đầu tiên nổi lên sau cuộc nội chiến, và trong không khí
    nghèo nàn của văn học Tây Ban Nha, những tác phẩm của ông đã gây được
    tiếng vang lớn, không chỉ vì ông làm chủ được ngôn ngữ - điều này được
    chứng tỏ qua các tác phẩm đó - mà còn vì những tác phẩm của Cela đã thể
    hiện qua nội dung cũng như hình thức một nét độc đáo tương đối, nét độc
    đáo làm kinh ngạc đa số độc giả của ông, bởi họ tuyệt đối không biết những
    đổi mới trong nền tiểu thuyết thế giới, điều này tự nhiên thôi, vì sự cô lập
    của Tây Ban Nha đối với cộng đồng quốc tế trong hơn mười năm sau cuộc
    nội chiến, và còn vì những khó khăn mà thể chế chính trị ở Tây Ban Nha đã
    gây ra cho sự phát triển tinh thần ở đất nước này - một cơ chế chính trị
    mang màu sắc văn hóa khá đặc biệt và thù địch với sự tiến bộ, đã hoành
    hành bên trong xứ sở Tây Ban Nha.
     

    - Thực vậy, với Số đen, công lao của Cela là gấp đôi: trước hết vì ý
    muốn lồng những tác phẩm của ông vào bối cảnh của tinh thần Âu châu mà
    không khước từ bất kỳ một nét đặc trưng nào của Tây Ban Nha… Qua nhân
    vật Pascual Duarte, Cela trình bày một quan điểm duy sinh hầu như thuần
    túy sinh học, nối kết hơn nữa với cái “hành xử” Tây Ban Nha nguyên sơ
    nhất. Trong mọi trường hợp, trong toàn cảnh văn hóa - và cả chính trị - của
    Tây Ban nha, tác phẩm Số đen đã giữ vai trò của sự truyền máu, đã vạch
    một con đường cho những kinh nghiệm của tương lai…
     

    J.M. CASTELLET
     



    Đối với tội lỗi của hắn, người ta nguyền rủa. Người ta cho hắn là ghê
    tởm, là mất tính người. Có ai tìm hiểu được nguyên ủy? Án tử hình là phát
    xét của “Công lý” đối với hắn. Nhưng đối với linh mục khám tử hình, hắn
    chỉ là một con cừu ngoan.
     

    Cái trớ trêu của cuộc đời của hắn phải chăng cũng là của những kẻ bất
    hạnh khác? Và phải chăng đó cũng là điều cho người đọc suy gẫm trong
    cuộc sống quay cuồng phức tạp của thế giới, cuộc sống xu bồ xu bộn đầy
    tội ác ngày nay?
     

    T.V.A.G.
     



    CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI GHI LẠI
     
     

    Tôi nghĩ rằng đã đến lúc tôi phải cho in hồi ký của Pascual Duarte. Nếu
    làm sớm hơn, thì việc chuẩn bị của tôi sẽ cẩu thả. Gấp gáp để làm gì? Cần
    phải có thời gian cho mọi việc, thậm chí để chữa chính tả của một bản thảo,
    và như người ta nói hễ giục tốc thì bất đạt. Và giờ đây cũng không có lý lẽ
    để bào chữa nếu chờ đợi thêm: một khi đã bắt đầu thì công việc phải kết
    thúc và kết quả phải được công bố.
     

    Tôi đã tìm thấy những trang mà tôi chép lại ở sau, vào khoảng giữa
    năm 1939, trong một hiệu thuốc ở Almendralejo (chỉ có Chúa mới biết
    những bàn tay xa lạ nào lúc đầu đã đặt chúng tại đó) và từ thời gian ấy, tôi
    đã sắp xếp cho có thứ tự, ghi lại cho có ý nghĩa, vì những trang đó viết rất
    tháu, không đánh số và lộn xộn, không thể đọc được.
     

    Trước tiên, muốn nói rõ ràng công lao của tôi chỉ là chép lại câu
    chuyện mà hôm nay tôi trình cho độc giả tò mò; tôi không thêm không bớt
    một dấu phẩy, vì muốn tôn trọng cách kể chuyện của Duarte trong từng chi
    tiết, cả ở văn phong của hắn. Đối với một số đoạn quá sống sượng của tác
    phẩm, tôi đã chọn cách cắt hẳn không thương tiếc chứ không viết lại; do
    đó, tất nhiên, độc giả sẽ bị mất một số chi tiết nhỏ - mà có mất cũng không
    hại gì - bù lại độc giả sẽ tránh được những tâm tình đôi khi ghê tởm mà, tôi
    xin nhắc lại, xóa bỏ thì tốt hơn là thay đổi.
     

    Tác giả những trang này theo ý nghĩ của tôi và có lẽ đó là lý do duy
    nhất tôi trình diện hắn, là một người mẫu, không phải người mẫu để bắt
    chước mà để lánh xa; một người mẫu ta không có gì nghi ngại, một người
    ta buộc phải nói:
     

    - Bạn thấy những gì hắn làm chứ? Ấy chính hắn nên làm trái lại.
     

    Nhưng chúng ta hãy nhường lời cho Pascual Duarte, vì chỉ hắn mới có
    những điều thú vị kể cho ta.

     



    BỨC THƯ CỦA DUARTE GỞI NGƯỜI ĐẦU TIÊN
    NHẬN BẢN THẢO CỦA HẮN
     
     

    Don Joaquin Barrera Lopez,
     

    Mérida, tỉnh Badajoz,
     

    Extremadura.
     
     

    Thưa ngài,
     

    Xin được phép gửi đến ngài một câu chuyện rất dài tôi kèm theo thư
    này, bức thư cũng dài. Trong số những người bạn của Don Jésus Gonzalez
    de la Riva (hẳn Chúa đã tha thứ cho ngài ta cũng như ngài ta đã tha thứ
    tôi), ngài là người mà tôi còn nhớ địa chỉ, và vì ý do đó nên tôi gửi cho ngài
    bản thảo của tôi. Xin ngài hãy nhận bản thảo này để tôi khỏi phải giữ, vì
    lúc nào cũng cảm thấy ngột ngạt khi tôi nghĩ rằng tôi có thể viết được nó.
    Và việc tôi gửi nó đi cũng tránh cho tôi khỏi hủy hoại nó trong một cơn
    buồn chán (những thời gian này, Chúa lại thường khiến tôi hay buồn chán),
    điều tránh cho một số người biết những gì mà tôi biết rất muộn.
     

    Tôi xin giải thích một chút. Tôi biết khá rõ rằng hồi ký của tôi, than ôi!
    không có gì xây dựng, và vì tôi muốn trút bỏ gánh nặng đè trĩu lương tâm
    mình bởi sự thú tội công cộng này, nếu có thể, vì đây không phải là một sự
    sám hối nhỏ nhoi, tôi quyết định kể lại phần nào những gì tôi nhớ được về
    đời tôi. Hồi ức không bao giờ là ưu điểm của tôi và có lẽ tôi đã quên cả một
    số chuyện rất thú vị; dù sao, tôi muốn nói những gì đã khắc ghi trong tâm
    trí tôi và những gì bàn tay tôi có thể ghi dễ dàng trên giấy, vì, đối với những
    thứ còn lại tôi cảm thấy tởm lợm nên tôi chọn cách im lặng và cố quên đi.
    Ngay khi bắt đầu ghi lại những hồi ức này, tôi biết rằng có một chuyện tôi
    không đề cập: cái chết của tôi…, mà tôi cầu xin Chúa hãy rút ngắn! Chi tiết

    này khiến tôi suy gẫm rất nhiều và, với cuộc sống ít ỏi còn lại, của mình
    hiện nay, tôi đã có thể thề với ngài rằng hơn một lần tôi suýt bỏ ngang
    không ghi nữa, vì không thấy rõ mình sẽ kết thúc ở đâu. Sau cùng tôi nghĩ
    rằng tốt nhất là cứ bắt đầu, còn kết thúc thì tùy ở lúc Chúa không cho bàn
    tay tôi viết nữa, và đó là điều tôi đã làm. Hôm nay, chán ngấy vì đã viết
    lung tung đầy bao nhiêu tờ giấy, tôi xin kết thúc hẳn câu chuyện của tôi, để
    ngài tự do tưởng tượng đoạn đời còn lại của tôi; chuyện
    này dễ thôi vì giữa
    bốn bức tường này chắc chắn sẽ không có gì to lớn có thể xảy ra thêm với
    tôi.
     

    Lúc bắt đầu viết chuyện này, tôi rất bối rối nghĩ rằng có ai đó biết trước
    là tôi sẽ kết thúc được câu chuyện và biết trước chỗ tôi phải cắt câu chuyện,
    nếu tôi thiếu thời gian; tin chắc rằng tất cả những hành động của tôi cần
    phải theo những con đường đã chọn sẵn cho mình, tôi đâm ra nổi khùng.
    Hôm nay, tôi gần với cuộc sống bên kia thế giới, tôi cam chịu hơn. Tôi tin
    rằng Chúa đã đoái hoài mà tha thứ cho tôi.
     

    Tôi cảm thấy được khuây khỏa phần nào sau khi đã kể lại tất cả những
    gì tôi đã sống, và có những lúc mà chính lương tâm tôi ít ray rứt tôi.
     

    Tôi tin rằng ngài sẽ hiểu những gì tôi không thể diễn đạt hay hơn, bởi
    tôi không biết cách. Giờ đây tôi rất ân hận vì đã lầm đường lạc lối, nhưng
    không xin được tha thứ nữa trong cõi đời này. Có ích lợi gì chứ? Có lẽ sẽ
    tốt hơn nếu người ta đối xử với tôi đúng theo yêu cầu của luật pháp, vì nếu
    họ không làm thế thì rất có thể tôi sẽ trở lại những lầm lỗi trước kia. Tôi
    không muốn xin được ân xá, vì cuộc đời đã dạy cho tôi quá nhiều điều xấu
    xa và tôi quá đuối không chống lại được bản năng mình. Cứ để sự phán xét
    đã được ghi trong Sổ Thiên đình được thực hiện.
     

    Thưa Don Joaquin, xin ngài nhận cùng với những trang bản thảo này
    những lời xin lỗi của tôi vì tôi đã viết cho ngài, và xin ngài hãy ban cho tôi
    sự tha thứ như tôi đã cầu xin, cũng như tôi đã cầu xin với Don Jésus, cho
    người đầy tớ hèn mọn của ngài.
     

    Pascual Duarte
     

    Nhà lao Badajoz,
     



    TRÍCH DI CHÚC

    DO DON JOAQUIN ĐỂ LẠI
     

    DI CHÚC NÀY DO NGÀI TỰ TAY VIẾT; LÚC QUA ĐỜI KHÔNG
    NGƯỜI NỐI DÕI, NGÀI ĐÃ ĐỂ LẠI CHO CÁC BÀ XƠ.
     
     

    Điều bốn:
     

    Tôi ra lệnh rằng cái gói giấy tìm thấy trong ngăn kéo bàn viết của tôi,
    có cột chỉ và ghi bằng bút chì đỏ “Pascual Duarte”, phải bị ném ngay vào
    lửa, không được đọc, vì không lành mạnh và trái với thuần phong mỹ tục.
    Tuy nhiên, nếu do ý định của Thượng đế, không người nào cố tình lờ đi mà
    trong mười tám tháng cái gói nói trên thoát khỏi hình phạt tôi dành cho nó,
    thì tôi ra lệnh cho kẻ nào vớ được nó phải cứu nó thoát khỏi sự hủy hoại,
    nhận nó làm tài sản riêng của mình và tùy nghi sử dụng nó theo ý mình,
    miễn là ý này không mâu thuẫn với ý của tôi.
     

    Làm tại Mérida, tỉnh Badajoz,
     

    trong đêm trước cái chết
     



     
     
     
     
     

    SỐ ĐEN
     



     
     

    Để tưởng nhớ Don Jésus Gonzalez

    de la Riva, bá tước Torremajia; lúc

    bị tác giả câu chuyện này giết chết,

    ngài vẫn gọi hắn là Pascualillo và mỉm

    cười với hắn.
     

    P.D.
     



    I
     
     

    Thưa ngài, tôi không phải là người xấu, dù thực ra tôi có những lý do để
    trở thành người xấu. Chúng ta, con người, lúc sinh ra tất cả chúng ta đều
    trần truồng như nhau, nhưng khi chúng ta trưởng thành thì số phận lại thích
    làm cho chúng ta khác nhau, như thể chúng ta làm bằng sáp, và lôi chúng ta
    qua nhiều ngõ ngách tới điểm tận cùng duy nhất: cái chết. Một số người đi
    trên con đường đầy hoa thơm cỏ lạ trong khi những người khác buộc phải
    theo con đường đầy chông gai. Người thì có cái nhìn thanh thản và, trong
    hương vị của hạnh phúc, họ mỉm cười hết sức ngây thơ; người khác thì đau
    đớn trong cánh đồng chói chan ánh nắng, giương lông tua tủa, như những
    con sâu để tự vệ. Để trang điểm thân thể mình, người thì dùng phấn son và
    nước hoa còn người khác thì dùng những dấu chàm mà sau đó không bao
    giờ xóa nhòa được…
     

    Tôi sinh ra cách nay rất nhiều năm, ít ra là năm mươi lăm năm, trong
    một xã hẻo lánh của tỉnh Badajoz. Xã này cách Almendralejo độ hai dặm,
    nằm trên một con đường đơn điệu và dài như một ngày thiếu ăn, đơn điệu
    và dài như những ngày - mà, may mắn thay, ngài không thể tưởng tượng
    được chiều dài và sự đơn điệu - của một tên tội tử hình…
     

    Xã đó là một xã nóng và có ánh sáng, khá giàu cây ô-liu và lợn (xin lỗi),
    với những ngôi nhà quét nước vôi rất trắng mà khi nhớ đến tôi thấy đôi mắt
    mình như lòa đi, với một quảng trường toàn trải đá cuội và một vòi nước
    xinh xắn có ba tia ở giữa. Nước không còn phun nữa mấy năm trước khi tôi
    lìa khỏi xã, tuy nhiên đối với tất cả chúng tôi cái vòi nước ấy duyên dáng và
    thanh lịch, tận cùng vòi nước là tượng một đứa bé trần truồng, quanh thành
    bồn nước trang trí những hình gờn gợn như những vỏ sò của những người
    hành hương. Tại quảng trường là trụ sở hành chính của xã, to và vuông vức,
    như một gói thuốc lá, có một cái tháp ở giữa, trong tháp là một cái đồng hồ,
    mặt đồng hồ trắng như bánh thánh, mấy cây kim thì lúc nào cũng dừng vào
    lúc chín giờ; hẳn tòa nhà này không cần nó phục vụ mình, mà chỉ cần nó để
    trang trí thôi.
     

    Trong xã đương nhiên có nhà đẹp nhà xấu; nhà xấu nhiều hơn nhà đẹp chuyện rất bình thường; có một ngôi nhà hai tầng, ngôi nhà của Don Jésus,
    trông khá ngoạn mục, đường vào nhà trang trí gạch vuông bằng sành và
    bình hoa. Don Jésus vốn rất thích cây cỏ và tôi có thể đánh cuộc rằng ông ta
    đã ra lệnh cho bà quản gia chăm sóc đám phong lữ, vòi voi, cọ và bạc hà
    một cách thương mến như đối với trẻ con, vì lúc nào bà ta cũng cầm xoong
    chạy lăng xăng tưới những chậu cây đó, với một sự chăm sóc mà những cây
    ấy phải đánh giá cao, vì chúng mọc lên xanh mướt, sởn sơ. Ngôi nhà của
    Don Jésus cũng nằm trên quảng trường đó, nổi bật so với những ngôi nhà
    khác bởi ưu điểm mà tôi đã nói, nhưng cũng bởi một khuyết điểm chỉ nó bị
    mà thôi: dù chủ nhà giàu có và không chú ý đến việc chi tiêu, mặt tiền của
    ngôi nhà rất tầm thường, màu sắc là màu sắc tự nhiên của lá, không quét vôi
    trắng, trong khi chính ngôi nhà nghèo nàn nhất cũng quét vôi trắng; hẳn
    Don Jésus có lý do riêng của mình khi để như thế. Phía trên cửa cái người ta
    thấy những cái khiên bằng đá, người ta bảo rằng khối đá này có giá trị rất
    lớn, phần chỏm tượng trung cho hai cái đầu của các chiến binh thời cổ, đội
    mũ sắt có gắn lông; một chiến binh nhìn về phía đông, chiến binh kia nhìn
    về phía tây, tựa hồ như họ đang canh gác hai phía.
     

    Phía sau quảng trường, về phía ngôi nhà của Don Jésus là nhà thờ xứ,
    với gác chuông bằng đá, chuông ngân nga một cách kỳ lạ không biết nói là
    cách gì, nhưng ngay lúc này tôi nghe như cách đây nửa thước… Tháp
    chuông cùng chiều cao với cái đồng hồ và, vào mùa hè, khi về tổ, một số
    con cò đến tháp chuông này, một số con đến tháp chuông khác, mỗi con vẫn
    nhớ đến một trong hai tháp chuông nó đã đậu năm trước; một chú cò què
    vẫn ở đó trong hai mùa đông, thuộc về cái tổ chim của nhà thờ, chú đã rời
    khỏi tổ khi còn bé tí tẹo, lúc bị diều hâu săn đuổi.
     

    Nhà tôi nằm riêng một nơi, cách những ngôi nhà cuối cùng trong xã hai
    trăm bước đúng. Ngôi nhà chật hẹp và chỉ có một tầng: các phòng thì tù
    túng như tương ứng với địa vị của tôi; tuy nhiên tôi thích nó và thậm chí đôi
    khi tôi tự hào vì nó. Thật ra, chỉ có nhà bếp là căn phòng duy nhất thật sự
    tươm tất, bước vào nhà thì đụng ngay, nhà bếp lúc nào cũng sạch sẽ và quét
    vôi trắng tinh; sàn nhà bằng đất, nhưng nện rất kỹ, với những hòn đá cuội
    nhỏ lát nền trông như những bức họa, không kém gì nhiều nền nhà khác mà
    chủ nhà cho trát xi-măng để có vẻ hiện đại hơn. Lò sưởi rộng và sáng; xung

    quanh mặt lò sưởi là một cái tủ chén đựng đồ trang trí bằng sành, những
    bình nhỏ với những đề từ lưu niệm sơn xanh, những cái dĩa nhỏ với những
    bức họa màu xanh hoặc màu cam; một số dĩa trang trí hình mặt người, một
    số khác hình bông hoa, một số khác một cái tên, một số khác hình cá.
     

    Trên tường treo nhiều món đồ: trên một tấm lịch rất xinh là hình ảnh
    một thiếu phụ ngồi trên một chiếc xuồng, tay phe phẩy quạt, phía dưới có
    ghi dòng chữ như được viết bằng nhũ bạc:
     

    “Modesto Rodriguez. Cửa hang gia vị ngon. Mérida, tỉnh Badajoz”; một
    [1]
    chân dung màu của Espartero
    trong bộ y phục đấu bò: ba bốn bức ảnh
    chụp - cái nhỏ cái trung bình - của những người tôi không quen biết, vì lúc
    nào tôi cũng thấy ngay chỗ đó và tôi không bao giờ có ý hỏi để biết. Chúng
    tôi cũng thấy treo trên tường cái đồng hồ báo thức, vì chỉ có Chúa mới biết
    tại sao, nó vẫn chạy tốt; và một cái gối nhỏ để găm kim bằng vải lông màu,
    găm vào đó là những cây kim ghim xinh xắn, đầu kim nhỏ bằng thủy tinh
    màu.
     

    Bàn ghế trong nhà bếp về ít oi vừa đơn giản, gồm ba chiếc ghế tựa - một
    chiếc rất thanh lịch, lưng ghế và chân ghế bằng gỗ uốn cong, mặt ghế bằng
    mây - và một cái bàn bằng gỗ thông, có ngăn kéo, hơi thấp so với những
    chiếc ghế nhưng còn dùng được. Bên trong nhà bếp thì ngon lành lắm; nó
    có chỗ thoải mái và, vào mùa hè, trước khi chúng tôi phải đốt lửa ở lò sưởi
    như lúc vào thu, vào cuối ngày, mở to cửa rồi ngồi trên thành đá của lò sưởi
    thì thật mát; vào mùa đông, lò sưởi làm chúng tôi ấm áp và lắm khi, nếu cố
    giữ một chút than hồng, tro vẫn toát hơi nóng suốt cả đêm. Thật thú vị khi
    ngắm bóng mình trên tường trong lúc những ngọn lửa nhảy múa trong vỉ lò!
    Những cái bóng ấy đi đi lại lại, lúc chậm chạp, lúc nhảy chồm chồm như
    vui đùa. Tôi nhớ rằng lúc bé tôi sợ những cái bóng ấy lắm và, giờ đây khi
    đã lớn, tôi vẫn còn rùng mình khi nhớ đến những cơn sợ kia.
     

    Những cái khác trong nhà không cần phải bỏ công miêu tả, vì quá thông
    thường. Chúng tôi có hai phòng nữa, gọi là phòng cho có gọi vì có dáng của
    căn phòng, và có một chuồng ngựa, mà tôi thường tự hỏi rằng tại sao chúng
    tôi lại gọi như vậy, vì không có con ngựa nào và để cho mục nát. Chúng tôi,

    tôi và vợ tôi, ngủ trong một phòng, cha mẹ tôi ngủ trong một phòng khác
    cho tới khi Chúa, có thể là Diêm vương, quyết định mang ông bà đi; sau đó
    căn phòng ấy hầu như luôn luôn trống vắng: đầu tiên vì không có ai ở và
    sau đó vì người có thể ở đó đều thích ở nhà bếp hơn bởi lẽ nhà bếp sáng sủa
    và không bị gió mạnh lùa vào. Chẳng hạn em gái tôi luôn luôn ngủ ở đó khi
    nó đến thăm chúng tôi, và khi tôi có con thì nó theo con đường đó mỗi khi
    nó rời váy mẹ. Sự thật thì những căn phòng này không sạch lắm, xây cất
    cũng không tốt lắm, nhưng cũng không có gì để phàn nàn; điều chủ yếu là
    có thể sống ở đó, đó là nơi che chở ta tránh khỏi cơn mưa lúc Giáng sinh và
    có thể nói là nơi ta trú ẩn khỏi những cái nóng ngột ngạt vào dịp lễ Thăng
    thiên. Chỗ tệ nhất là chuồng ngựa; nó tăm tối, nhớp nháp, vách xông mùi
    thối hoắc của thú chết từ khe núi bốc lên vào tháng năm, khi những xác chết
    dưới đó bắt đầu thối rữa còn lũ quạ lại sà xuống ăn…
     

    Có chuyện lạ là, lúc còn trẻ, lúc khỏi hít phải mùi thối đó tôi lại cảm
    thấy đau khổ muốn chết; tôi nhớ lại chuyến tôi lên tỉnh đăng ký nghĩa vụ
    quân sự; suốt cả ngày khỉ gió đó tôi lơ lơ lửng lửng, hít hít không khí như
    một con chó săn. Trở về quán trọ, lên giường ngủ, hít cái quần nhung của
    mình, tôi mới tỉnh ra. Máu lại sưởi ấm toàn thân tôi… Tôi đẩy chiếc gối ra
    xa và tôi gối đầu lên chiếc quần đã xếp và đêm đó tôi ngủ say như chết.
     

    Chúng tôi giữ một con lừa nhỏ gầy nhom, hom hem trong chuồng ngựa
    để giúp chúng tôi làm việc, và khi gặp vận đỏ (nói thật, không phải lúc nào
    cũng như vậy), chúng tôi cũng có hai ba con lợn (xin lỗi). Phía sau nhà có
    một cái sân; sân này nhỏ nhưng dùng được; tại đây có một cái giếng mà tôi
    đã lấp đi vì nước giếng không lành.
     

    Phía sau cái sân là một dòng suối chảy qua, thường cạn nước và không
    bao giờ nước quá đầy, bẩn thỉu và hôi hám như một lũ di-gan; tại đây người
    ta có thể câu được những con lươn nung núc, đôi khi tôi cũng làm vậy vào
    buổi xế để giết thì giờ. Tính vốn khôi hài, vợ tôi bảo rằng mấy con lươn đó
    thật béo bởi vì chúng ăn cùng thứ với Don Jésus, nhưng chỉ muộn hơn một
    ngày thôi. Tôi mải câu không chú ý giờ giấc trôi qua nhanh nên khi tôi thu
    xếp dụng cụ thì trời gần tối; đằng kia, ở xa xa, như một con rùa béo lùn,
    như rắn nước cuộn tròn bám sát mặt đất sợ phải di chuyển, Almendralejo
    thắp sáng những ngọn đèn điện… Chắc chắn là ở Almendralejo, không ai

    biết rằng tôi đi câu, rằng chính lúc ấy tôi ngắm những ngọn đèn cháy lên
    trong nhà họ, rằng tôi đang đoán những gì họ nói và tưởng tượng trong trí
    những đề tài họ nói. Người dân thành thị sống quay lưng lại sự thật, và
    thường thường họ không cần chú ý rằng chỉ cách đây hai dặm, giữa cánh
    đồng, một người dân nông thôn đang vẩn vơ nghĩ tới họ, trong khi anh ta
    thu xếp dụng cụ câu cá và cầm lên chiếc giỏ nhỏ bằng liễu gai bên trong có
    sáu bảy con lươn!
     

    Tuy nhiên, không bao giờ tôi nghĩ rằng câu cá là công việc đáng mặt
    đàn ông, và tôi thường thích giải trí bằng cách đi săn; trong xã tôi nổi tiếng
    là bắn không tệ và, không cần khiêm tốn, tôi phải thành thực nói rằng tiếng
    tăm đó là xứng đáng. Tôi có một con chó cái xù nhỏ tên Tia lửa, nửa nòi
    nửa lai, rất hợp ý tôi; buổi sáng tôi và nó thường đi chung với nhau ra cái
    đầm cách xã tôi một dặm rưỡi, phía biên giới Poóc-tu-gan, và không bao
    giờ chúng tôi về không. Chuyến về, con chó chạy phía trước và luôn luôn
    chờ tôi ở ngã tư; tại đó có một hòn đá tròn và phẵng, giống như một chiếc
    ghế thấp, mà tôi nhớ đến cũng vui sướng như nhớ bất cứ người nào, thực ra
    còn vui sướng hơn nhớ nhiều người… Hòn đá ấy rộng, hơi sâu, và khi tôi
    ngồi lên đó, đít tôi (xin lỗi) vừa vặn chỗ lõm nên tôi thấy rất thoải mái và
    không muốn bỏ về; tôi thường ngồi trên đó có một lúc, miệng huýt sáo, hai
    chân kẹp cây súng, mắt nhìn những gì có thể nhìn, miệng phì phèo thuốc lá.
    Phía trước, con chó nhỏ ngồi xổm, cái đầu ngoẹo sang bên, đôi mắt bé màu
    hạt dẽ rất linh lợi; tôi nói với nó và nó hơi vễnh đôi tai như để nghe tôi rõ
    hơn; nếu tôi im lặng, nó lợi dụng ngay cơ hội đó để chạy theo mấy con châu
    chấu hoặc giản dị hơn để đổi thế ngồi. Lúc nào cũng vậy, khi bước đi,
    không hiểu tại sao tôi quay lại nhìn hòn đá, tựa hồ như để chào tạm biệt và,
    một hôm, lúc tôi cất bước thì dường như hòn đá buồn lắm nên tôi phải quay
    lại ngồi xuống lần nữa… Con chó trở lại ngồi trước mặt tôi và nhìn tôi; giờ
    đây tôi hiểu rằng nó nhìn với ánh mắt của kẻ nghe xưng tội, dò xét và lạnh
    lùng, dường như là ánh mắt của lũ mèo linh. Bỗng nhiên tôi cảm thấy rờn
    rợn khắp toàn thân; dường như một dòng điện muốn thoát khỏi những cánh
    tay tôi. Điếu thuốc của tôi đã tắt; cây súng một nòng ở giữa hai chân tôi, tôi
    chậm rãi vuốt vuốt cây súng. Con chó vẫn nhìn tôi đăm đăm, tựa hồ như
    trước đây nó chưa bao giờ thấy tôi, tựa hồ như nó sắp tố cáo tôi chuyện gì
    khủng khiếp lắm; cái nhìn của nó làm máu trong huyến quản tôi sôi sục và

    tôi thấy sắp trở lại lúc tôi phải chịu thua; trời nóng, một cái nóng kinh hồn,
    mắt tôi nhắm lại, vì không chịu nổi cái nhìn của con vật, cái nhìn sắc lẹm…
     

    Tôi chộp khẩu súng và bấm cò; tôi lên đạn và bấm cò lần nữa. Máu của
    con chó, đen ngòm, sền sệt, từ từ chảy dài trên mặt đất.
     



    II
     
     

    Về thời niên thiếu của tôi, tôi không có những kỷ niệm đẹp. Cha tôi tên
    Esteban Duarte Diniz. Ông là người Poóc-tu-gan; lúc tôi còn bé, ông đã trên
    bốn mươi, đối với tôi ông cao lớn, phục phịch. Da ông ngăm đen, ông có
    một bộ ria mép lớn, đen ngòm, chỉa xuống đất. Dường như lúc còn trẻ ông
    để ria vểnh, nhưng sau một lần tù, ông mất vẻ oai vệ, bộ ria cứng rắn yếu đi
    và ông để nó buông xuống cho đến ngày từ trần. Tôi rất tôn kính ông và
    cũng rất sợ ông, nên hễ có dịp là lảng đi và cố tránh mặt ông; ông nói năng
    cụt ngũn, tính tình hung bạo, không bao giờ chịu để ai trái ý mình dù nhỏ
    nhoi, một cái thói mà tôi cũng tôn trọng bởi vì như thế có lợi cho tôi. Khi
    nổi giận, mà tính ông lại rất hay giận, chuyện không có gì ông cũng nện mẹ
    tôi và tôi những trận đòn thật đau; mẹ tôi cố đánh trả để xem có thể sửa đổi
    tính tình ông không, còn tôi, vì còn con nít nên tôi đành chịu bị đòn. Mà
    vào tuổi đó thì da thịt mềm mại biết bao!
     

    Tôi không bao giờ có gan hỏi cha tôi hoặc mẹ tôi về thời gian ông bị tù,
    nghĩ rằng chuyện cũ đã êm, tốt hơn không nên bới ra làm gì cho lôi thôi,
    bởi vì không bới ra cũng đã lôi thôi nhiều, thật ra, tôi không cần gì tìm hiểu,
    bởi vì lúc nào cũng có những người từ thiện, nhất là trong những xã nhỏ, và
    có những người hết sức vội vã kể ta nghe tất cả mọi chuyện. Người ta đã bắt
    ông vì tội buôn lậu; vả lại ông làm nghề buôn lậu đã nhiều năm, nhưng đi
    đêm ắt có ngày gặp ma, một hôm, hẳn là ngày ông ít ngờ nhất - vì sự tự tin
    thường tố cáo những người can đảm - nhân viên quan thuế theo ông, phát
    hiện hàng hóa của ông và dẫn ông vào nhà lao. Chuyện đó xảy ra lâu lắm
    rồi, vì tôi không nhớ gì cả; có ...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML