CHÀO XUÂN MỚI
Số Đen - Camilo José Cela & Trương Võ Anh Giang (dịch)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:42' 17-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:42' 17-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
SỐ ĐEN
Camilo José Cela
Making Ebook Project
BOOKAHOLIC CLUB
Tên sách: SỐ ĐEN
Tác giả: Camilo José Cela
Nguyên tác: La familia de Pascual Duarte
Dịch giả: Trương Võ Anh Giang
Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn
Năm xuất bản: 1991
Số trang: 250
Khổ sách: 13 x 19 cm
Ảnh bìa: Hồng Đức
Đánh máy: Phương Nhi, Thu Hoài, Duyên, Bảo Trân, Hải Anh
Soát lỗi: Vân Thu
Chế bản ebook: Hồng Sơn
Ngày thực hiện: 21/10/2012
Making Ebook Project #282 - www.BookaholicClub.com
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
TRÍCH LỜI BẠT
TRÍCH “LỜI TỰA”
CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI GHI LẠI
BỨC THƯ CỦA DUARTE GỞI NGƯỜI ĐẦU TIÊN NHẬN BẢN
THẢO CỦA HẮN
TRÍCH DI CHÚC DO DON JOAQUIN ĐỂ LẠI
SỐ ĐEN
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
XIII
XIV
XV
XVI
XVII
XVIII
XIX
CHÚ THÍCH KHÁC CỦA NGƯỜI GHI LẠI
BỨC THƯ THỨ NHẤT
BỨC THƯ THỨ HAI
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Nhà văn Tây Ban Nha Camilo José Cela sinh trong một gia đình
thượng lưu bản sứ, học nghành y nhưng thường xuyên nghe các bài giảng
văn tại khoa Triết Đại học Madrid. Những năm 30, Camilo José Cela tham
gia nội chiến Tây Ban Nha nhưng bị lao phổi nặng. Khỏi bệnh ông chuyển
sang học Luật ở Madrid, và bắt đầu viết văn. Năm 1934, ông viết bài thơ
đầu tiên Đám tang tôi và từ đó cái chết là đề tài ám ảnh trong các tác phẩm
của ông; Năm 1942, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết Gia đình Pascual Duarte
và nhanh chóng trở lên nổi tiếng; đuợc đánh giá là cuốn tiểu thuyết hay nhất
Tây Ban Nha kể từ thời Don Kihote. Camilo José Cela sáng tác rất nhiều
thể loại: Tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn, kí, kịch, thơ, truyện dịch, Ông
còn soạn Từ điển bí mật, 11 tập, gồm những từ vựng kiêng húy, bị cấm
đoán, tiếng lóng đường phố…, và Bách khoa tình dục, song tác phẩm nổi
tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Tổ ong kể về cuộc sống của dân chúng ở
thủ đô Madrid sau khi kết thúc nội chiến. Năm 1983 ông cho ra đời tiểu
thuyết được coi là “Trào phúng đen” – Bản Mazurca cho hai người chết.
Năm 1989, Camilo José Cela là nhà văn đầu tiên của Tây Ban Nha được
tặng giải Nobel văn học cho những tác phẩm được viết theo lối văn súc tích,
cô đọng thể hiện lòng trắc ẩn vô hạn đối với những phận người cay đắng và
hoang mang trong cuộc chiến phi lí. Ông được coi là nhà văn nổi bật nhất
của Tây Ban Nha sau chiến tranh.
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
Số đen là câu chuyện về cuộc đời của anh nông dân người Tây Ban Nha
là Pascual Duarte sinh ra trong một thế giới khắc nghiệt đầy trụy lạc, thù
hận và đói nghèo. Câu chuyện được Pascual kể lại từ trong nhà tù nơi anh
bị giam giữ chờ ngày hành quyết vì những tội giết người mà anh đã thực
hiện trong suốt cuộc đời mình. Mặc dù đã có những động lực độc ác và dã
man, Pascual vẫn giữ lại được cái nhìn đầy thơ trẻ về thế giới và niềm khao
khát cháy bỏng để hiểu được số phận nào đã đưa anh vào con đường đầy
máu.
TRÍCH LỜI BẠT
Bản dịch tiếng Anh cuốn “Số Đen”
Một trong những nhà văn tài ba nhất của thế giới đứng về phía những
người bị đày xuống địa ngục trong những năm đảo lộn dưới chế độ bọn
Trục là Camilo José Cela ở Tây Ban Nha…
Cela là một gương mặt nổi bật, ghi chép về cuộc đời của những người
dân quê ngu dốt của Castille và những kẻ giết người của Extremadura.
Cuốn Số đen, lấy chủ đề quanh việc giết người một cách không có ý
nghĩa. Như một tiếng chuông gọi hồn thật to, cuốn sách vang lên với âm
thanh của một khoảng không về tinh thần. Hồi chuông báo tử xuyên qua
một thảo nguyên trống rỗng của tâm hồn… Phía sau và phía dưới tác phẩm
là vực thẳm của một cuộc chiến tranh vừa bước vào cao điểm, sự tiêu điều
lan rộng của một hậu quả đã thấy trước, sự thiếu đức tin vào bất cứ những
gì không có trước mắt, cái huyền thoại được làm sang tỏ, cái phi lý của vận
may…
… Một nhà thơ nổi tiếng trong nước đã đặt Cela vào hàng ngũ những
nhà văn lớn ở Tây Ban Nha có nhiều tài năng trong “nghệ thuật gây dựng
cái đẹp từ “con số không” và từ những cái khiếm khuyết”. Đó là một truyền
thống của bốn trăm năm văn học sử mà bắt đầu là tiểu-thuyết-lấy-kẻ-bấtlương-làm-nhân-vật-chính…
… Camilo José Cela đã tạo ra một thế giới mà nghị lực con người
không còn nữa, những nghị lực phải cúi đầu trước sự hư không hầu như
huyền bí của con tim chính mình. Những nhân vật của ông không bao giờ đi
ngang qua mặc cảm xã hội để đến số phận, xuyên qua những con đường
mòn của xã hội, nói gì đến Hình hài của Chúa Ki-tô hay Nhà chung. Họ có
thể vật vã đấu tranh, nhưng luôn luôn họ đầu hàng chính họ vào lúc cuối
cùng. Pascual Duarte đã hành động như thế bên ngoài pháp luật. Hắn hài
lòng chấp nhận tầm cỡ đầy đủ của chính hắn… Ở Cela, khuynh hướng đó là
một niềm tin hầu như huyền bí vào sự đúng đắn của điều không lường trước
được.
Trong khai từ một quyển sách nghiên cứu về “hệ thống thẩm mỹ” trong
tác phẩm ông của một nhà khảo cứu, ông viết:
“Nhà văn chúng ta sống một ít như con ốc, thỉnh thoảng vươn cổ ra để
chỉ rụt vào hầu như liền lúc ấy… Nhà văn chúng ta chỉ cần năm sáu ý
tưởng rõ rệt… để giữ chúng ta bên lề của các thể chế, tất cả các thể chế đó
đều không tốt, không có ngoại lệ, tất cả các thể chế đó đều thối rữa và cũ
rích”.
Số đen là một tác phẩm nghiên cứu về tâm lý của cái sợ, về sự hung
hăng của cái sợ. Một cách đầy đủ hơn: sự hung hăng của sự sợ hãi lẫn rụt
rè, và cái tội ác về cả hai điều này.
Tất cả điều này là trần trụi, vì không có tính người, như hòn đá, khi nó
không trình diễn cái nghèo. Sức mạnh của tác phẩm là hành động của một ý
chí bị tiêu diệt, hay một ý-muốn-dẫn-đến-sự-tiêu-diệt. Thật hết sự kinh tởm
chuyện người mẹ cắn sứt đầu vú đàn ông không còn tác dụng nữa của con
trai, người con trai cứ tin rằng người mẹ là để cho sự giết chóc. Thật quái dị
khi ta thấy một con chó săn bị giết vì theo chủ trong lúc hắn nổi cơn bốc
đồng; thật hung bạo khi hắn giết một người đàn ông để trả thù vì tình yêu
của hắn đối với vợ hắn. Tóm lại, có đủ để biến Số đen thành một tiểu thuyết
cao cấp của truyền thống “biểu hiện” (nói theo hội họa).
Để riêng mọi sự phân biệt về cái thế giới hiện hữu và nơi cứ trú, Cela
chắc chắn là nhà văn kỳ cựu nhất của Tây Ban Nha hôm nay: kỳ cựu về âm
thanh, về ngôn từ Tây Ban Nha.
Ngôn ngữ của ông là ngôn ngữ của Đôn Kihôtê lẫn Sancho Pancha…
Thế giới của ông mong manh như không khí ở Avila. Nó cũng đầy đất
như ở Andalusia…
Trung tâm của ông là Madrid. Ông bị đẩy tới đó bởi một lực hướng tâm
đặc biệt của Tây Ban Nha.
Và ông đã đứng ngay trung tâm của truyền thống văn chương đó.
Anthony KERRIGAN
TRÍCH “LỜI TỰA”
(Bản dịch tiếng Pháp)
Thỉnh thoảng, không đều đặn và như thể bất ngờ, đã xuất hiện những
cuốn tiểu thuyết mà tầm quan trọng không chỉ ở phẩm chất văn chương của
tác phẩm, nhưng còn do tính độc đáo của đề tài và tính mới mẻ trong hình
thức những tác phẩm đó. Như vậy, những tác phẩm này đã tạo một ảnh
hưởng đáng kể đến một số đông các nhà văn, sau đó ảnh hưởng đến thị hiếu
của quần chúng, và về lâu về dài cuối cùng tác phẩm đã có tác động làm
thay đổi đường hướng của những trào lưu văn chương của cả một thời kỳ.
Sẽ có những độc giả sành sỏi cho rằng nói như vậy, tôi muốn ám chỉ tới
những tác phẩm rất khác biệt nhau về kỹ thuật cấu thành tác phẩm, về quan
niệm cũng như về số độc giả đặc trưng của những tác phẩm đó vào thời
điểm chúng xuất hiện…
Tuy nhiên, đôi khi vì những tình huống lịch sử, chính trị hoặc kinh tế,
một số xứ sở tạm thời buộc phải đứng bên lề dòng tiến hóa không thể cưỡng
lại được của toàn nhân loại. Bấy giờ, đời sống văn hóa của những xứ sở ấy
phải cam chịu một thứ thoái hóa làm tê liệt trong một mức độ nào đó những
biểu hiện tinh thần của đời sống văn hóa của nhân loại. Nhưng dẫu vậy,
cuộc sống vẫn tiếp diễn, và một người quan sát chuyên chú và kiên trì sẽ
chẳng hề chậm trễ để nhận ra những trăn trở dù yếu ớt, những vận động đầu
tiên nhằm báo hiệu sự phục hưng của một nền văn hóa, một nền nghệ thuật
và một nền văn học mà tiến trình đã bị ngăn chặn trong một thời gian bởi
những tình huống bên ngoài…
Trong lĩnh vực tinh thần, những chấn động của cuộc nội chiến đã để lại
những hậu quả bị đát, không thể cứu vãn được. Khi cuộc nội chiến kết thúc,
một số khuôn mặt đáng kể nhất của nền văn hóa Tây Ban Nha biến mất…,
hầu như trong toàn đất nước Tây Ban Nha không còn lấy một nhà trí thức
có tầm cỡ. Đa số những nhà trí thức đã chọn lựa cuộc sống lưu vong, và thế
hệ những nhà văn mới ở Tây Ban Nha - những người lẽ ra là bậc thầy của
họ hoặc đã chết hoặc vắng mặt - bị bỏ mặc cho số phận… - Cela là một
khuôn mặt lớn đầu tiên nổi lên sau cuộc nội chiến, và trong không khí
nghèo nàn của văn học Tây Ban Nha, những tác phẩm của ông đã gây được
tiếng vang lớn, không chỉ vì ông làm chủ được ngôn ngữ - điều này được
chứng tỏ qua các tác phẩm đó - mà còn vì những tác phẩm của Cela đã thể
hiện qua nội dung cũng như hình thức một nét độc đáo tương đối, nét độc
đáo làm kinh ngạc đa số độc giả của ông, bởi họ tuyệt đối không biết những
đổi mới trong nền tiểu thuyết thế giới, điều này tự nhiên thôi, vì sự cô lập
của Tây Ban Nha đối với cộng đồng quốc tế trong hơn mười năm sau cuộc
nội chiến, và còn vì những khó khăn mà thể chế chính trị ở Tây Ban Nha đã
gây ra cho sự phát triển tinh thần ở đất nước này - một cơ chế chính trị
mang màu sắc văn hóa khá đặc biệt và thù địch với sự tiến bộ, đã hoành
hành bên trong xứ sở Tây Ban Nha.
- Thực vậy, với Số đen, công lao của Cela là gấp đôi: trước hết vì ý
muốn lồng những tác phẩm của ông vào bối cảnh của tinh thần Âu châu mà
không khước từ bất kỳ một nét đặc trưng nào của Tây Ban Nha… Qua nhân
vật Pascual Duarte, Cela trình bày một quan điểm duy sinh hầu như thuần
túy sinh học, nối kết hơn nữa với cái “hành xử” Tây Ban Nha nguyên sơ
nhất. Trong mọi trường hợp, trong toàn cảnh văn hóa - và cả chính trị - của
Tây Ban nha, tác phẩm Số đen đã giữ vai trò của sự truyền máu, đã vạch
một con đường cho những kinh nghiệm của tương lai…
J.M. CASTELLET
Đối với tội lỗi của hắn, người ta nguyền rủa. Người ta cho hắn là ghê
tởm, là mất tính người. Có ai tìm hiểu được nguyên ủy? Án tử hình là phát
xét của “Công lý” đối với hắn. Nhưng đối với linh mục khám tử hình, hắn
chỉ là một con cừu ngoan.
Cái trớ trêu của cuộc đời của hắn phải chăng cũng là của những kẻ bất
hạnh khác? Và phải chăng đó cũng là điều cho người đọc suy gẫm trong
cuộc sống quay cuồng phức tạp của thế giới, cuộc sống xu bồ xu bộn đầy
tội ác ngày nay?
T.V.A.G.
CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI GHI LẠI
Tôi nghĩ rằng đã đến lúc tôi phải cho in hồi ký của Pascual Duarte. Nếu
làm sớm hơn, thì việc chuẩn bị của tôi sẽ cẩu thả. Gấp gáp để làm gì? Cần
phải có thời gian cho mọi việc, thậm chí để chữa chính tả của một bản thảo,
và như người ta nói hễ giục tốc thì bất đạt. Và giờ đây cũng không có lý lẽ
để bào chữa nếu chờ đợi thêm: một khi đã bắt đầu thì công việc phải kết
thúc và kết quả phải được công bố.
Tôi đã tìm thấy những trang mà tôi chép lại ở sau, vào khoảng giữa
năm 1939, trong một hiệu thuốc ở Almendralejo (chỉ có Chúa mới biết
những bàn tay xa lạ nào lúc đầu đã đặt chúng tại đó) và từ thời gian ấy, tôi
đã sắp xếp cho có thứ tự, ghi lại cho có ý nghĩa, vì những trang đó viết rất
tháu, không đánh số và lộn xộn, không thể đọc được.
Trước tiên, muốn nói rõ ràng công lao của tôi chỉ là chép lại câu
chuyện mà hôm nay tôi trình cho độc giả tò mò; tôi không thêm không bớt
một dấu phẩy, vì muốn tôn trọng cách kể chuyện của Duarte trong từng chi
tiết, cả ở văn phong của hắn. Đối với một số đoạn quá sống sượng của tác
phẩm, tôi đã chọn cách cắt hẳn không thương tiếc chứ không viết lại; do
đó, tất nhiên, độc giả sẽ bị mất một số chi tiết nhỏ - mà có mất cũng không
hại gì - bù lại độc giả sẽ tránh được những tâm tình đôi khi ghê tởm mà, tôi
xin nhắc lại, xóa bỏ thì tốt hơn là thay đổi.
Tác giả những trang này theo ý nghĩ của tôi và có lẽ đó là lý do duy
nhất tôi trình diện hắn, là một người mẫu, không phải người mẫu để bắt
chước mà để lánh xa; một người mẫu ta không có gì nghi ngại, một người
ta buộc phải nói:
- Bạn thấy những gì hắn làm chứ? Ấy chính hắn nên làm trái lại.
Nhưng chúng ta hãy nhường lời cho Pascual Duarte, vì chỉ hắn mới có
những điều thú vị kể cho ta.
BỨC THƯ CỦA DUARTE GỞI NGƯỜI ĐẦU TIÊN
NHẬN BẢN THẢO CỦA HẮN
Don Joaquin Barrera Lopez,
Mérida, tỉnh Badajoz,
Extremadura.
Thưa ngài,
Xin được phép gửi đến ngài một câu chuyện rất dài tôi kèm theo thư
này, bức thư cũng dài. Trong số những người bạn của Don Jésus Gonzalez
de la Riva (hẳn Chúa đã tha thứ cho ngài ta cũng như ngài ta đã tha thứ
tôi), ngài là người mà tôi còn nhớ địa chỉ, và vì ý do đó nên tôi gửi cho ngài
bản thảo của tôi. Xin ngài hãy nhận bản thảo này để tôi khỏi phải giữ, vì
lúc nào cũng cảm thấy ngột ngạt khi tôi nghĩ rằng tôi có thể viết được nó.
Và việc tôi gửi nó đi cũng tránh cho tôi khỏi hủy hoại nó trong một cơn
buồn chán (những thời gian này, Chúa lại thường khiến tôi hay buồn chán),
điều tránh cho một số người biết những gì mà tôi biết rất muộn.
Tôi xin giải thích một chút. Tôi biết khá rõ rằng hồi ký của tôi, than ôi!
không có gì xây dựng, và vì tôi muốn trút bỏ gánh nặng đè trĩu lương tâm
mình bởi sự thú tội công cộng này, nếu có thể, vì đây không phải là một sự
sám hối nhỏ nhoi, tôi quyết định kể lại phần nào những gì tôi nhớ được về
đời tôi. Hồi ức không bao giờ là ưu điểm của tôi và có lẽ tôi đã quên cả một
số chuyện rất thú vị; dù sao, tôi muốn nói những gì đã khắc ghi trong tâm
trí tôi và những gì bàn tay tôi có thể ghi dễ dàng trên giấy, vì, đối với những
thứ còn lại tôi cảm thấy tởm lợm nên tôi chọn cách im lặng và cố quên đi.
Ngay khi bắt đầu ghi lại những hồi ức này, tôi biết rằng có một chuyện tôi
không đề cập: cái chết của tôi…, mà tôi cầu xin Chúa hãy rút ngắn! Chi tiết
này khiến tôi suy gẫm rất nhiều và, với cuộc sống ít ỏi còn lại, của mình
hiện nay, tôi đã có thể thề với ngài rằng hơn một lần tôi suýt bỏ ngang
không ghi nữa, vì không thấy rõ mình sẽ kết thúc ở đâu. Sau cùng tôi nghĩ
rằng tốt nhất là cứ bắt đầu, còn kết thúc thì tùy ở lúc Chúa không cho bàn
tay tôi viết nữa, và đó là điều tôi đã làm. Hôm nay, chán ngấy vì đã viết
lung tung đầy bao nhiêu tờ giấy, tôi xin kết thúc hẳn câu chuyện của tôi, để
ngài tự do tưởng tượng đoạn đời còn lại của tôi; chuyện
này dễ thôi vì giữa
bốn bức tường này chắc chắn sẽ không có gì to lớn có thể xảy ra thêm với
tôi.
Lúc bắt đầu viết chuyện này, tôi rất bối rối nghĩ rằng có ai đó biết trước
là tôi sẽ kết thúc được câu chuyện và biết trước chỗ tôi phải cắt câu chuyện,
nếu tôi thiếu thời gian; tin chắc rằng tất cả những hành động của tôi cần
phải theo những con đường đã chọn sẵn cho mình, tôi đâm ra nổi khùng.
Hôm nay, tôi gần với cuộc sống bên kia thế giới, tôi cam chịu hơn. Tôi tin
rằng Chúa đã đoái hoài mà tha thứ cho tôi.
Tôi cảm thấy được khuây khỏa phần nào sau khi đã kể lại tất cả những
gì tôi đã sống, và có những lúc mà chính lương tâm tôi ít ray rứt tôi.
Tôi tin rằng ngài sẽ hiểu những gì tôi không thể diễn đạt hay hơn, bởi
tôi không biết cách. Giờ đây tôi rất ân hận vì đã lầm đường lạc lối, nhưng
không xin được tha thứ nữa trong cõi đời này. Có ích lợi gì chứ? Có lẽ sẽ
tốt hơn nếu người ta đối xử với tôi đúng theo yêu cầu của luật pháp, vì nếu
họ không làm thế thì rất có thể tôi sẽ trở lại những lầm lỗi trước kia. Tôi
không muốn xin được ân xá, vì cuộc đời đã dạy cho tôi quá nhiều điều xấu
xa và tôi quá đuối không chống lại được bản năng mình. Cứ để sự phán xét
đã được ghi trong Sổ Thiên đình được thực hiện.
Thưa Don Joaquin, xin ngài nhận cùng với những trang bản thảo này
những lời xin lỗi của tôi vì tôi đã viết cho ngài, và xin ngài hãy ban cho tôi
sự tha thứ như tôi đã cầu xin, cũng như tôi đã cầu xin với Don Jésus, cho
người đầy tớ hèn mọn của ngài.
Pascual Duarte
Nhà lao Badajoz,
TRÍCH DI CHÚC
DO DON JOAQUIN ĐỂ LẠI
DI CHÚC NÀY DO NGÀI TỰ TAY VIẾT; LÚC QUA ĐỜI KHÔNG
NGƯỜI NỐI DÕI, NGÀI ĐÃ ĐỂ LẠI CHO CÁC BÀ XƠ.
Điều bốn:
Tôi ra lệnh rằng cái gói giấy tìm thấy trong ngăn kéo bàn viết của tôi,
có cột chỉ và ghi bằng bút chì đỏ “Pascual Duarte”, phải bị ném ngay vào
lửa, không được đọc, vì không lành mạnh và trái với thuần phong mỹ tục.
Tuy nhiên, nếu do ý định của Thượng đế, không người nào cố tình lờ đi mà
trong mười tám tháng cái gói nói trên thoát khỏi hình phạt tôi dành cho nó,
thì tôi ra lệnh cho kẻ nào vớ được nó phải cứu nó thoát khỏi sự hủy hoại,
nhận nó làm tài sản riêng của mình và tùy nghi sử dụng nó theo ý mình,
miễn là ý này không mâu thuẫn với ý của tôi.
Làm tại Mérida, tỉnh Badajoz,
trong đêm trước cái chết
SỐ ĐEN
Để tưởng nhớ Don Jésus Gonzalez
de la Riva, bá tước Torremajia; lúc
bị tác giả câu chuyện này giết chết,
ngài vẫn gọi hắn là Pascualillo và mỉm
cười với hắn.
P.D.
I
Thưa ngài, tôi không phải là người xấu, dù thực ra tôi có những lý do để
trở thành người xấu. Chúng ta, con người, lúc sinh ra tất cả chúng ta đều
trần truồng như nhau, nhưng khi chúng ta trưởng thành thì số phận lại thích
làm cho chúng ta khác nhau, như thể chúng ta làm bằng sáp, và lôi chúng ta
qua nhiều ngõ ngách tới điểm tận cùng duy nhất: cái chết. Một số người đi
trên con đường đầy hoa thơm cỏ lạ trong khi những người khác buộc phải
theo con đường đầy chông gai. Người thì có cái nhìn thanh thản và, trong
hương vị của hạnh phúc, họ mỉm cười hết sức ngây thơ; người khác thì đau
đớn trong cánh đồng chói chan ánh nắng, giương lông tua tủa, như những
con sâu để tự vệ. Để trang điểm thân thể mình, người thì dùng phấn son và
nước hoa còn người khác thì dùng những dấu chàm mà sau đó không bao
giờ xóa nhòa được…
Tôi sinh ra cách nay rất nhiều năm, ít ra là năm mươi lăm năm, trong
một xã hẻo lánh của tỉnh Badajoz. Xã này cách Almendralejo độ hai dặm,
nằm trên một con đường đơn điệu và dài như một ngày thiếu ăn, đơn điệu
và dài như những ngày - mà, may mắn thay, ngài không thể tưởng tượng
được chiều dài và sự đơn điệu - của một tên tội tử hình…
Xã đó là một xã nóng và có ánh sáng, khá giàu cây ô-liu và lợn (xin lỗi),
với những ngôi nhà quét nước vôi rất trắng mà khi nhớ đến tôi thấy đôi mắt
mình như lòa đi, với một quảng trường toàn trải đá cuội và một vòi nước
xinh xắn có ba tia ở giữa. Nước không còn phun nữa mấy năm trước khi tôi
lìa khỏi xã, tuy nhiên đối với tất cả chúng tôi cái vòi nước ấy duyên dáng và
thanh lịch, tận cùng vòi nước là tượng một đứa bé trần truồng, quanh thành
bồn nước trang trí những hình gờn gợn như những vỏ sò của những người
hành hương. Tại quảng trường là trụ sở hành chính của xã, to và vuông vức,
như một gói thuốc lá, có một cái tháp ở giữa, trong tháp là một cái đồng hồ,
mặt đồng hồ trắng như bánh thánh, mấy cây kim thì lúc nào cũng dừng vào
lúc chín giờ; hẳn tòa nhà này không cần nó phục vụ mình, mà chỉ cần nó để
trang trí thôi.
Trong xã đương nhiên có nhà đẹp nhà xấu; nhà xấu nhiều hơn nhà đẹp chuyện rất bình thường; có một ngôi nhà hai tầng, ngôi nhà của Don Jésus,
trông khá ngoạn mục, đường vào nhà trang trí gạch vuông bằng sành và
bình hoa. Don Jésus vốn rất thích cây cỏ và tôi có thể đánh cuộc rằng ông ta
đã ra lệnh cho bà quản gia chăm sóc đám phong lữ, vòi voi, cọ và bạc hà
một cách thương mến như đối với trẻ con, vì lúc nào bà ta cũng cầm xoong
chạy lăng xăng tưới những chậu cây đó, với một sự chăm sóc mà những cây
ấy phải đánh giá cao, vì chúng mọc lên xanh mướt, sởn sơ. Ngôi nhà của
Don Jésus cũng nằm trên quảng trường đó, nổi bật so với những ngôi nhà
khác bởi ưu điểm mà tôi đã nói, nhưng cũng bởi một khuyết điểm chỉ nó bị
mà thôi: dù chủ nhà giàu có và không chú ý đến việc chi tiêu, mặt tiền của
ngôi nhà rất tầm thường, màu sắc là màu sắc tự nhiên của lá, không quét vôi
trắng, trong khi chính ngôi nhà nghèo nàn nhất cũng quét vôi trắng; hẳn
Don Jésus có lý do riêng của mình khi để như thế. Phía trên cửa cái người ta
thấy những cái khiên bằng đá, người ta bảo rằng khối đá này có giá trị rất
lớn, phần chỏm tượng trung cho hai cái đầu của các chiến binh thời cổ, đội
mũ sắt có gắn lông; một chiến binh nhìn về phía đông, chiến binh kia nhìn
về phía tây, tựa hồ như họ đang canh gác hai phía.
Phía sau quảng trường, về phía ngôi nhà của Don Jésus là nhà thờ xứ,
với gác chuông bằng đá, chuông ngân nga một cách kỳ lạ không biết nói là
cách gì, nhưng ngay lúc này tôi nghe như cách đây nửa thước… Tháp
chuông cùng chiều cao với cái đồng hồ và, vào mùa hè, khi về tổ, một số
con cò đến tháp chuông này, một số con đến tháp chuông khác, mỗi con vẫn
nhớ đến một trong hai tháp chuông nó đã đậu năm trước; một chú cò què
vẫn ở đó trong hai mùa đông, thuộc về cái tổ chim của nhà thờ, chú đã rời
khỏi tổ khi còn bé tí tẹo, lúc bị diều hâu săn đuổi.
Nhà tôi nằm riêng một nơi, cách những ngôi nhà cuối cùng trong xã hai
trăm bước đúng. Ngôi nhà chật hẹp và chỉ có một tầng: các phòng thì tù
túng như tương ứng với địa vị của tôi; tuy nhiên tôi thích nó và thậm chí đôi
khi tôi tự hào vì nó. Thật ra, chỉ có nhà bếp là căn phòng duy nhất thật sự
tươm tất, bước vào nhà thì đụng ngay, nhà bếp lúc nào cũng sạch sẽ và quét
vôi trắng tinh; sàn nhà bằng đất, nhưng nện rất kỹ, với những hòn đá cuội
nhỏ lát nền trông như những bức họa, không kém gì nhiều nền nhà khác mà
chủ nhà cho trát xi-măng để có vẻ hiện đại hơn. Lò sưởi rộng và sáng; xung
quanh mặt lò sưởi là một cái tủ chén đựng đồ trang trí bằng sành, những
bình nhỏ với những đề từ lưu niệm sơn xanh, những cái dĩa nhỏ với những
bức họa màu xanh hoặc màu cam; một số dĩa trang trí hình mặt người, một
số khác hình bông hoa, một số khác một cái tên, một số khác hình cá.
Trên tường treo nhiều món đồ: trên một tấm lịch rất xinh là hình ảnh
một thiếu phụ ngồi trên một chiếc xuồng, tay phe phẩy quạt, phía dưới có
ghi dòng chữ như được viết bằng nhũ bạc:
“Modesto Rodriguez. Cửa hang gia vị ngon. Mérida, tỉnh Badajoz”; một
[1]
chân dung màu của Espartero
trong bộ y phục đấu bò: ba bốn bức ảnh
chụp - cái nhỏ cái trung bình - của những người tôi không quen biết, vì lúc
nào tôi cũng thấy ngay chỗ đó và tôi không bao giờ có ý hỏi để biết. Chúng
tôi cũng thấy treo trên tường cái đồng hồ báo thức, vì chỉ có Chúa mới biết
tại sao, nó vẫn chạy tốt; và một cái gối nhỏ để găm kim bằng vải lông màu,
găm vào đó là những cây kim ghim xinh xắn, đầu kim nhỏ bằng thủy tinh
màu.
Bàn ghế trong nhà bếp về ít oi vừa đơn giản, gồm ba chiếc ghế tựa - một
chiếc rất thanh lịch, lưng ghế và chân ghế bằng gỗ uốn cong, mặt ghế bằng
mây - và một cái bàn bằng gỗ thông, có ngăn kéo, hơi thấp so với những
chiếc ghế nhưng còn dùng được. Bên trong nhà bếp thì ngon lành lắm; nó
có chỗ thoải mái và, vào mùa hè, trước khi chúng tôi phải đốt lửa ở lò sưởi
như lúc vào thu, vào cuối ngày, mở to cửa rồi ngồi trên thành đá của lò sưởi
thì thật mát; vào mùa đông, lò sưởi làm chúng tôi ấm áp và lắm khi, nếu cố
giữ một chút than hồng, tro vẫn toát hơi nóng suốt cả đêm. Thật thú vị khi
ngắm bóng mình trên tường trong lúc những ngọn lửa nhảy múa trong vỉ lò!
Những cái bóng ấy đi đi lại lại, lúc chậm chạp, lúc nhảy chồm chồm như
vui đùa. Tôi nhớ rằng lúc bé tôi sợ những cái bóng ấy lắm và, giờ đây khi
đã lớn, tôi vẫn còn rùng mình khi nhớ đến những cơn sợ kia.
Những cái khác trong nhà không cần phải bỏ công miêu tả, vì quá thông
thường. Chúng tôi có hai phòng nữa, gọi là phòng cho có gọi vì có dáng của
căn phòng, và có một chuồng ngựa, mà tôi thường tự hỏi rằng tại sao chúng
tôi lại gọi như vậy, vì không có con ngựa nào và để cho mục nát. Chúng tôi,
tôi và vợ tôi, ngủ trong một phòng, cha mẹ tôi ngủ trong một phòng khác
cho tới khi Chúa, có thể là Diêm vương, quyết định mang ông bà đi; sau đó
căn phòng ấy hầu như luôn luôn trống vắng: đầu tiên vì không có ai ở và
sau đó vì người có thể ở đó đều thích ở nhà bếp hơn bởi lẽ nhà bếp sáng sủa
và không bị gió mạnh lùa vào. Chẳng hạn em gái tôi luôn luôn ngủ ở đó khi
nó đến thăm chúng tôi, và khi tôi có con thì nó theo con đường đó mỗi khi
nó rời váy mẹ. Sự thật thì những căn phòng này không sạch lắm, xây cất
cũng không tốt lắm, nhưng cũng không có gì để phàn nàn; điều chủ yếu là
có thể sống ở đó, đó là nơi che chở ta tránh khỏi cơn mưa lúc Giáng sinh và
có thể nói là nơi ta trú ẩn khỏi những cái nóng ngột ngạt vào dịp lễ Thăng
thiên. Chỗ tệ nhất là chuồng ngựa; nó tăm tối, nhớp nháp, vách xông mùi
thối hoắc của thú chết từ khe núi bốc lên vào tháng năm, khi những xác chết
dưới đó bắt đầu thối rữa còn lũ quạ lại sà xuống ăn…
Có chuyện lạ là, lúc còn trẻ, lúc khỏi hít phải mùi thối đó tôi lại cảm
thấy đau khổ muốn chết; tôi nhớ lại chuyến tôi lên tỉnh đăng ký nghĩa vụ
quân sự; suốt cả ngày khỉ gió đó tôi lơ lơ lửng lửng, hít hít không khí như
một con chó săn. Trở về quán trọ, lên giường ngủ, hít cái quần nhung của
mình, tôi mới tỉnh ra. Máu lại sưởi ấm toàn thân tôi… Tôi đẩy chiếc gối ra
xa và tôi gối đầu lên chiếc quần đã xếp và đêm đó tôi ngủ say như chết.
Chúng tôi giữ một con lừa nhỏ gầy nhom, hom hem trong chuồng ngựa
để giúp chúng tôi làm việc, và khi gặp vận đỏ (nói thật, không phải lúc nào
cũng như vậy), chúng tôi cũng có hai ba con lợn (xin lỗi). Phía sau nhà có
một cái sân; sân này nhỏ nhưng dùng được; tại đây có một cái giếng mà tôi
đã lấp đi vì nước giếng không lành.
Phía sau cái sân là một dòng suối chảy qua, thường cạn nước và không
bao giờ nước quá đầy, bẩn thỉu và hôi hám như một lũ di-gan; tại đây người
ta có thể câu được những con lươn nung núc, đôi khi tôi cũng làm vậy vào
buổi xế để giết thì giờ. Tính vốn khôi hài, vợ tôi bảo rằng mấy con lươn đó
thật béo bởi vì chúng ăn cùng thứ với Don Jésus, nhưng chỉ muộn hơn một
ngày thôi. Tôi mải câu không chú ý giờ giấc trôi qua nhanh nên khi tôi thu
xếp dụng cụ thì trời gần tối; đằng kia, ở xa xa, như một con rùa béo lùn,
như rắn nước cuộn tròn bám sát mặt đất sợ phải di chuyển, Almendralejo
thắp sáng những ngọn đèn điện… Chắc chắn là ở Almendralejo, không ai
biết rằng tôi đi câu, rằng chính lúc ấy tôi ngắm những ngọn đèn cháy lên
trong nhà họ, rằng tôi đang đoán những gì họ nói và tưởng tượng trong trí
những đề tài họ nói. Người dân thành thị sống quay lưng lại sự thật, và
thường thường họ không cần chú ý rằng chỉ cách đây hai dặm, giữa cánh
đồng, một người dân nông thôn đang vẩn vơ nghĩ tới họ, trong khi anh ta
thu xếp dụng cụ câu cá và cầm lên chiếc giỏ nhỏ bằng liễu gai bên trong có
sáu bảy con lươn!
Tuy nhiên, không bao giờ tôi nghĩ rằng câu cá là công việc đáng mặt
đàn ông, và tôi thường thích giải trí bằng cách đi săn; trong xã tôi nổi tiếng
là bắn không tệ và, không cần khiêm tốn, tôi phải thành thực nói rằng tiếng
tăm đó là xứng đáng. Tôi có một con chó cái xù nhỏ tên Tia lửa, nửa nòi
nửa lai, rất hợp ý tôi; buổi sáng tôi và nó thường đi chung với nhau ra cái
đầm cách xã tôi một dặm rưỡi, phía biên giới Poóc-tu-gan, và không bao
giờ chúng tôi về không. Chuyến về, con chó chạy phía trước và luôn luôn
chờ tôi ở ngã tư; tại đó có một hòn đá tròn và phẵng, giống như một chiếc
ghế thấp, mà tôi nhớ đến cũng vui sướng như nhớ bất cứ người nào, thực ra
còn vui sướng hơn nhớ nhiều người… Hòn đá ấy rộng, hơi sâu, và khi tôi
ngồi lên đó, đít tôi (xin lỗi) vừa vặn chỗ lõm nên tôi thấy rất thoải mái và
không muốn bỏ về; tôi thường ngồi trên đó có một lúc, miệng huýt sáo, hai
chân kẹp cây súng, mắt nhìn những gì có thể nhìn, miệng phì phèo thuốc lá.
Phía trước, con chó nhỏ ngồi xổm, cái đầu ngoẹo sang bên, đôi mắt bé màu
hạt dẽ rất linh lợi; tôi nói với nó và nó hơi vễnh đôi tai như để nghe tôi rõ
hơn; nếu tôi im lặng, nó lợi dụng ngay cơ hội đó để chạy theo mấy con châu
chấu hoặc giản dị hơn để đổi thế ngồi. Lúc nào cũng vậy, khi bước đi,
không hiểu tại sao tôi quay lại nhìn hòn đá, tựa hồ như để chào tạm biệt và,
một hôm, lúc tôi cất bước thì dường như hòn đá buồn lắm nên tôi phải quay
lại ngồi xuống lần nữa… Con chó trở lại ngồi trước mặt tôi và nhìn tôi; giờ
đây tôi hiểu rằng nó nhìn với ánh mắt của kẻ nghe xưng tội, dò xét và lạnh
lùng, dường như là ánh mắt của lũ mèo linh. Bỗng nhiên tôi cảm thấy rờn
rợn khắp toàn thân; dường như một dòng điện muốn thoát khỏi những cánh
tay tôi. Điếu thuốc của tôi đã tắt; cây súng một nòng ở giữa hai chân tôi, tôi
chậm rãi vuốt vuốt cây súng. Con chó vẫn nhìn tôi đăm đăm, tựa hồ như
trước đây nó chưa bao giờ thấy tôi, tựa hồ như nó sắp tố cáo tôi chuyện gì
khủng khiếp lắm; cái nhìn của nó làm máu trong huyến quản tôi sôi sục và
tôi thấy sắp trở lại lúc tôi phải chịu thua; trời nóng, một cái nóng kinh hồn,
mắt tôi nhắm lại, vì không chịu nổi cái nhìn của con vật, cái nhìn sắc lẹm…
Tôi chộp khẩu súng và bấm cò; tôi lên đạn và bấm cò lần nữa. Máu của
con chó, đen ngòm, sền sệt, từ từ chảy dài trên mặt đất.
II
Về thời niên thiếu của tôi, tôi không có những kỷ niệm đẹp. Cha tôi tên
Esteban Duarte Diniz. Ông là người Poóc-tu-gan; lúc tôi còn bé, ông đã trên
bốn mươi, đối với tôi ông cao lớn, phục phịch. Da ông ngăm đen, ông có
một bộ ria mép lớn, đen ngòm, chỉa xuống đất. Dường như lúc còn trẻ ông
để ria vểnh, nhưng sau một lần tù, ông mất vẻ oai vệ, bộ ria cứng rắn yếu đi
và ông để nó buông xuống cho đến ngày từ trần. Tôi rất tôn kính ông và
cũng rất sợ ông, nên hễ có dịp là lảng đi và cố tránh mặt ông; ông nói năng
cụt ngũn, tính tình hung bạo, không bao giờ chịu để ai trái ý mình dù nhỏ
nhoi, một cái thói mà tôi cũng tôn trọng bởi vì như thế có lợi cho tôi. Khi
nổi giận, mà tính ông lại rất hay giận, chuyện không có gì ông cũng nện mẹ
tôi và tôi những trận đòn thật đau; mẹ tôi cố đánh trả để xem có thể sửa đổi
tính tình ông không, còn tôi, vì còn con nít nên tôi đành chịu bị đòn. Mà
vào tuổi đó thì da thịt mềm mại biết bao!
Tôi không bao giờ có gan hỏi cha tôi hoặc mẹ tôi về thời gian ông bị tù,
nghĩ rằng chuyện cũ đã êm, tốt hơn không nên bới ra làm gì cho lôi thôi,
bởi vì không bới ra cũng đã lôi thôi nhiều, thật ra, tôi không cần gì tìm hiểu,
bởi vì lúc nào cũng có những người từ thiện, nhất là trong những xã nhỏ, và
có những người hết sức vội vã kể ta nghe tất cả mọi chuyện. Người ta đã bắt
ông vì tội buôn lậu; vả lại ông làm nghề buôn lậu đã nhiều năm, nhưng đi
đêm ắt có ngày gặp ma, một hôm, hẳn là ngày ông ít ngờ nhất - vì sự tự tin
thường tố cáo những người can đảm - nhân viên quan thuế theo ông, phát
hiện hàng hóa của ông và dẫn ông vào nhà lao. Chuyện đó xảy ra lâu lắm
rồi, vì tôi không nhớ gì cả; có ...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





