CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Mưa Xuân - Nhật Tiến

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 20h:24' 28-04-2024
    Dung lượng: 663.4 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mưa Xuân
    Nhật Tiến
    Huyền Trân (2019)
    Từ khóa: Kịch, Truyện

    MƯA XUÂN
    ---❊ ❖ ❊--Tác giả: Nhật Tiến
    Tập truyện
    Nhà xuất bản Huyền Trân
    Nguồn text: Internet
    Đóng gói: @nguyenthanh-cuibap

    01

    MƯA XUÂN

    ôm ngồi chơi cờ ở Câu lạc bộ Người Cao Tuổi, trong sự rì rào của
    H
    mọi người chung quanh, cái tên "bà cụ Quất" bỗng lọt vào tai ông Hưng
    một cách tình cờ, nhưng chợt nó sáng loè lên trong đầu óc của ông như sựï
    thức tỉnh sau một cơn mơ dài.
    Cái tên gợi lại cho ông cả một thời son trẻ xa xưa mà trong suốt bao
    nhiêu năm lăn lộn trong cuộc sống, chưa một lần nó làm ông bận tâm tới.
    Đất nước ngổn ngang, công tác bộn bề cả trăm thứ việc, đó là lý do mà ông
    có thể nhẹ nhàng rũ bỏ mọi thứ tình cảm lấn quấn riêng tư, kể cả cái khung
    trời xưa cũ, nơi mà ông đã từng gửi gấm biết bao nhiêu tâm tình cũng như
    những sôi sục nhiệt huyết của lớp tuổi thanh niên trong thời kỳ tiền cách
    mạng.
    Ngay chiều hôm ấy ở Câu lạc bộ trở về, ông nói với người con trai :
    - Thôi, bố không đi Mai Châu ăn tết Mường nữa đâu. Cả nhà cứ đi theo
    kế hoạch đi.
    Người con nhìn ông hơi một thoáng kinh ngạc, nhưng rồi cũng nhún
    vai:
    - Tuỳ bố thôi. Để con bảo chúng nó sắp sẵn xe riêng cho bố.. Mà bố
    định đi đâu ?
    Ông Hưng giọng quả quyết :
    - Tao về Canh-Diễn !
    Con trai ông, một Vụ trưởng còn đang tại chức, chợt "à" lên một tiếng
    rồi cất giọng hơi có vẻ châm biếm:

    - Ôi dà, tưởng bố đòi sang Tây sang Mỹ gì, chứ về cái nơi đó thì có gì
    mà vui, toàn những xóm làng nhếch nháp.
    Rồi hắn nhún vai:
    - Nhưng bố thích thì cứ việc !
    Thế là vào những ngày cận Tết, ông Hưng leo lên chiếc xe bóng lộn do
    người con trai sắp xếp, với nhiều món quà lỉnh kỉnh mang theo.
    Tay tài xế là một cậu khá trẻ, ăn bận bảnh bao, mồm miệng nhanh nhẩu,
    cử chỉ nhậm lẹ, rõ ra là một người tháo vát. Ông Hưng hỏi :
    - Cậu có chắc là xe hơi về tới tận cổng làng không ?
    - Ôi, cái chỗ đó con đi mấy lần rồi, ông đừng lo. Đường xá bây giờ mở
    rộng, nhựa trải phẳng lì.
    Như sợ cậu tài chưa hiểu cái chỗ mình sẽ tới, ông cố gặng thêm:
    - Cái đó thì tôi cũng biết rồi. Nhưng nhựa chỉ trải trên con đường tới
    Nhổn thôi. Còn mình phải đi sâu nữa....
    - Con biết chứ ! Ở đây mình qua cầu Diễn rồi vào ngã tư Nhổn. Từ ngã
    tư Nhổn mình rẽ vào con đường đi Canh, đi Sấu, đi Giá theo ngả con đê
    Phùng chứ gì !
    Mặt ông Hưng rạng rỡ hẳn lên khi thấy cái sự thông thuộc đường đi
    nước bước của chú tài. Ông đáp với giọng thoả mãn :
    - Ừ, đúng đấy. Ai mà ngờ nhiều con đường tí teo thế mà bây giờ lại trải
    cả nhựa để cho ô tô đi. Mà chẳng biết cái chợ Đìa ấy bây giờ còn không ?
    Cậu tài hơi nhỉnh mặt lên muốn như chế giễu cái sự lạc hậu của ông,
    rồi cậu vừa liếc ông qua kính chiếu hậu vừa trả lời :
    - Chợ dẹp rồi, ông ơi. Bây giờ nó biến thành cái phố nhỏ, người ta xây
    cất nhà cửa tràn lan khắp mọi chỗ rồi.

    Lòng ông Hưng bỗng thoáng một nét buồn, đồng thời hình ảnh của
    ngôi chợ cũ ngày xưa bỗng hiện rõ lên trong trí nhớ. Ngày đó, bốn bề là
    đồng không mông quạnh, gió lồng lộng thổi qua những căn lều lụp sụp,
    vách thưa, mái xô lệch mà ở đấy, quanh năm, dân làng tụ họp để mua bán,
    đổi chác những bó rau, những lon gạo, những giỏ tép, những trái cây mới
    hái xuống từ các vườn cây quanh nhà. Ngôi chợ trở nên ồn ào nhất là vào
    những dịp giáp tết mà hình ảnh của nó càng trở nên sống động hơn trong
    trí nhớ của ông qua những câu thơ của Đoàn văn Cừ mà đã có thời gian
    ông thuộc nằm lòng :
    Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
    Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
    Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu
    Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu
    Áo cụ Lý bị người quen sấn kéo
    Khăn trên đầu đang chít cũng tung ra
    Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
    Quên cả chị bên đường đang đứng gọi....
    Bây giờ, chiếc xe hơi chở ông Hưng đang lăn qua khu chợ ấy. Chú tài
    xế quơ tay ra ngoài kính xe :
    - Chợ Đìa là đây. Ông thấy còn có cái gì dính dấp với ngày xưa không
    ?
    Ông Hưng nhìn ra lòng không khỏi bàng hoàng khi thấy hai bên mặt
    đường, nhà cửa đã cất lên san sát, cái đã lên tầng, cái còn mái tôn, cái thụt
    vào, cái chìa ra với những hàng hiên bầy bán đủ loại hàng hoá : có nhà bán
    than, có nhà bán gạo, có nhà bán xi măng, lại cũng có nhà chất từng dẫy
    những bình ga đun bếp. Rồi quán cà phê, quán cơm phở, quán cho thuê

    băng hình, quán hát karaôkê, mọi thứ cứ xen kẽ mà mọc liên tiếp nhau trên
    một chặng đường dài.
    Người xưa, cảnh cũ đã tan biến vào dĩ vãng ! Ông Hưng mệt mỏi quay
    mặt vào trong xe và ngả hẳn người xuống lưng ghế, hai mắt nhắm nghiền
    như để xua đuổi những hình ảnh vừa hiện ra trước mắt.
    ***
    Ông muốn níu kéo lại ngày xưa ! Cái ngày mà ở nơi chốn làng quê hẻo
    lánh này tưởng nó cách xa hẳn với đời sống bên ngoài, với những con
    đường nhỏ luồn lách qua những bụi tre vang tiếng kẽo kẹt theo gió, chui
    qua cái cổng làng xây gạch để đi vào từng con ngõ nhỏ có những mái nhà
    tranh nằm im lìm dưới bóng mát của những cây ổi, cây hồng bì, cây na, cây
    nhãn hay những giàn mướp, giàn thiên lý đang trổ hoa. Con đường làng
    nhiều chỗ đã được lát gạch dẫn qua nhiều ngả ngóc ngách có những chiếc
    cầu tre bắc qua từng mương nước mà vào buổi trưa hè với cái nóng nung
    nấu, không gian im ắng đến có thể nghe thấy tiếng cá quẫy nước trong bờ
    mương hay tiếng những chim vành khuyên vỗ cánh bay qua đám hoa lựu
    đỏ lừ. Rồi khi chiều xuống, lúc ánh trăng chưa lên khỏi ngọn cau đã thấy
    đom đóm lập loè từng đàn, từng tốp bay trên những lùm cây đang yên ả
    trong vườn. Trẻ con người lớn kéo hết ra sân, trải chiếu ngồi đón gió,
    ngắm trăng. Trên tầng cao, bầu trời trong vắt không một dải mây có những
    vì sao mọc lên nom long lanh ướt làm lũ nhỏ chen nhau nằm ngửa, ngước
    mắt lên trời để thi nhau đếm:
    - Một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng….(cứ thế mãi
    cho đến lúc mỏi mồm).
    Trong khi ấy, lửa trong gian nhà bếp đun rơm vẫn bập bùng cháy dưới
    những nồi khoai lang luộc mà khi khoai chín tới, một mùi thơm lừng theo
    khói bếp lan toả ra tận ngoài sân, làm cho mấy bát cơm lùa chung với cà
    muối và rau muống chấm tương vừa ăn hồi chiều đã tiêu ngót ngay đi để
    dạ dầy sẵn sàng đón nhận những củ khoai nghệ sẽ được bưng ra trong cái
    rổ con còn nghi ngút khói.

    Cái đồng quê êm ả ấy, riêng ở chốn này, vào cái thời ông Hưng còn trai
    trẻ, thế mà cũng đã từng chứng kiến biết bao nhiêu những hoạt động hào
    hứng, sôi nổi của đám thanh niên nam nữ ở cả địa phương cũng như ở trên
    tỉnh mò về.
    Họ rủ nhau hoạt động cách mạng !
    Khi Phong trào Truyền bá Quốc ngữ nở rộ ra tại nhiều nơi, thì cũng
    chính ở đây, Hưng và nhiều bạn bè đồng lứa tuổi, những thanh niên tràn
    đầy nhựa sống và dạt dào lòng yêu nước, cũng đã mở ra rất nhiều lớp xoá
    nạn mù chữ cho mọi người. Đồng quê, xóm làng ngày nào, chỗ nào cũng
    vang lên những câu hát :
    i tờ (t) giống móc cả hai
    i ngắn có chấm, tờ (t) dài có ngang...
    O tròn như qủa trứng gà
    Ô thì đội mũ, Ơ là thêm râu....
    Lý tưởng giải phóng đất nước khỏi ách thực dân, đem lại cho mọi
    người một đời sống ấm no, hạnh phúc như một thôi thúc mãnh liệt thúc
    đẩy toàn đám thanh niên nam nữ trong làng nhất tề kéo nhau tham gia đủ
    mọi thứ sinh hoạt : truyền bá quốc ngữ, học múa võ xuống bình tấn, đinh
    tấn hay múa bài Mai Hoa Quyền, tập bắn súng gỗ , ném lựu đạn giả, tập
    đánh trận giả qua những lùm cây bụi cỏ hay quanh những bờ ao, bờ chuôm.
    Thậm chí có người còn muốn học cả Anh văn để có thể hiểu được những
    câu khẩu hiệu bằng Anh ngữ : Vietnam to the Vietnamse mà lũ nhỏ đã
    diễn dịch nôm na là Việt nam to thế Việt nam mẹ sề !
    Và hàng đêm những tiếng hát cũng ở đâu đó vang lên :
    Anh em trong đoàn quân du kích
    cùng vác súng lên nào

    Đi lên ! Đi lên !
    Xuyên qua rừng qua núi
    Qua mây mù đêm tối
    Vượt suối băng ngàn.....
    Rồi có những bài hát rất kích động lòng người như bài "Người Việt
    Nam Xin Đừng Quên" :
    Người Việt Nam xin đừng quên
    Hơn sáu mươi niên
    Loài lang thú chuyên quyền
    Róc xương thịt mình
    Người Việt Nam
    Khốc tàn..điêu linh
    Nghĩa là vào ngày ấy, ở nơi đây đã bừng lên khí thế của cả một giai
    tầng thanh niên đi xây mộng ước lật đổ ách nô lệ để mưu cầu một đời sống
    tốt đẹp hơn cho mọi người.
    * **
    Trời đang ong ong nắng bỗng dịu đi và không gian heo hắt lạnh với
    những ngọn gió ẩm ướt gây thành những cảm giác gây gây. Rồi một cơn
    mưa nhẹ trút xuống. Những bụi mưa phơ phất quay trong nền trời đã ngả
    sang mầu xám đục. Ông Hưng tự nghĩ, mưa Xuân chỉ nhẹ nhàng như thế
    thôi, chẳng phải quan ngại gì cho chuyến đi.
    Khi chiếc xe tới một ngã ba, ông Hưng ngồi bật dậy và nói;
    - Phải đây là chỗ rẽ đi về làng Kim Hoàng hay làng Thuận Ái không ?

    Chú tài xế nhanh nhẩu :
    - Thưa đúng đấy. Con đường này khí hẹp nhưng xe con lách nhau cũng
    vừa.
    Ông Hưng buồn bã:
    - Thế thì cũng mất luôn cái quán gọi là quán Ba Cây ở đây rồi.
    Rồi ông kể lể ;
    - Gọi là quán Ba Cây vì ở đấy có ba cái cây lớn mọc chụm vào nhau.
    Có một cái quán nước được dựng lên ngay dưới những tàn cây ấy. Quán
    nhỏ thôi, mái rơm, phên nứa, bàn làm bằng chõng tre, ghế là những tấm
    ván dài kê áp vào. Ở đấy có nước chè tươi, có kẹo vừng, kẹo bột, có chè
    lam, bỏng cốm, nhưng tuyệt nhất là món bún riêu. Vào mùa đông gió lạnh,
    ngồi trong quán nghỉ chân, tránh cơn mưa phùn gió bấc mà húp bát bún
    riêu nóng bỏng và cay sè thì phải kể là tuyệt trần đời.
    Tâm tình của ông Hưng lại chìm đắm trong những kỷ niệm xa xưa đến
    nỗi cái xe vô tới đầu làng lúc nào ông cũng không hay.
    Xe ngừng lại ở ven bờ một cái ao lớn, bốn bề lót gạch thẻ bao quanh,
    mặt nước phản chiếu một mầu vàng óng soi bóng cả một dẫy cây đa, cây
    đề mọc um tùm ở gần đó. Phía bên kia bờ ao có lát những bậc cấp để làm
    cầu ao lên xuống. Xa hơn nữa là cái sân rộng mênh mông dẫn tới một ngôi
    đình với những cột gỗ lim đồ sộ và một mái ngói lâu năm đã ngả mầu rêu
    xám. Ông Hưng reo lên :
    - Ao đình Thuận Ái ! Ôi, ngày xưa lũ nhỏ trong làng hay lén ông từ giữ
    đình lội xuống ven bờ ao để bắt những con ốc cơm bám vào thành gạch
    xây quanh ao đình. Ốc cơm đem về luộc mà chấm với nước mắm ớt, gừng
    thì cao lương mỹ vị cũng không sánh bằng.
    Rồi ông tắc lưỡi như nói một mình :
    - Ừ, chỉ có chỗ này là còn nguyên không thay đổi gì hết thôi.

    Một lát sau, hai người đi bộ trên con đường làng. Ngõ ngách quanh co
    thì vẫn vậy, nhưng cảnh cũ thì nay còn đâu. Những mái nhà tranh có bờ tre,
    cổng gỗ, có vườn tược bao quanh nay hầu như tất cả đã biến thành những
    ngôi nhà kín cổng cao tường có những cánh cổng sắùt mở ra như những
    ngôi biệt thự của nhà giầu có trên tỉnh. Ông Hưng bàng hoàng tự nhủ :
    - Chết thật ! Thì ra cái nền kinh tế thị trường cũng đã xâm lấn vào tới
    tận đây.
    Với những khuôn mặt lạ hoắc, không còn chất quê hiền lành, chất phác
    ngày xưa !
    ***
    Ừ, thì còn tìm ra đâu bè bạn ngày xưa : những Bính, những Hoành, Nam
    lớn, Nam con, các cô Hoè, Thục, và nhất là Mùi, cô thôn nữ răng đen, má
    hồng, ngực căng sau lần yếm đỏ, hoa khôi trong làng đã có thời làm ngây
    ngất bao trái tim của đám trai làng. Bính thì đã hy sinh ở mặt trận Thất
    Khê. Hoành, Nam lớn chết trong trận Điện Biên Phủ. Mùi mất tích trong
    Trường Sơn. Chỉ có tin Nam con thì đang là một đại gia giầu có mãi trong
    tận Sài Gòn. Còn Hoè, còn Thục và một số trai tráng khác nữa thì biệt vô
    âm tín vì ông Hưng chưa nghe có ai nhắc tới bao giờ.
    Ông Hưng cứ tiếp tục lầm lũi đi như đang lần dò từng bước trong cơn
    mơ trở về quá khứ. Và ông cũng không phải mất nhiều thì giờ để tìm ra
    nhà bà cụ Quất là người mà hôm nay ông cố tình tìm tới.
    Căn nhà của cụ thì vẫn như xưa, mái tranh bạc phếch một mầu xám
    trắng vì dầu dãi nắng mưa, cái cổng gỗ ọp ẹp vẫn còn mặc dù đã phải đóng,
    phải chêm bằng đủ thứ vật dụng. Một con chó ốm tong teo đang nằm trên
    hè bỗng chồm lên, hực sủa. Cái hè trước nhà cũng vẫn còn nguyên đó
    nhưng mấy tấm giại đan bằng tre nay đã không còn. Cả một dẫy cánh cửa
    bức bàn, một loại cửa lùa cánh gỗ nay cũng đã được thay bằng một tấm bạt
    nylon dù cũ kỹ nhưng vẫn còn giữ được cái mầu xanh lơ chói mắt.
    Ông Hưng bước lên hè.


    Chẳng có ai ra đón nhưng có tiếng khàn khụa từ trong vọng ra :
    - Ai đấy ?
    Ra dấu cho chú tài xế chờ ở ngoài hè, ông vội vã bước vào và lên
    tiếng:
    - Bà Quất ơi ! Cháu là Hưng, ở Hà Nội về thăm bà. Bà có nhớ Hưng
    không ?
    Phải một lúc định thần, Hưng mới quen được quang cảnh trước mắt
    đang chìm đắm trong một thứ ánh sáng nhờ nhờ không đủ soi rõ một cái
    bàn gỗ thấp kê ngay dưới một cái ban thờ cũ kỹ. Bà cụ Quất đang nằm trên
    một tấm phản gỗ kê ở bên cánh trái căn nhà. Phía bên kia là một cái buồng
    không có vách ngăn và cánh cửa, bên trong chất đủ mọi thứ gia dụng trên
    đời: chạn ăn, rổ bát, nong nia, thúng mủng ngổn ngang bên những bó củi gỗ
    và những sọt đựng than, đựng cuốc xẻng làm vườn và cả quần áo ẩm mốc,
    hôi sì. Một cái bếp lò kê giữa lối đi, mặc dù đã là ngày giáp tết nhưng vẫn
    mang vẻ tro tàn khói lạnh
    Ông Hưng hơi rùng mình và tự nghĩ :
    - Đời sống của bà cụ xuống cấp tệ mạt đến thế này ư? Ngày xưa, cái
    gian nhà này đâu có thế !
    Nhưng cũng chẳng lạ! Đám con cháu của bà đã lên đường đi theo tiếng
    gọi của non sông và đã hy sinh hết cả trong các trận chiến rồi. Lòng ông
    Hưng đau quặn lại khi hình dung ra dáng dấp khoẻ mạnh của Hoành, con
    bà cụ, vẫn thường ra vào nơi chốn này, trong khung cảnh nhà cửa tinh
    tươm sạch sẽ, có hoành phi, có câu đối, có quạt kéo móc ngang trên trần
    mà chỉ cần một đứa nhỏ kéo sợi dây là cả gian nhà đều có gió mát.
    Nhất là những buổi chiều hè, Hoành thường hay đứng giữa sân, sừng
    sững như một tay kiện tướng, hai tay cầm cái quạt thóc to gần bằng nửa
    cánh phản để quạt tung những bụi, cát và trấu còn lẫn lộn trong thúng thóc
    mà một người lực điền khác đang đứng trên ghế cao đổ xuống mặt sân

    gạch. Bắp thịt của Hoành lúc đó nổi lên cuồn cuộn, khuôn mặt của anh đỏ
    rừ dưới nắng và đầm đìa mồ hôi.
    Con người tràn đầy sinh lực như thế mà đã gục ngã trên một sườn đồi
    ở Điện Biên Phủ. Bà Quất được tin, khóc ròng rã mấy tháng liền đến độ
    đôi mắt sưng mọng lên, tưởng đã bị mù hẳn nhưng may, sau còn cứu vãn
    kịp. Tất nhiên đôi mắt mẹ khóc con ấy đã chẳng còn được tinh tường như
    xưa.
    Bây giờ, sau ngần ấy năm nước chẩy qua cầu, dễ ngoài chín mươi rồi
    nhưng bà vẫn còn ở đây, thân hình teo tóp còm cõi nhưng sức lực thì vẫn
    còn dai như những con đỉa cố bám lấy mảnh đất hương hoả của cha ông.
    Bà vẫn còn nhận ra ông Hưng. Bà quờ tay về phía ông mà cất giọng như
    muốn gào rú lên :
    - Ới giời ơi, thằng Hưng! Hưng đấy hả con?
    Trong khi ông Hưng nghẹn ngào chỉ biết gật đầu thì bà đã ngóc dậy và
    tiếp tục nói bằng một giọng khàn khụa có lúc hơi khó nghe:
    - Mày đi đâu từ hồi đó mà sao không thấy về thăm xóm, thăm làng.
    Ông Hưng ấp úng:
    - Con...con bận việc nhà nước...bận công tác bà ơi....bây giờ con vừa
    mới được về hưu...
    Bà Quất thổn thức :
    - Thằng Hoành vắn số, chết từ xưa, đâu có biết hưu là cái gì. Còn nhiều
    đứa nữa, cái Mùi, cái Hoè thằng Nam...cũng hy sinh hết cả rồi....Thế mà
    tao chẳng được chết thay cho. Tao đâu có được cái tích sự gì !
    Rồi bà tu lên khóc.
    Ông Hưng vội an ủi :

    - Ôi, sao lại không tích sự gì ! Nhờ có bà chăm lo đời sống, từng cái ăn,
    từng thức uống thì chúng con mới rảnh rang đi làm nhiệm vụ. Cái sự hy
    sinh của bà cũng như các bà mẹ khác, biết lấy gì mà đo cho được.
    Nói rồi ông tiến lại gần phản gỗ để đỡ hẳn bà cụ ngồi dậy. Đầu ông
    choáng váng, ngất ngư khi thấy cánh tay của bà cụ quá gầy guộc và khẳng
    khiu như một cành sậy. Ông xót xa nhìn lên khuôn mặt rúm ró, xanh xao
    của bà có những sợi tóc bạc phơ đang loà xoà rủ xuống. Bỗng ông buột
    miệng :
    - Bà ăn uống thế nào ? Sao bà gầy ốm quá thế này ?
    Bà cụ hơi nhếch một nụ cười, vành môi không đủ che hai hàng lợi đã
    chẳng còn lấy một chiếc răng nào :
    - Có cái Mỵ, cháu ông Tửu bên hàng xóm đó. Nó chạy qua chạy lại, có
    gì ăn cái nấy.
    Ông Hưng vừa ngồi xuống một bên mép phản, vừa thở dài :
    - Thôi thế cũng may. Mà cháu đâu ngờ ông Tửu vẫn còn sống. Ngày
    xưa ông ấy còn thoát ly trước cả cháu mà.
    Bà cụ gật đầu :
    - Thế thì chốc nữa qua thăm ông ấy một tí. Bây giờ cũng chỉ như một
    thứ sư tử về già.
    Hình ảnh anh chàng Tửu với hai hàm răng trắng bóng, mái tóc đen
    mượt mà với tính tình sôi nổi của anh lại chợt hiện rõ trong trí nhớ của ông
    Hưng. Đã có một thời ông nghe danh tiếng của Tửu được truyền tụng trong
    giới quân đội, nhưng rồi bẵng đi, ông không còn nhận được tin tức gì về
    Tửu nữa. Ai ngờ, cái nhân vật ấy lại đang nằm ẩn nhẫn ở cái nơi xa xôi
    hẻo lánh này.
    Còn đang mải suy nghĩ về nhân vật Tửu, chợt bà Quất cất lên một cơn
    ho dài làm ông Hưng vội bước qua, đỡ lấy bà cụ cho dựa vào cánh tay của

    mình. Lòng ông lại xót xa khi thấy sao mà thân mình của bà gấy ốm như
    một thứ mèo hen.
    Khi dứt cơn ho, bà mới nói :
    - Thằng Tửu cũng không còn ở xóm Giếng nữa đâu. Có muốn sang
    thăm nó thì chờ cái Mỵ tới, nó đưa đi.
    Ông Hưng ngạc nhiên;
    - Ủa, thế cái nhà của ba gian hồi xưa ở xóm Giếng đâu ?
    Bà cụ thở dài :
    - Nó bán đi rồi. Giải ngũ ra, nghèo rớt mùng tơi, nó lên tỉnh đi làm thợ
    sửa xe. Rồi vợ nó ốm một trận thập tử nhất sinh, bán cả nhà đi mà chữa
    cũng không qua khỏi.
    Giọng bà cụ chợt trở nên linh động hơn :
    - Mà cái thằng mua lại nhà của nó, biết là ai không?
    Ông Hưng còn đang lúng túng chưa kịp trả lời thì bà cụ đã tiếp :
    - Lính cũ của nó chứ ai ! Ôi cái thời đổi đời, thằng dầy công, có tài thì
    đi sửa xe, thằng bất tài vô tướng nhưng giỏi luồn lọt thì giầu nứt đố đổ
    vách. Cái nhà mua rồi, nó cất lên ba tầng có hàng rào sắt bao quanh, lại
    nuôi cả chó bẹc-giê giữ của nữa đấy.
    Câu nói của bà khiến ông hơi trạnh nghĩ tới thằng con đang còn tại
    chức của mình. Quả nó là một tay luồn lọt giỏi. Nhưng ông làm được gì ?
    Một đôi lần bố con trò chuyện, ông vừa gợi ý thì nó đã nói :
    - Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào, "ông" ơi!
    Rồi nó nhún vai bỏ đi. Như thế cũng còn là ...hiếu thảo ! Bởi ông có vài
    người bạn, cũng trong hoàn cảnh về hưu như ông, đã có lần bị con cái nói
    như hắt vào mặt :

    - Nhà cao cửa rộng, xe hơi đi lại đều ở đó mà ra đó, bố ơi ! Bố có
    muốn ra đứng đường hay không?
    Ôi, chỉ thiếu điều cắn lưỡi tự tử nhưng ở đời có mấy ai còn đủ can đảm
    dể làm chuyện đó.
    Cuộc trò chuyện với bà Quất xoay ra những tin tức về những con người
    làm ăn theo thời thế. Ông Hưng không khỏi nghĩ đến lũ con, cháu của
    những bạn bè xưa cũ đã hy sinh. Bây giờ chúng nó ra sao hay cũng cùng
    một dạng như con cái của ông, của bạn bè nơi sở làm. Ông cất tiếng hỏi:
    - Thưa bà, thế còn lũ nhỏ đàn con, đàn cháu trong làng, từ ngày hoà
    bình thống nhất rồi thì tình hình chúng nó ra sao ?
    Như một cuốn gia phả ghi chép chi li ngọn ngành về mọi sự biến đổi
    trong ngôi làng nhỏ bé này, bà cụ Quất rành rọt nói về thân phận của từng
    người quen họ hàng hay chòm xóm thân thuộc:
    - Em gái cô Mùi, tức cái Ngoan, bây giờ cũng đã già rồi. Có hai đứa
    con gái thì một đứa chết bệnh Sida, còn đứa kia theo lấy chồng Đài Loan,
    mấy năm nay không có tin tức gửi về.
    - Thằng Thạch, em thằng Bính cũng hy sinh ở bên mãi bên Nam Lào,
    nhưng trước đó cũng đã có vợ, có con. Vợ nó lấy chồng khác. Con gái nó
    chả hiểu làm ăn gì mà bị đưa vào trường phục hồi nhân phẩm mãi trong Sài
    Gòn.
    - Cháu ruột cô Hoà, gọi cô ấy bằng dì, cái thằng tưởng khá mà sau lại
    dính vào xì ke ma tuý...
    - Còn thằng cháu đích tôn ông Đoái, cựu xã ủy làng này bây giờ cũng
    sinh trộm cướp, kéo bè kết đảng hiện đang ngồi tù.
    - Còn ...
    - Còn...

    Tai của ông Hưng thốt nhiên cứ ù cả lên. Ông không còn can đảm nghe
    tiếp những sự thật phũ phàng cứ tuôn ra tuột tuột từ miệng bà lão như thể
    chưa bao giờ nó có một dịp như thế để tuôn ra.
    Nhưng bà Quất đâu phải là ma xó ! Bà chỉ như cái gốc đa, gốc đề chôn
    gốc, mọc rễ ở cái thôn làng nhỏ bé này để chứng kiến những chuyện vật
    đổi sao rời. Chỉ có điều, những trang sách ghi gói từ trí nhớ của bà sao mà
    hồi kết cục nó thảm thương và khốn cùng đến thế.
    Ông vội vã đứng dậy xin phép tạm đi ra ngoài để nhìn ngắm cảnh vật
    đổi thay ở chung quanh nhà. Ông đi mau đến độ xô cả vào con chó ốm
    đang nằm buồn thiu vẫn dương đôi mắt đờ đẫn nhìn ra ngoài bầu trời vẫn
    còn đang ẩm sì và vẫn đang còn nhỏ xuống tí tách những giọt mưa trên mái
    lá.
    Ông bước xuống sân gạch và đi qua cái chỗ mà ngày xưa Hoành đã
    từng đầm đìa mồ hôi đứng quạt thóc. Ông như nhìn thấy đôi mắt rực ngời
    tin tưởng của Hoành vẫn còn lẩn quất ở đâu đây. Trong niềm tin ấy, đã
    nhiều lần Hoành nói với ông :
    - Mình cứ phải hy sinh đi. Cho đời con, đời cháu nó hưởng.
    Câu nói ấy của Hoành bây giờ có sức mạnh xô ông, làm ông phải ngồi
    khuỵ xuống bên cạnh cái bể nước mưa mọc đầy rêu xanh vẫn ẩn dưới tán
    lá của cây hồng bì.
    Ôi những ngày xưa cũ và những hoài bão tràn đầy vinh quang và nhiệt
    huyết như của Hoành, sau ngần ấy năm, sao lại chỉ nẩy sinh ra những thành
    quả đớn đau và tủi nhục nhường ấy.
    Trước khi gục ngã, những Hoành, những Bính, những Mùi, những Hoè
    hay cả nghìn những con người trên đất nước này đã hy sinh đâu có biết
    rằng mình đã tận tuỵ một đời để chỉ đem lại cho thế hệ đàn con, đàn cháu
    một đời sống thảm thương đến thế. Cái mà chúng nó " hưởng" là như thế
    ư?

    Bất giác ông lại nghĩ tới đứa con trai của mình. Hiện nó đang làm Vụ
    trưởng đầy quyền uy và tiền bạc thì vào như nước chẩy.
    Như thế thì trong đám trẻ của thế hệ thứ hai, thứ ba, có đứa thế này, có
    đứa thế khác. Nhưng dù là thế nào đi nữa, chúng nó cũng đều chỉ là sản
    phẩm của một thứ thành quả đang ung thối, mục ruỗng. Nếu biết sự thể
    cuối cùng cũng chỉ bầy ra được ngần ấy, thì những con người đã hy sinh,
    trước khi nằm xuống, hỏi có ai nhắm được mắt?
    Khuôn mặt của ông Hưng bỗng nhiên ướt đầm đìa. Nước mắt của ông
    như nhòe ra, tan vào
    những giọt mưa xuân đang rơi rả rích qua từng kẽ lá.
    California, tháng 10 2004
    NHẬT TIẾN

    02

    MỘT VẠT NẮNG XUÂN TRÊN HÈ PHỐ

    on bé ì ạch đạp. Mấy chồng báo tuy không nặng lắm nhưng cũng đủ
    C
    làm cho cả người của nó vẹo đi mỗi lần nó mắm môi lấy gân sức. Chỉ còn
    mấy quãng phố nữa thì tới nơi trả báo ế, lấy báo mới, nhưng mà sao kìa,
    cái xe cứ mỗi lúc một nặng hơn. Một tay nào đó phóng hon-da chợt xẹt qua
    người nó như một lằn chớp và ném lại phía sau cho nó một câu gọn ghẽ:
    - Xẹp lốp rồi!
    Nó thốt ngừng ngay lại và lái cái xe chúi mũi vào vỉa hè. Không còn
    nghi ngờ gì nữa, cả cái bánh sau của nó bẹp dí không còn lấy một chút hơi.
    Nó ngơ ngẩn xòe bàn tay nhỏ xíu ra vuốt lên vành bánh, và nó chợt phát
    giác ra một điều đáng nguyền rủa: Cái xe bị cán đinh! Vào đúng cái lúc nó
    nhớn nhác nhìn dọc theo hè đường để tìm xem kẻ nào đã làm cái việc thất
    nhân ác đức đó, thì một thằng nhỏ đứng ở một gốc cây đang nhìn nó và
    nhoẻn miệng cười:
    - Lại đây vá cho. Lấy rẻ!
    Con bé gân mặt lên:
    - Rẻ mắc gì! Phải anh rải đinh từ mé đằng kia lại, có phải không?
    Thằng nhỏ, áng chừng hơn nó vài tuổi, cũng vênh mặt lên:
    - Này đừng có mà ăn nói bặm chợn. Tao rải đinh hồi nào. Cái xe của
    mày cũ mèm thì có.
    Con bé nhìn thằng nhỏ một cách kỹ càng hơn. Tóc bờm sờm, da đen
    đúa, mặt mũi vêu vao, chỉ được có mỗi một vẻ là khi cười, nó phô ra hai
    hàm răng trắng nhởn. Thấy con bé không nói gì, thằng nhỏ giọng sốt sắng
    hơn:

    - Người ta hai ngàn, tớ lấy một ngàn thôi! Sáng mở hàng lấy hên.
    Con bé vùng vằng:
    - Tiền đâu mà sẵn thế. Không dưng làm xẹp bánh xe người ta rồi đòi
    tiền.
    - Mày thử đi khắp cái phố Sè Gòn này coi, có ai chịu vá xe một ngàn
    không. Cái ngữ xẹp kiểu đó bỏ rẻ cũng phải ba lỗ vá.
    Con bé không thèm đáp lại nữa. Nó hầm hầm dắt cái xe đi ngang qua
    mặt thằng nhỏ. Cũng không thèm nhìn nữa. Nó đã có chủ đích rồi. Ráng dắt
    xe cuốc bộ vài quãng, về tới nhà thì ba của nó cũng có đủ đồ nghề làm
    chuyện đó. Hơi sức đâu mà thí cho quân ác ôn đến ngàn bạc. Thế là con bé
    ráng đẩy cái xe đi. Người nó ốm nhách, giò cẳng khẳng khiu, so cái xe với
    chồng báo tú hụ, nó cứ như một con nhái bén đang hì hục xoay vần. Được
    một quãng xa, nó đã thấy mệt bở hơi tai. Mồ hôi rịn ra ở những chân tóc,
    nhễu xuống trán và nhỏ xuống hai bờ mi. Con bé phải dừng lại để vén vạt
    áo lên chùi. Bỗng có tiếng la bải hải phía đằng sau, cùng một lúc có tiếng
    xe hon-da trờ tới. Nó nhận ra ngay bác hàng xóm nhà mình.
    - Chèn ơi, giờ này mà mầy còn lang thang ở đây làm tao kiếm hụt hơi.
    Có về ngay không, má mầy té xẩy thai, đang nằm liệt kìa...
    Con bé run rẩy:
    - Nằm ở đâu?
    - Nhà mụ Xoài mé bển đó! Tới mau đi...
    Vừa nói hết câu là người hàng xóm đã lại vụt lao đi, nhanh như một cú
    điện xẹt. Con bé chẳng buồn nhìn theo vì trong đầu của nó đang bận rộn
    tính toán. Tiếp tục đẩy cái xe trở về hay là quay lại vá cái bánh xe. Nghĩ
    đến mẹ nó đang nằm ở một chỗ, chắc đang cần tới nó để bảo ban công
    việc, ruột nó bỗng nóng sôi lên và nó hối hả quay lại chỗ thằng nhỏ vừa
    nãy. Nhìn thấy nó, thằng nhỏ lại nhăn ra cười, ơi, dưới ánh nắng bình

    minh, sao mà hàm răng của nó nom trắng nhởn như răng bò đến thế. Con
    bé hậm hực:
    - Một ngàn đấy, vá đi.
    Thằng nhỏ hỏi móc:
    - Sao tính không vá, bây giờ lại vá.
    Con bé nguýt nó một cái thật dài:
    - Thế đấy. Nẫy không thích, bây giờ thích. Có sao không?
    Ôi da, cái con nhỏ sao mà chanh chua. Nhưng phải thế mới được. Sống
    ở giữa đám người lam lũ, rách rưới đông nghìn nghịt như kiến cỏ trong cái
    thành phố này, không cứng cựa làm sao yên. Thằng nhỏ nghĩ thế nên nhìn
    con bé một cách cảm tình rồi xăng xái bầy đồ ra vá cái vỏ xe. Trong lúc
    làm việc, nó tỉ tê:
    - Này! Cái vỏ đã bốn miếng vá rồi. Liệu mà thay đi.
    - Nói dễ nghe nhỉ! Bộ giầu lắm sao mà muốn thay là thay.
    - Giầu nghèo gì cái xăm xe. Phải chi như mấy ổng, đổi xe hơi đời này
    sang đời khác, mô đen này qua mô đen khác thì mới nói chớ.
    - Ơi! Nói chuyện như thế mà đòi nói. Mà điều mấy ổng giầu, thay cái
    xe còn dễ hơn mình vá cái lốp kìa. Đúng không?
    Thằng nhỏ nhìn con bé, bỗng cảm thấy cảm tình hơn. Nhãi con bằng
    từng nấy sao mà suy nghĩ đã khôn lanh quá trời. Nó bỗng cười toe toét:
    - Mày nói đúng đó. Thiên hạ tiền muôn, bạc triệu, thay có cái xe thì
    nhằm nhò gì. Nhưng mà về phần mầy, nom đâu đã đến nỗi mà vá có cái
    xăm xe cũng phải cò cưa.
    Con bé dẩu mồm lên:

    - Không cò cưa thì có đói nhăn răng ra. Sáng nay, má xẩy thai, nằm một
    chỗ rồi.
    Thằng nhỏ kêu lên:
    - Ý choa! Chuyện thật hay rỡn đó mậy?
    Con nhỏ tốc vạt áo lên lau thêm mấy giọt mồ hôi đọng trên trán. Rồi nó
    thở dài, giọng than vãn:
    - Má sắp tới cữ rồi mà vẫn còn đi vác gạch, tui nói không nghe.
    - Mày nói sao?
    - Tui nói má ơi, nghỉ đi. Má làm nữa, vác nặng, em bé trong bụng nó
    chịu hổng nỗi đâu.
    - Cái đó thì má mày cũng biết rồi.
    Con bé trợn mắt:
    - Biết rồi thì cũng phải nói chớ. Mà nói riết thì cũng vậy thôi. Có dư
    được đồng nào, ba moi bằng hết mang đi uống rượu với đánh bạc cha nó
    hết.
    Thằng bé xuýt xoa:
    - Ui choa, cái thằng cha bất nhân.
    Con bé chợt sửng cồ lên:
    - Này, đừng có kiếm cớ mạt sát cha tui nhé. Bề gì thì ông cũng là ổng.
    Thằng nhỏ vội vã xua tay:
    - Đâu có.... đâu có... Tớ nói vậy thôi, chớ ba của đằng ấy, tớ đâu dám!
    Con bé ngồi im không nói gì thêm nữa. Nó cũng chẳng nhìn xem thằng nhỏ
    đã loay hoay những gì với cái xe của nó. Chừng mười lăm phút sau, thằng
    nhỏ cất tiếng:


    - Rồi! Bi giờ thì có đạp lên cung trăng cũng chẳng hề hấn gì.
    Con bé phủi đít, đứng dậy. Nó toan móc túi lấy tiền trả thì thằng nhỏ đã
    xua tay:
    - Tiền nong gì! Cất đi!
    - Ô hay, sao lại không lấy?
    - Không lấy vì tao thích không lấy. Có sao không?
    - Chả sao hết. Không lấy thì đây cám ơn.
    - Ơn huệ gì. Lần sau mà mày còn vác xác tới, tao tính tiền gấp ba. Hôm
    nay hãy để đó.
    Con bé nhoẻn miệng cười:
    - Ui cha, anh lại định dở trò rải đinh nữa ra với tôi phải không? Ê! Bữa
    nay thì êm đó, chớ lần sau thì tôi đi thưa.
    Thằng bé nhăn ra cười:
    - Ừa, thưa đi. Mày thưa tao, tao thưa lại.
    - Tôi làm gì mà anh thưa?
    - Thưa mày không lo cho má, để má vác nặng tới xẩy thai. Ôi chà! Tù
    mọt gông đó nghe "em" !
    Con bé nguẩy người, lườm thằng nhỏ một cái thật dài rồi dắt xe xuống
    đường. Lúc nó đạp được vài vòng thì thằng nhỏ đã nói với theo:
    - Tao mới ráp thêm hai cái má thắng đó. Ôi da, xe cộ gì mà thắng không
    có, chạy loăng quăng có ngày mất mạng như chơi!
    Con bé ngó xuống mé bánh sau. Quả nhiên nó nhìn thấy cái má thắng
    mòn vẹt gần hết nay đã được thay bằng hai miếng cao su dầy dặn và trắng

    phau. Nó thử thắng cái xe lại. Ôi chao, vừa mới nhấp một tí mà cái xe đã
    giật đứng ngay lại, chả bù cho lúc trước, vừa phải ghì cái xe, vừa phải lết
    cả hai bàn chân xuống mặt đường mỗi khi cần ngừng gấp. Nó ngoái đầu
    nhìn lại chỗ sửa xe. Thằng nhỏ vẫn còn đứng đó nhìn theo. Hình như nó
    đang nhe răng ra cười. Hai hàm răng, nhìn từ xa mà vẫn thấy trắng nhởn.
    Sao mà lại có người có cái cười ngạo nghễ đến thế!
    Hai hôm sau, vào đúng chiều hai mươi tám tết, con bé đạp xe trở lại hè
    đường cũ. Hôm nay cái xe của nó nhẹ tênh vì chẳng có chồng báo nào đèo
    sau lưng của nó. Chỉ có gói giấy dầu nhỏ xíu, bên trong có một cái bánh
    bao còn nóng hổi. Con bé ngơ ngáo nhìn hết gốc cây này tới gốc cây khác.
    Chẳng thấy thằng nhỏ đâu. Bên đống đồ nghề sửa xe, chỉ có một ông già
    đang ngồi chúi mũi vào tờ giấy dò vé số. Nó cất tiếng hỏi:
    - Ông ơi, cái anh.... cái anh sửa xe mọi khi ở đây đâu rồi?
    Ông già ngẩng đầu lên, bộ râu lởm chởm như cố đỡ lấy cái gọng kính
    đồi mồi cũ kỹ :
    - A! Thằng Tín. Cháu cần hỏi gì nó.
    Con bé tự nhiên nóng cả mặt. Chân tay của nó luống cuống hẳn ra. Nó
    ấp úng:
    - Cháu.... cháu tìm anh ấy.
    - Hôm nay nó không ra. Có chuyện gì thế?
    - Dạ.... cháu.... cháu.... mua cho ảnh cái bánh bao.
    - Ý chà! Sao mà sang thế!
    Con bé càng quíu hơn. Hai bên má của nó nóng rực và hồng lên trong
    sáng sớm:
    - Dạ.... Tại vì.... tại vì bữa nọ ảnh sửa xe cho cháu.... tốt quá!
    Ông già vui vẻ:

    - Thế hử. Cái thằng nom thế mà tay nghề nó cũng vững lắm. Bánh bao
    hả? Cứ để đây, chốc về, ông mang về cho nó.
    Con bé bẽn lẽn nhìn ông già:
    - Ông là ông của anh Tín hả.
    - Ừ! Ông ngoại! Bố nó chết rồi. Mẹ nó đi lấy chồng. Nó về ở với ông.
    Chỉ có mỗi nó thôi.
    Con bé trao gói bánh cho ông già rồi rồi vội vã đạp xe mất hút trong
    lòng thành phố. Tim nó đập thình thịch. Nó thấy mình sao mà liều lĩnh quá.
    Không dưng lại đi trao bánh cho ông già. Phải chi chờ thằng Tín ra thì sự
    việc có vẻ suông sẻ hơn. Bên sửa xe, bên cho bánh, có cái gì là không nên
    không phải đâu. Không biết lúc thằng Tín nhận gói bánh thì sẽ nghĩ sao. Nó
    lại cũng tiếc là không nán lại chút xíu nữa để hỏi thêm về Tín. Nhà ở đâu?
    Có đi học trường nào không? Lớp mấy? Nhưng mà thôi, trao được cái
    bánh là đủ rồi. Mai mốt sẽ còn có dịp đạp xe qua mà. Rồi nó lại lan man
    nghĩ đến cái bánh bao còn nóng hổi.
    Tối hôm qua nó đã ngồi lột củ cải cho bà Huân mãi đến tận hai giờ
    sáng. Hàng tết đổ về, ngoài linh tinh mọi thứ, nhà bà Hưng còn tràn ngập
    những củ cải trắng cái nào cái đó to bằng bắp tay. Từ phòng trong, ra nhà
    ngoài, tràn xuống cái sân con rồi tuôn ra cả cái con hẻm còn lép nhép nước
    mưa, toàn là những củ cải chỗ thì trắng phau, chỗ thì nhoe nhoét đất với
    bùn. Bà Huy đã huy động mấy đứa con, lớn thì mười sáu mười bẩy, bé thì
    lên tám, lên chín, tất cả xúm vào, mỗi đứa một con dao sắc lẻm, chém, v...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML