CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim - Han Suyin (Hàn Tú Anh)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 20h:02' 17-03-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim
    Han Suyin (Hàn Tú Anh)
    NXB Văn Học (2018)

    Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim là cuốn tiểu thuyết tự truyện của Han
    Suyin (Hàn Tú Anh), thuật truyện riêng đời tác giả, một thiếu nữ
    Trung Quốc lai Bỉ (cha gốc Hán, mẹ người Bỉ), nhiệt tình yêu đất
    nước Trung Hoa, và tình nguyện trở về cứu nước, khi thấy đất nước
    trước hoạ xăm lăng của Nhật Bản.
    Han Suyin, xuống Tàu Laborde, nhổ neo ở Marseille (Pháp) và đi
    Hương Cảng. Bà gặp bạn cũ là Tang Pao Huang, hồi nhỏ học ở Bắc
    Kinh, tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, vì lý tưởng, họ yêu nhau và cưới nhau
    trên đường về nước.

    Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim
    Han Suyin

    vietmessenger.com

    Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Mùa hè vắng bóng chim 1 , cuốn tiểu thuyết tự truyện của Han Suyin
    (Hàn Tú Anh), thuật truyện riêng đời tác giả, một thiếu nữ Trung
    Quốc lai Bỉ (cha gốc Hán, mẹ người Bỉ), nhiệt tình yêu đất nước
    Trung Hoa, và tình nguyện trở về cứu nước, khi thấy đất nước trước
    hoạ xăm lăng của Nhật Bản.
    Han Suyin, xuống Tàu Laborde, nhổ neo ở Marseille (Pháp) và đi
    Hương Cảng. Bà gặp bạn cũ là Tang Pao Huang 2 , hồi nhỏ học ở
    Bắc Kinh, tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, vì lí tưởng, họ yêu nhau và cưới
    nhau trên đường về nước 3 .
    Nhưng ngay sau ngày cưới, Han Suyin đã thấy ngay những dự định
    của mình thành ảo tưởng. "Mùa hè vắng bóng chim" bắt đầu từ
    đấy… Cuốn tự truyện thuật lại hết sức sinh động, bi kịch từ hai phía:
    lí tưởng phục vụ tổ quốc và tình yêu… Chỉ khi về đến Tổ quốc, chỉ
    khi chung sống với Pao, một sĩ quan trẻ của quân đội Tưởng Giới
    Thạch, Han Suyin mới thật sự vỡ mộng. Tổ quốc Trung Hoa mà bà
    yêu tha thiết, trong tay chính quyền Tưởng Giới Thạch, đã thực sự
    suy yếu. Tập đoàn cai trị, từ Tưởng Giới Thạch, Hà Ứng Khâm, Hồ
    Tôn Nam, Tai Lee 4 , dưới mắt tác giả, đều là những chính khách bất
    tài, dùng những thủ đoạn chính trị để bốc lột đàn áp dân chúng, đàn
    áp phong trào kháng chiến, bòn rút tiền viện trợ của ngoại quốc, để
    làm giàu cho bản thân họ.
    Còn Tang Pao Huang chồng Han Suyin, bề ngoài tưởng là một
    thanh niên yêu nước thật sự, nhưng thực ra hệ tư tưởng của anh
    cũng không thoát khỏi ý thức của lớp trí thức trẻ, con các gia đình
    phong kiến rất hám danh lợi, ích kỉ. Dù là hạng tân học, song đầu óc
    Pao đặc sệt tư tưởng cổ hủ của phong kiến xưa. Dù yêu vợ, song
    Pao không hề mong vợ có chí tiến thủ, chỉ muốn vợ biến thành một
    người lệ thuộc, phục vụ riêng cho mình… Han Suyin là một phụ nữ

    tiến bộ, lại ở nước ngoài từ bé 5 , sẵn có tư tưởng dân chủ trong
    mình, hoàn toàn chống lại… Và Pao đã hành hạ Han Suyin rất thậm
    tệ, đánh đập không tiếc tay, ở trong nhà và ngay ở công viên…
    Nhờ vào chức vụ của Pao, thói hãnh tiến của anh ta mà Han đã tiếp
    xúc với được nhiều hạng người trong giới thượng lưu, do đó bà đã rõ
    bộ mặt thối nát của tập đoàn Tưởng Giới Thạch, và thất vọng về
    tương lai của Tổ quốc.
    Cuốn tự truyện đã vượt ra khỏi đời riêng của một phụ nữ Trung Hoa,
    vẽ ra một bức tranh toàn cảnh, rất sinh động về tình hình đất nước
    của bà từ ngày Nhật xâm lăng, chiếm Mãn Châu, cho đến lúc Thế
    Chiến thứ hai kết thúc 6 .
    Bằng bút pháp linh động, tinh tế, mổ xẻ những hiện tượng tâm lí xã
    hội của tấm bi kịch riêng của vợ chồng bà, cũng như tấn bi kịch lớn
    của đất nước Trung Hoa. "Mùa hè vắng bóng chim" là một cuốn tiểu
    thuyết có giá trị về nhiều phương diện.
    Tác phẩm phản ánh những diễn biến lịch sử phức tạp với những âm
    mưu giảo quyệt, với chính sách thâm độc của chính quyền Tưởng
    Giới Thạch, phản ánh những mâu thuẫn gay gắt giữa những thế lực
    ngoại bang Mĩ, Anh, Nhật trong đại chiến thế giới lần thứ hai… Nói
    nó thực sự sa đoạ của bọn cầm quyền thối nát và nỗi khổ cực của
    tầng lớp thợ thuyền và nông dân Trung Quốc. Cuốn sách có nhãn
    quan bén nhạy khi nhìn triển vọng đất nước thông qua những người
    thực tâm đuổi Nhật để giành lấy một đất nước Trung Hoa tự chủ và
    độc lập hoàn toàn…
    Nhưng hấp dẫn hơn là gương tự lập của một phụ nữ vượt lên tất cả
    những ràng buộc, những vật cản của con đường tiến thân, với một
    nghị lực phi thường, một ý chí không lay chuyển, để phát triển tài
    năng và đạt được lí tưởng của mình…
    Cuộc đời riêng của Han Suyin đầy éo le, và cũng rất điển hình cho
    số phận của những thiếu nữ tân học, đầy nhiệt tình, sống lí tưởng,
    nhưng số phận bị xô đẩy trôi nổi cũng hết sức dữ dằn.

    Cuốn tự truyện hấp dẫn bởi những chi tiết hiện thực nghiêm khắc,
    mà tác giả đã bình tĩnh phân tích một cách sắc sảo… Cuốn sách
    đọc một mạch và để lại một dư âm, một ấn tượng khó phai. Hạnh
    phúc của một đời người phải trả những giá quả là rất đắt…
    Bút pháp của Han Suyin rất sinh động, tự nhiên, chính xác, phù hợp
    với tâm hồn nhạy cảm, khi thì phân tích những tình huống nóng
    bỏng của thời cuộc, hoặc những mâu thuẫn nội tâm đang giằng xé
    quyết liệt. Lời văn nhiều chỗ mạnh mẽ và trữ tình… Qua bản dịch,
    dịch giả đã để nhiều công phu để bản dịch được hoàn hảo, khiến
    độc giả say sưa theo từng trang sách.
    Ngoài "Mùa hè vắng bóng chim", Han Suyin còn là tác giả một số
    tiểu thuyết khác nổi tiếng… Bà là nữ tác giả Trung Hoa rất nổi tiếng
    ở nước ngoài. Các tác phẩm của bà đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
    ngay sau khi xuất bản lần thứ nhất.
    Nhà xuất bản Văn Hoá – Thông Tin xin trân trọng giới thiệu cùng
    bạn đọc.

    TỰA (của dịch giả)
    Thực ra là Hai mùa hè vắng bóng chim, một mùa hè của tác giả lồng
    trong mùa hè của sáu trăm triệu dân Trung Hoa, cả hai đều "dài
    đăng đẳng" hơn mười năm trời đều "nóng bỏng đến nỗi chim chóc
    không hót nữa", nhưng sau lò lửa đó, "người ta đã cảm thấy ngọn
    gió biển đầu tiên đem lại trận mưa tế độ".
    Nguyên do chỉ tại Nhật Bản đã muốn thôn tính Trung Hoa từ lâu,
    ngày mùng 7 tháng 7 năm 1937 viện cớ một người lính Nhật mất
    tích (sau lại trở về) mà tấn công đồn Uyên Bình của Trung Hoa ở
    gần Lư Câu Kiều và gây ra cuộc chiến tranh Trung Nhật 1937-1945.
    Hay tin quân Nhật ồ ạt chiếm đánh Hoa Bắc, Han Suyin (Hàn Tú
    Anh), 21 tuổi, đương học năm thứ ba Y Khoa ở Đại Học Bruxelles
    nổi con khủng hoảng tinh thần: bực tức, dễ quạu, mất ngủ, khóc lóc
    – con người đó cực kì đa cảm – nhất định bỏ học, trở về Trung Hoa

    để cứu nước, mặc dầu họ hàng bên ngoại và bạn bè đều cho như
    vậy là điên khùng. Nhưng Han Suyin một mực đáp: "cây thì có gốc
    rễ nên tôi trở về gốc rễ, ở lại đây, tôi sẽ nhớ nước mà chết mất".
    Bà chỉ có một nửa máu Trung Hoa, tên thực là Rosalie Tchou (Hàn
    Tú Anh chỉ là bút hiệu) 7 mà yêu Trung Hoa hơn cả cha mẹ và bản
    thân bà nữa. Thân phụ là Tchou Yen Tong 8 , sanh trong một vọng
    tộc ở Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên), qua Bỉ học từ 1904 đến 1913, trở
    về nước với một bằng cấp Kỹ sư hỏa xa và một người vợ Bỉ trong
    giai cấp đại tư sản, Marguerite Denis 9 , rồi làm cho một công ti Hỏa
    xa của Bỉ, xây cất nhiều đường xe lửa ở Hoa Bắc. Cha vẫn giữ cốt
    cách Trung Hoa, điềm đạm, nghệ sĩ, thích làm thơ. Mẹ thì lãng mạn,
    nóng nảy, bướng bỉnh, nhưng rất can đảm.
    Han Suyin sanh năm 1917 ở Bắc Kinh, hồi nhỏ rất cực khổ. Nhà
    nghèo vì cha không muốn hưởng gia tài của tổ tiên, mà lương một kĩ
    sư "da vàng" chỉ bằng một phần năm lương một kĩ sư "da trắng". Lại
    bị mẹ ghét bỏ vì không đẹp mà tính tình cứng cỏi. Mười lăm tuổi
    phải thôi học, khai gian tuổi, xin một chân thư kí 10 để giúp nhà và có
    tiền học thêm. Nhờ tư chất rất thông minh, thi đậu vô đại học Yen
    tching 11 ở Bắc Kinh, và hai năm sau, năm 1935, được một người
    Bỉ, Joseph Hers, bạn của cha – vì vậy trong truyện này, Han Suyin
    gọi là Bác – xin cho một học bổng qua Bruxelles học Y Khoa. Ở
    Bruxelles, bà học cũng rất tấn tới, luôn luôn đỗ đầu, thường diễn
    thuyết, hô hào lòng ái quốc trong hội Ái hữu Trung Bỉ, yêu một luật
    sư Bỉ trẻ tuổi, tên là Louis hai người định cưới nhau thì chiến tranh
    Trung Nhật phát, và bà quyết tâm từ bỏ hết: thầy học, bạn bè, họ
    hàng bên ngoại, vị hôn phu và cả tương lai nữa để về Trung Hoa
    kháng Nhật.
    Truyện bắt đầu từ lúc bà xuống tàu Jean Laborde nhổ neo ở
    Marseille để đi Hương Cảng. Bà gặp một bạn cũ ở Bắc Kinh hồi
    nhỏ, Tang Pao-Houang, sinh viên trường võ bị Sandhurst (Anh) cùng
    về một chuyến tàu, cũng để kháng Nhật. Hai người cùng chung một
    hoài bão, một lí tưởng:

    "Cô về Trung Hoa?… một thiếu nữ mà ái quốc thì càng đáng khen
    hơn nữa… Tôi sẽ về thẳng Vũ Hán để trình diện với thượng cấp…
    Tôi sẵn sàng chết vì Tổ quốc… còn cái vinh dự nào bằng chết vì
    chiến đấu với quân xâm lăng?".
    Những lời đó "tung bay trong ngọn gió từ mặt biển sặc sỡ đưa lên",
    làm cho Han Suyin tưng bừng, tưởng tượng cuộc đời sắp tới, gian
    khổ nhưng anh dũng, đây đủ ý nghĩa và tràn trề hi vọng.
    Họ yêu nhau, ghé Hương Cảng ít bữa rồi nôn nả đi thẳng về Vũ
    Hán, chỉ sợ trễ quá, không kịp dự trận kháng Nhật đương xảy ra tại
    đó. Họ cưới nhau ở Vũ Hán, dự định chồng sẽ cầm quân, vợ sẽ làm
    y tá trong quân y viện.
    Nhưng toàn là ảo tưởng cả. "Mùa hè" nóng bỏng của Han Suyin bắt
    đầu từ đó: Tang Pao-Houang, tưởng là một thanh niên nhiệt tâm ái
    quốc thì chỉ là hạng phong kiến, hám danh hám lợi, mặc dầu có tân
    học mà tinh thần rất hủ bại, đối với vợ tàn nhẫn không tưởng tượng
    nổi, cứ ít bữa lại đánh đập vợ, cả những khi ở giữa công viên, ở
    trong tiệm ăn, Han Suyin "vì muốn hi sinh cho Trung Hoa" mà phải
    cắn răng chịu đựng. Trong những giờ bị hành hạ đó:
    "… tôi tập vừa hít thật sâu, vừa đếm: "Trung Hoa có sáu trăm triệu
    dân: 1, 2, 3, 4, 5… Anh ấy sắp chán… Anh ấy sắp chán… anh ấy
    sắp nghỉ tay". Dù cảnh đó kéo dài… có khi tới gần 10 giờ, tôi không
    được ăn uống gì cả, mà cũng vẫn phải ngồi co ro trên sàn, đợi
    những cú giáng xuống, sợ nhất là bị đòn mà hóa đui hoặc mặt mày
    thành sẹo…".
    Mà hầu hết các bạn của Pao, các sĩ quan Hoàng Phố đều như vậy,
    có kẻ còn nhốt vợ vào cũi, bêu ở ngoài đường cho tới chết đói mà
    không ai dám can ngăn kể cả cha mẹ người đàn bà xấu số! Thực tế
    đã vượt hẳn sức tưởng tượng. Han Suyin xin li dị, Pao nhất định
    không cho, xin đi học thêm cũng mấy lần bị từ chối. Pao chỉ muốn
    vợ mình làm nô lệ trong nhà để thoả mãn nhục dục và những cơn
    điên của mình thôi, hoặc để giúp mình tiến thân. Và Han Suyin chịu
    cuộc đời nô lệ đó tám năm, theo Pao từ Vũ Hán đến Quảng Tây, vô

    Trùng Khánh, sau cùng qua Londres khi Pao được phái làm tùy viên
    quân sự ở Anh.
    Năm 1945, Bà oán Pao tới nỗi đâm ra ghê tởm lây hết thảy bọn đàn
    ông, sau đó trong bốn năm, bà bị bệnh thần kinh, tưởng hóa điên.
    Sau bà quyết li thân, để Pao về Trung Hoa một mình 12 , bà ở lại
    Londres học tiếp y khoa, để có nghề tự nuôi thân và nuôi một đứa
    con gái nuôi năm tuổi.
    Vậy hoài bão là trở về Trung Hoa để giúp quê hương trong cuộc
    chiến tranh chống ngoại xâm, mà thực tế chỉ là để sống một cuộc
    đời vô ích và tủi nhục. Nhưng không bao giờ bà tiếc mấy năm đó cả,
    vì nhờ theo Pao, bà mới thấy được tận mắt chế độ thối nát kinh
    khủng của Tưởng Giới Thạch (Pao là một sĩ quan cấp tá được
    Tưởng hơi tin cậy), thấy được tình cảnh điêu đứng của bần dân
    Trung Hoa sống như loài vật trên một non sông tuyệt đẹp. Tóm lại là
    được mục kích, được sống "một mùa hè nóng bỏng" của dân tộc,
    khiến bà càng yêu quê hương và đồng bào của bà hơn.
    Phần tả đời sống của phu phen, nông dân Trung Hoa, dưới sự đàn
    áp, bóc lột của bè phái Tưởng Giới Thạch, xen lẫn với phần tả đời
    sống riêng tư của bà một cách điêu hòa, khéo léo, không phần nào
    lấn phần nào, mà giọng văn luôn luôn linh động, có chỗ mỉa mai, dí
    dỏm, nhiều chỗ phẫn uất, hình ảnh mới mẽ, bút pháp rất mạnh.
    Chính nhờ đọc cuốn này – chứ không phải những cuốn sử hiện đại
    của Trung Hoa – tôi mới hiểu tại sao năm 1945 danh của Tưởng
    Giới Thạch lên tới tột đỉnh, mà chỉ bốn năm sau ông ta đã phải dắt
    vợ con và một bọn thủ hạ chạy trốn qua Đài Loan, không quên ôm
    theo 450 triệu Mĩ Kim, vàng, và Mĩ bỏ non sáu tỉ 13 vào cuộc nội
    chiến Trung Hoa mà không cứu văn nổi, lại chuốc thêm một nỗi hận
    chua chát.
    Nguyên nhân thất bại nằm ngay trong lòng Quốc Dân đảng từ trước
    1938. Đủ hết các cảnh độc tài và thối nát trong một tấn tuồng vừa bi
    vừa hài: chính quyền Quốc Dân đảng chỉ lo củng cố địa vị và làm
    giàu, không nghĩ tới dân, không kháng Nhật, rút lui hoài về phía Tây,
    nhường hết những miền phì nhiêu cho Nhật, để sống trong những

    hầm bọc sắt tại Trùng Khánh bảo toàn lực lượng, chờ thế chiến
    chấm dứt mà "bất chiến tự nhiên thành", rồi lúc đó sẽ xua quân diệt
    Cộng, họ đề cao nhân vị mà lại lùng bắt nông dân ở ngoài đồng, phu
    phen ở ngoài phố, lấy dây thừng hay dây chì cột lại thành từng "xâu"
    lùa vào các trại quân, rồi đánh đập, bỏ đói, họ mua quan bán chức,
    bán chợ đen dược phẩm, y phục, lương thực của lính, bán lậu khí
    giới cho Nhật, đi công du ngoại quốc thì kẻ nào cũng chở từng xe
    cam nhông xa xỉ phẩm về, họ bắt dân nhổ lúa để trồng thuốc phiện,
    họ đặt ra hàng trăm thứ thuế: thuế tóc, thuế cửa sổ, thuế số nhà,
    thuế thương người, thuế hạnh phúc, thuế làm biếng (nghĩa là không
    trồng thuốc phiện…) 14 , họ lạm phát giấy bạc tới cái mức dân phải
    khiêng cả thúng giấy bạc đi mua một vé xe buýt 15 , gái điếm nhung
    nhúc, mật vụ cũng nhung nhúc. Đức có bọn Sơ mi nâu thì họ có bọn
    Sơ mi lam, hạng công chức hay quân nhân cao cấp Quốc Dân đảng
    thì bốn năm vợ, ngày nào cũng đánh mạt chược từ khi mở mắt cho
    tới khi đi ngủ, một kẻ kiêm bảy tám chức vụ, lãnh bảy đầu lương, và
    lâu lâu mới tới nhiệm sở một hai giờ, còn hạng công chức thấp thì
    rách rưới, đói khát, chỉ được cấp gạo vừa đủ cho vợ con khỏi chết
    đói, cho nên công việc bê trễ, và nạn hối lộ lan tràn từ trên xuống
    dưới, thành một "quốc sách" bắt dân phải gián tiếp trả thêm lương
    cho công chức.
    Còn hạng dân đen thì:
    "… ngay dưới chân tôi, dưới 478 bục đá kia 16 là bờ sông chất lộn
    xộn những thúng, những bành hàng hóa mà phu phen tranh nhau
    đưa lên vai để khiêng rồi leo, leo, leo những bực thang, thành một
    hàng bất tuyệt, leo hoài không ngừng, và người ta thấy cổ họ, chân
    họ nổi gân lên, nghe thấy hơi thở hổn hển của họ phát từ những bộ
    ngực lép xẹp, thót lại… Tôi thấy những phu khiêng kiệu chiến đấu
    từng bực, từng bực một, cái cán bằng tre đâm sâu trong thịt họ mỗi
    khi kiệu lắc lư, trong kiệu, các công chức ưỡn người ra khoan
    khoái…".
    Ngày ngày Han Suyin nhìn thấy tình cảnh những người lao động đó
    quần rách để hở đít, đầy rận, kẻ nào cũng xanh xao, ốm tong teo vì

    nghiện thuốc xái – họ không đủ ăn, phải dùng thứ đó để lấy sức mà
    khiêng vác, cứ hai giờ lại nghỉ để hút – bà thương họ vô hạn, và:
    "Thật là vô lí, không hiểu tại sao tôi lại muốn ở vào địa vị họ, tôi
    muốn đôi dép rơm mà họ đi, uống thứ trà đậm, chát mà họ uống ở
    các quán cóc… rồi tôi cũng leo những bực thang như họ, nhưng hỡi
    ôi, không vác gì trên vai cả!".
    Bà uất hận, tin chắc rằng tình trạng đó không thể kéo dài hoài được,
    một ngày kia cách mạng phải vì bọn họ mà dấy lên, như một cơn
    nước dông, cuốn hết các nhơ nhớp của chính thể Quốc Dân đảng,
    và năm 1945, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, bà mừng rỡ đoán
    trước rằng cuộc cách mạng sắp phát.
    Đọc phần đó, chúng ta không thể không liên tưởng đến tình cảnh
    nước ta trong mười mấy năm qua, tôi cho rằng có những luật bất di
    bất dịch trong lịch sử: những dân tộc cùng một văn hoá, đặt trong
    một hoàn cảnh như nhau thì phản ứng cũng như nhau và rốt cuộc
    cùng đi tới một điểm lịch sử như nhau. Điều đó tôi đã dẫn chứng
    trong bộ Văn học Trung Quốc hiện đại 17 , đọc tác phẩm của Han
    Suyin, tôi càng thấy nó đúng. Thật lạ lùng! Việt Nam và Trung Hoa
    sát nách nhau, sự thất bại của Tưởng Giới Thạch như tấm gương
    tầy liếp mà Ngô Đình Diệm và các người sau không biết soi, ngay
    như Mĩ cũng vậy, đã thất bại ở Trung Hoa mà càng không biết rút ra
    một bài học, lại sa vào vết xe cũ. Cơ hồ như con người không biết
    dùng lí trí, hành động toàn theo một bản năng do hoàn cảnh, nếp
    sống quyết định. Ít ai học được bài học của lịch sử!
    Bà kịch liệt mạt sát chế độ Quốc Dân đảng làm cho ta có cảm tưởng
    rằng bà thiên Cộng. Sự thật không phải vậy: bà chỉ ghét những kẻ
    tàn bạo và chỉ yêu dân tộc Trung Hoa thôi, hễ phải thì bà khen, trái
    thì bà chê, cho nên Quốc Dân đảng đã ghét bà mà Cộng Sản cũng
    không ưa: Năm 1948 đã "tố" bà rồi, năm 1966-1967, một nhóm ở
    Bắc Kinh lại tố thêm một lần nữa trong cuộc cách mạng Văn hóa.
    Trả lời cuộc phỏng vấn của Marianne Monestier (năm 1967 hay
    1968), bà nói:

    "…Tôi chưa bao giờ là cộng sản, mà cũng không bao giờ có thể
    thành cộng sản được vì đã tới cái tuổi không còn tin một cách khá
    mãnh liệt bất kì một cái gì nữa". Mục đích của bà là ghi lại các biến
    cố "một cách vô tư và trung thực, không khôi phục dĩ vãng, cũng
    không chiến đấu cho hiện tại, để cho các thế hệ sau biết hết những
    gì đã xảy ra" vì "thế giới cần có những nghệ sĩ chép lại các biến cố
    một cách thiện cảm mà không cuồng nhiệt, hơn là cần các nhà
    truyền giáo độc ác hô hào những cuộc chiến đấu hư ảo chống lại sự
    thật".
    Bà khởi công từ năm 1964. Trước năm đó bà đã xuất bản được sáu
    bảy cuốn, cuốn đầu là Destination Tchoungking viết từ hồi sống ở
    Trùng Khánh, chung với một nữ bác sĩ Mĩ (bà viết rồi bạn bà sửa lại)
    kể cuộc đời của vợ chồng bà từ Vũ Hán theo Tưởng Giới Thạch lại
    Trùng Khánh. Cuốn đó xuất bản ở Mĩ, rồi ở Anh. Sau đó bà ngưng
    viết khoảng mười năm. Năm 1949 đậu Y Khoa bác sĩ rồi (chồng bà
    đã tử trận ở Mãn Châu) nhiều nơi ở Londres nhờ bà cộng tác, bạn
    bè cũng khuyên bà ở lại Anh làm việc, nhưng lần này cũng như
    mười năm trước, bà quyết định trở về Á Châu, dù không sống ở Hoa
    lục thì ít nhất cũng sống ở sát Hoa lục để coi xem tình hình ra sao,
    dân chúng Trung Hoa dưới chế độ cộng sản sống ra sao? "Tôi
    không thể sống yên ổn ở Anh được… tôi không từ bỏ Trung Hoa, tôi
    không quay lưng lại với nó".
    Và bà đáp xuống Hương Cảng, mở phòng mạch trị bệnh cho người
    Á Châu, sau lại Singapore cũng để vừa làm nghề y sĩ, vừa xét tình
    cảm người Trung Hoa, người Mã Lai…
    Trong thời gian từ năm 1950 đến 1964, bà viết thêm những cuốn:
    Multiple Splendeur về Trung Hoa.
    Et de la pluie pour ma soif về cuộc kháng Anh ở Mã Lai.
    La montagne est jeune 18
    v.v…
    Cuốn nào cũng đã được dịch ra tiếng Pháp (nhà Stock ở Paris, và
    nhà Rencontre ở Lausanne), nhiều cuốn đã được in trong loại sách

    bỏ túi.
    Những hình ảnh những cùng dân Trung Hoa vẫn ám ảnh bà, bà bất
    mãn về các cuốn đã viết về Trung Hoa, nhất là cuốn Destination
    Tchoungking viết hồi sống dưới chế độ kiểm duyệt gắt gao của
    Tưởng Giới Thạch, trái hẳn sự thực, cho nên năm 1964 bà ngưng
    hoạt động y sĩ, soạn một bộ kể lại đời sống của gia tộc bà và lịch sử
    Trung Hoa từ cuối thế kỉ trước cho tới những ngày gần đây nhất, để
    giải tỏa nỗi lòng. Điều đó làm cho chúng ta nhớ trường hợp
    Somerset Maugham bỏ viết kịch để viết truyện Of human bondage 19
    .
    Bộ đó gồm bốn cuốn, tới nay đã xuất bản được ba:
    L'arbre blessé – 1965 (Cây bị thương tích) chép giai đoạn từ 18851928.
    Une fleure mortelle – 1967 (Một bông hoa tai hại) chép từ 19281938.
    Un été sans oiseaux – 1968 (Một mùa hè vắng bóng chim) chép từ
    1938-1949.
    Cả ba cuốn đó 20 đã được dịch ra tiếng Pháp từ khi bản tiếng Anh
    mới xuất hiện và có thể còn được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nữa.
    Cuốn thứ tư, nhan đề là La moisson du Phénix (Mùa gặt của chim
    Phượng) 21 , chưa xuất bản, chép tiếp từ 1949 trở đi, và sẽ cho ta
    được nhiều tài liệu quí về các sự thay đổi triệt để ở Hoa lục, trong
    đời sống của mọi giai cấp, vì trong khoảng mười mấy năm nay, năm
    nào bà cũng về Hoa lục "thăm bà con bè bạn, tìm lại những sự kiện,
    kỉ niệm cũ…", thu thập ghi chép những điều mắt thấy tai nghe.
    Toàn bộ sẽ dầy khoảng 1.600 trang khổ lớn, xấp xỉ bộ Chiến tranh
    và hòa bình của Léon Tolstoi, có giá trị hơn các truyện Pearl Buck
    viết về Trung Hoa, Pearl Buck chỉ giúp người Phương Tây hiểu một
    cách hời hợt đời sống cùng tâm hồn người Trung Hoa, những điều
    mà chúng ta, cùng một văn hóa với Trung Hoa, đều biết cả rồi. Han
    Suyin sâu sắc hơn, cho ta thấy thận phận bi đát, tủi nhục của phụ
    nữ (chính là thân phận của bà) của bần dân Trung Hoa, và hiểu

    được lịch sử hiện đại của Trung Hoa, một bi kịch lớn nhất của thời
    đại, làm sụp đổ một nền văn minh bốn ngàn năm và đương làm rung
    chuyển cả thế giới, hậu quả chưa biết sẽ tới mức nào. Chính bi kịch
    chung của một dân tộc đó đã gây ra một bi kịch riêng cho gia đình
    họ Tchou trong hai thế hệ, thế hệ của thân phụ bà và của bà.
    Trong ba cuốn đã ra, chúng tôi lựa cuốn sau cùng "Một mùa hè vắng
    bóng chim" để giới thiệu với độc giả vì cuốn đó tả một giai đoạn bi
    đát nhất, có ảnh hưởng lớn nhất tới tương lai của Đông Á, mà người
    Việt chúng ta lại được biết ít nhất.
    Trong mười mấy năm nay, chúng tôi đã nhờ các bạn thân kiếm giùm
    ở Hương Cảng, ở Đài Bắc một cuốn sử của người Trung Hoa viết
    về giai đoạn đó, mà không được. Chúng tôi đành phải tìm các cuốn
    sách người Anh, người Pháp viết. Cũng được vài cuốn có giá trị
    (khảo cứu công phu, có tinh thần khách quan) như cuốn Les
    origines de la Révolution Chinoise (1915-1919) của Lucien Bianco
    (Gallimard 1967) nhưng những cuốn này là sử, tài liệu tuy dồi dào
    mà không gợi được cái không khí của thời cách mạng, cùng cái nỗi
    lòng của dân chúng. Tác phẩm của Han Suyin bổ túc được khuyết
    điểm đó, và chính Lucien Bianco cũng nhiệt liệt giới thiệu cuốn
    L'abre blessé 22 là cuốn đáng đọc nhất về lịch sử Trung Hoa hiện đại
    trong loại sách phổ thông.
    Khi dịch, chúng tôi đã cắt bớt chín trang đầu tác giả tự giới thiệu, vì
    những ý chính trong đoạn đó đã được đưa vào Tựa này rồi, nhiều
    đoạn khác chép những kỉ niệm riêng của tác giả về một số người
    thân hoặc bạn bè (có giá trị về tình cảm đối với tác giả mà ít quan
    trọng đối với chúng ta). Tôi cũng cắt bớt hoặc tóm tắt lại cho khỏi
    mất sự liên tục trong truyện.
    Han Suyin mượn nhiều danh từ khoa học, nhất là y khoa để tạo
    những hình ảnh đột ngột, dùng một bút pháp tự nhiên, có nhiều góc
    cạnh không đẽo gọt như Pearl Buck, chính vì vậy mà lời văn rất
    mạnh, nhưng cũng khó dịch, đôi khi chúng tôi phải phóng bút, cốt
    diễn lại được một phần cảm xúc của tác giả thôi.
    Chúng tôi đã tra cứu trong hai bộ:

    Asia Who's Who (in lần thứ ba) của cơ quan Pan Asia Newspaper
    Alliance – Hương Cảng.
    China Year Book 1967-1968 của nhà China Publishing Co – Đài Bắc
    để tìm ra các danh nhân, địa danh Trung Hoa phiên âm ra tiếng
    Pháp trong tác phẩm.
    Dĩ nhiên có nhiều tên không thể tra được, như những nhân danh
    Tchou Yentong, Tang Pao Houang, thân phụ và chồng của Han
    Suyin, những địa danh Nanyu 23 , Chin Kan shan 24 … mặc dầu rất
    thường nhắc tới trong truyện mà không có hai cuốn kể trên, chúng
    tôi đành phải để nguyên lối phiên âm trong bản tiếng Pháp, chứ
    không dám làm cái việc đoán mò.
    Những tên tra được thì tôi dùng ngay tên Việt như Bạch Sùng Hi, Hà
    Ứng Khâm, Diên An, Quế Lâm… rồi cuối sách mới lập một bảng
    chép thêm những tên đó bằng tiếng Anh 25 : Pai-Tchong-hsi, Ho
    Ying K'in, Yenan, Koueilin…
    Sài Gòn, ngày 01-08-1971 26
    Xem lại tháng 12-1980
    N.H.L

    PHẦN THỨ NHẤT (1938-1942)
    1
    Mọi sự bắt đầu xảy ra trên chiếc tàu Jean-Laborde. Bảy người Trung
    Hoa đi hạng nhất là những Sinh viên lục quân ở các trường Võ bị
    Đức, Anh hồi hương, trong số đó có Tang Pao Houang 27 . Anh nhận
    ra tôi trước tiên, ngay từ giờ đầu, trong khi chiếc tàu ra khơi, lục địa
    Châu Âu chỉ còn là một đám bông xám, và anh Louis 28 đứng trơ trơ
    trên bờ, như một vết vô tri giác, vô danh. Tang Pao Houang cũng
    nán lại trên boong, vẫy tay từ biệt các bạn thân, và trong số tất cả

    các sinh viên Trung Hoa, chỉ duy nhất có anh là tán thành quyết định
    của tôi.
    "Cô về Trung Hoa… một thiếu nữ mà như vậy thì càng đáng khen
    hơn nữa". Mấy hôm sau tôi không gặp lại anh, nhưng mấy người
    khác thì cứ lảng vảng chung quanh tôi, xuống boong hạng nhì, và
    hỏi tôi tại sao lại về nước. Tôi kể cho họ nghe chuyện của tôi và mặc
    dầu ngây thơ chứ tôi cũng thấy rằng họ không tin tôi, điều đó làm
    cho lòng tự ái của tôi bị thương tổn. Sau này tôi mới biết rằng họ chỉ
    muốn làm quen với tôi cho những ngày vượt biển đỡ buồn thôi (…)".
    Hôm đó Tang Pao Houang, bác sĩ You và tôi đi bách bộ trên boong,
    cười cười nói nói, bàn tính về những hi vọng trong một tương lai
    chưa biết ra sao. Pao cũng như bác sĩ You, tràn trề thiện ý, hứa giúp
    đỡ tôi mọi việc, tôi cảm thấy Pao suy nghĩ nghiêm trang hơn bác sĩ
    You và tôi tự nhủ thầm rằng đời sống, hoặc Trời Phật hoặc thần hộ
    mạng của tôi đã nhân từ quá muốn thưởng thiện ý của tôi nên cho
    tôi gặp được người bạn chân thành mà hoạt động như vậy, không
    phải chỉ biết gợi ý mà thôi đâu, còn có vẻ nhiệt tâm ái quốc, hoàn
    toàn Trung Hoa nữa. Ngay trong mấy ngày đầu đó, Pao đã nói đến
    bổn phận tỏ ra nóng lòng muốn ra mặt trận rồi: "Tôi sẽ về thẳng Vũ
    Hán để trình diện với Thượng cấp… Tôi sẵn sàng chết vì Tổ quốc…
    kẻ nào không sẵn sàng hi sinh như vậy thì không phải là thực tâm ái
    quốc, cũng không phải là một hão hán nữa… còn cái vinh dự nào
    bằng chết vì chiến đấu với quân xâm lăng…". Bây giờ đây, tôi còn
    như nghe thấy những lời đó tung bay trong ngọn gió từ mặt biển sặc
    sỡ đưa lên, những lời đã làm cho lòng tôi bừng bừng. Lúc đó tôi
    mong rằng, Pao đừng vội chết quá sớm, ít nhất là đừng chết trước
    khi tôi cũng đã làm được cái gì đó cho Tổ quốc, chứng tỏ rằng tôi
    không phải là con người vô dụng, mà cũng là người Trung Hoa đây,
    cũng sẵn sàng chết cho Trung Hoa… Mặc dầu thỉnh thoảng trong
    lòng tôi lại nhói lên, xót xa nhớ lại rằng đối với nhiều người Trung
    Hoa, mình là một thiếu nữ lai Âu, không luôn luôn được họ chấp
    nhận đâu, nhưng Pao hình như không nghĩ vậy: "Cô có máu Trung
    Hoa mà, máu là do cha truyền cho, mẹ chỉ tiếp nhận thôi". Những ý
    kiến lạc hậu phản khoa học đó làm cho tôi mỉm cười, nhưng tôi cảm
    ơn anh đã không khinh tôi vì tôi lai Âu…

    Tâm hồn nhẹ nhàng như trong giấc mộng, chúng tôi vùn vụt vượt Ấn
    Độ dương, nói chuyện về Trung Hoa và về Pao, trong khi những bầy
    cá heo quậy lên ở gần lườn tàu. Và Pao đối với tôi là hiện thân của
    Trung Hoa.
    Tới Sài Gòn, Pao muốn rằng chúng tôi hứa hôn với nhau, tôi từ chối,
    lấy lẽ rằng tôi đã "gần như" là vợ một thanh niên Bỉ, sau đổi ý để hồi
    hương. Có lẽ Pao không hiểu tôi muốn ám chỉ rằng tôi không còn là
    con gái tân nữa. Vì không hiểu (lúc đó tôi có ngờ đâu là anh không
    thể hiểu được), nên anh chỉ bình tĩnh gật đầu: "Tôi mừng về điều đó
    lắm… phụ nữ Trung Hoa không nên lấy người ngoại quốc…".
    Tôi đi kiếm bác sĩ You để nhờ ông khuyên bảo. Ông đáp: "Tuyệt vời.
    – Phải bỏ dĩ văng lại phía sau đi, như tôi này, và chỉ nhìn về phía
    trước thôi. Tang Pao Houang là một thanh niên rất đáng mến, gia
    đình nền nếp lắm, rất nền nếp!".
    28 tháng chín, – Giữa biển trên chiếc tàu Jean-Laborde.
    Thưa bác 29 Joseph,
    Tàu đã rời bến Sài Gòn hôm qua và hiện đương thẳng tiến về
    Hương Cảng, cháu biết rằng bác giận cháu lắm, vì đã đổi lộ trình.
    Bác đã khuyên cháu lên Sài Gòn ra Hà Nội rồi qua Côn Minh vì bác
    đã viết thư cho đức Cha ở dưỡng đường Công giáo nơi đó, nhờ săn
    sóc cháu giùm bác. Có lẽ cháu sẽ ở lại Hương Cảng hai ngày rồi
    cháu sẽ đi xe lửa lên Vũ Hán. Cháu biết rằng bác muốn cháu đi Côn
    Minh vì ở đó cháu được yên ổn hơn, nhưng cháu không muốn lạc
    vào trong đám người tị nạn ở đó. Các báo Trung Hoa ở Sài Gòn
    đăng tin rằng đám người tị nạn cuồn cuộn đổ xuống Côn Minh đông
    nghẹt, cháu muốn ở càng gần mặt trận càng tốt, nghĩa là ở Vũ Hán.
    Hiện đương có một trận lớn ở đó… Và cháu muốn lại đó…
    Hôm nay đọc lại bức thư đó tôi ngạc nhiên nhớ lại rằng tấm bưu
    thiếp đầu tiên mà cuối cùng tôi gởi cho vị hôn phu của tôi, anh Louis
    ở Bỉ, là tấm gởi từ Port-Said 30 . Sau đó tôi không viết thêm một chữ
    nào cho anh hết, cơ hồ như qua khỏi kinh Suez rồi thì không thể nào
    thư từ với anh được nữa. Còn ông ngoại tôi 31 thì tôi có gởi được
    vài bức ngắn và vài tấm bưu thiếp cho biết tôi mạnh khoẻ… Tôi

    không thể ngồi vào bàn viết những bức thư dài nữa được, vì tất cả
    những gì tượng trưng cho châu Âu, đối với tôi đã hóa ra mơ hồ, hư
    ảo, mà tôi thì không thể giải được nỗi lòng của tôi cùng những việc
    xảy ra chung quanh tôi, vì chung quanh tôi toàn là Châu Á, mà tôi
    không thể cao hứng tả Châu Á đó như một du khách được, vì nó
    mật thiết với tôi quá. Anh Louis đối với tôi chỉ còn như một cái bóng,
    giá có gặp ảnh, không chắc tôi đã nhận ra được…
    Công của ông ngoại tôi đối với tôi lớn lắm, tôi biết vậy, nhưng khi tôi
    báo tin cho người hay tôi đã có chồng và sẽ ở lại Trung Hoa, thì
    người trả lời rằng sẽ từ bỏ tôi từ đó. Rồi chiến tranh xảy ra ở Châu
    Âu, và ông tôi mất năm 1940…

    2
    Tới Hương Cảng, anh Pao và tôi ở lại một khách sạn và mọi sự
    được dễ dàng vì anh có nhiều bạn, tới đâu cũng gặp bạn. Những
    liên hệ giai cấp, những đặc quyền gia tộc lại thêm tình bằng hữu ở
    trong các trường võ bị đã tạo thành một cơ cấu thống trị chặt chẽ
    mà anh là một thành phần. Từ thời nào tới giờ, sự đoàn kết về giai
    cấp đó, cũng giúp họ dễ nắm được quyền hành. Mạnh mẽ, uyển
    chuyển, tình vi ghê gớm, sự kết hợp của giới thượng lưu thống trị,
    vượt qua được cả những cuộc cách mạng, và bọn thượng lưu đó có
    thể ẩn nấp, trốn tránh mà chờ thời.
    Tang Pao Houang là sản phẩm của giai cấp thống trị điền chủ –
    quân phiệt – phong kiến. Giai cấp phong kiến đó dùng chính sách
    quan lại mà cầm quyền ở Trung Hoa cho tới cách mạng 1949.
    Nay từ khi đặt chân lên Hương Cảng, Pao đã được hồi phục trong
    giai cấp của anh rồi, được giúp đỡ, che chở, hầu hạ, kính trọng. Bạn
    bè anh lại kiếm chúng tôi, có người mời ăn, có người sẵn sàng cho
    anh mượn tiền, dắt chúng tôi đi mua sắm. Tôi, trước kia chẳng ở
    trong một đoàn thể nào cả, sống cô độc, không giao du với ai, xa
    cách mọi người, bây giờ không còn cô đơn nữa, không phải thủ thế
    nữa. Không có một cảm giác nào thích thú bằng được gia nhập một
    đoàn thể, được chấp nhận. Mà tôi được vậy là nhờ Pao. Được yên

    ổn, khỏi thắc mắc nữa, lương tâm tôi trơn tru không còn luôn luôn lo
    lắng, khó tính như trước nữa. Vì tôi không biết chút gì về các cơ cấu
    giai cấp, nên tôi tưởng rằng toàn thể người Trung Hoa cũng vui vẻ
    chấp nhận tôi như nhóm của anh Pao lúc đó. Bây giờ tôi có thể hiểu
    được những hồi đam mê quyền rũ hạng người rán vượt lên khỏi
    thân phận thấp hèn – thực sự hay tưởng tượng của mình – để "tiến
    lên", sau cùng "thành công". Họ vui sướng làm sao khi không nén
    được những khoái cảm đó. Họ la lên: "Mình sẽ được hôn những tiểu
    thư, những bà lớn", "Mình đã thắng". Thời trước ở Trung Hoa có biết
    bao nhiêu thanh niên giảo hoạt sinh trong gia đình nghèo, được
    tuyển dụng để tăng cường quyền uy của giới quan lại cầm quyền!
    Và họ thành công tức là họ hoàn toàn phản bội vì kẻ bạo phát – còn
    hơn ai hết – dùng những đức và những tật của giới họ đã len lỏi vô
    được để củng cố thêm quyến thế cho giới đó.
    Chính tôi cũng vậy, là nạn nhân của một âm mưu ngầm mà hồi đó
    tôi không hay. Pao là người Trung Hoa, tôi là vị hôn thê của anh, nên
    được Trung Hoa thừa nhận (hoặc tôi tưởng tượng như vậy), và tôi
    đã bỏ Châu Âu vì nước Trung Hoa chứ không phải vì một người
    nào. Đó là ảo tưởng lớn của tôi.
    Chúng tô...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML