CHÀO XUÂN MỚI
Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim - Han Suyin (Hàn Tú Anh)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:02' 17-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:02' 17-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim
Han Suyin (Hàn Tú Anh)
NXB Văn Học (2018)
Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim là cuốn tiểu thuyết tự truyện của Han
Suyin (Hàn Tú Anh), thuật truyện riêng đời tác giả, một thiếu nữ
Trung Quốc lai Bỉ (cha gốc Hán, mẹ người Bỉ), nhiệt tình yêu đất
nước Trung Hoa, và tình nguyện trở về cứu nước, khi thấy đất nước
trước hoạ xăm lăng của Nhật Bản.
Han Suyin, xuống Tàu Laborde, nhổ neo ở Marseille (Pháp) và đi
Hương Cảng. Bà gặp bạn cũ là Tang Pao Huang, hồi nhỏ học ở Bắc
Kinh, tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, vì lý tưởng, họ yêu nhau và cưới nhau
trên đường về nước.
Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim
Han Suyin
vietmessenger.com
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Mùa hè vắng bóng chim 1 , cuốn tiểu thuyết tự truyện của Han Suyin
(Hàn Tú Anh), thuật truyện riêng đời tác giả, một thiếu nữ Trung
Quốc lai Bỉ (cha gốc Hán, mẹ người Bỉ), nhiệt tình yêu đất nước
Trung Hoa, và tình nguyện trở về cứu nước, khi thấy đất nước trước
hoạ xăm lăng của Nhật Bản.
Han Suyin, xuống Tàu Laborde, nhổ neo ở Marseille (Pháp) và đi
Hương Cảng. Bà gặp bạn cũ là Tang Pao Huang 2 , hồi nhỏ học ở
Bắc Kinh, tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, vì lí tưởng, họ yêu nhau và cưới
nhau trên đường về nước 3 .
Nhưng ngay sau ngày cưới, Han Suyin đã thấy ngay những dự định
của mình thành ảo tưởng. "Mùa hè vắng bóng chim" bắt đầu từ
đấy… Cuốn tự truyện thuật lại hết sức sinh động, bi kịch từ hai phía:
lí tưởng phục vụ tổ quốc và tình yêu… Chỉ khi về đến Tổ quốc, chỉ
khi chung sống với Pao, một sĩ quan trẻ của quân đội Tưởng Giới
Thạch, Han Suyin mới thật sự vỡ mộng. Tổ quốc Trung Hoa mà bà
yêu tha thiết, trong tay chính quyền Tưởng Giới Thạch, đã thực sự
suy yếu. Tập đoàn cai trị, từ Tưởng Giới Thạch, Hà Ứng Khâm, Hồ
Tôn Nam, Tai Lee 4 , dưới mắt tác giả, đều là những chính khách bất
tài, dùng những thủ đoạn chính trị để bốc lột đàn áp dân chúng, đàn
áp phong trào kháng chiến, bòn rút tiền viện trợ của ngoại quốc, để
làm giàu cho bản thân họ.
Còn Tang Pao Huang chồng Han Suyin, bề ngoài tưởng là một
thanh niên yêu nước thật sự, nhưng thực ra hệ tư tưởng của anh
cũng không thoát khỏi ý thức của lớp trí thức trẻ, con các gia đình
phong kiến rất hám danh lợi, ích kỉ. Dù là hạng tân học, song đầu óc
Pao đặc sệt tư tưởng cổ hủ của phong kiến xưa. Dù yêu vợ, song
Pao không hề mong vợ có chí tiến thủ, chỉ muốn vợ biến thành một
người lệ thuộc, phục vụ riêng cho mình… Han Suyin là một phụ nữ
tiến bộ, lại ở nước ngoài từ bé 5 , sẵn có tư tưởng dân chủ trong
mình, hoàn toàn chống lại… Và Pao đã hành hạ Han Suyin rất thậm
tệ, đánh đập không tiếc tay, ở trong nhà và ngay ở công viên…
Nhờ vào chức vụ của Pao, thói hãnh tiến của anh ta mà Han đã tiếp
xúc với được nhiều hạng người trong giới thượng lưu, do đó bà đã rõ
bộ mặt thối nát của tập đoàn Tưởng Giới Thạch, và thất vọng về
tương lai của Tổ quốc.
Cuốn tự truyện đã vượt ra khỏi đời riêng của một phụ nữ Trung Hoa,
vẽ ra một bức tranh toàn cảnh, rất sinh động về tình hình đất nước
của bà từ ngày Nhật xâm lăng, chiếm Mãn Châu, cho đến lúc Thế
Chiến thứ hai kết thúc 6 .
Bằng bút pháp linh động, tinh tế, mổ xẻ những hiện tượng tâm lí xã
hội của tấm bi kịch riêng của vợ chồng bà, cũng như tấn bi kịch lớn
của đất nước Trung Hoa. "Mùa hè vắng bóng chim" là một cuốn tiểu
thuyết có giá trị về nhiều phương diện.
Tác phẩm phản ánh những diễn biến lịch sử phức tạp với những âm
mưu giảo quyệt, với chính sách thâm độc của chính quyền Tưởng
Giới Thạch, phản ánh những mâu thuẫn gay gắt giữa những thế lực
ngoại bang Mĩ, Anh, Nhật trong đại chiến thế giới lần thứ hai… Nói
nó thực sự sa đoạ của bọn cầm quyền thối nát và nỗi khổ cực của
tầng lớp thợ thuyền và nông dân Trung Quốc. Cuốn sách có nhãn
quan bén nhạy khi nhìn triển vọng đất nước thông qua những người
thực tâm đuổi Nhật để giành lấy một đất nước Trung Hoa tự chủ và
độc lập hoàn toàn…
Nhưng hấp dẫn hơn là gương tự lập của một phụ nữ vượt lên tất cả
những ràng buộc, những vật cản của con đường tiến thân, với một
nghị lực phi thường, một ý chí không lay chuyển, để phát triển tài
năng và đạt được lí tưởng của mình…
Cuộc đời riêng của Han Suyin đầy éo le, và cũng rất điển hình cho
số phận của những thiếu nữ tân học, đầy nhiệt tình, sống lí tưởng,
nhưng số phận bị xô đẩy trôi nổi cũng hết sức dữ dằn.
Cuốn tự truyện hấp dẫn bởi những chi tiết hiện thực nghiêm khắc,
mà tác giả đã bình tĩnh phân tích một cách sắc sảo… Cuốn sách
đọc một mạch và để lại một dư âm, một ấn tượng khó phai. Hạnh
phúc của một đời người phải trả những giá quả là rất đắt…
Bút pháp của Han Suyin rất sinh động, tự nhiên, chính xác, phù hợp
với tâm hồn nhạy cảm, khi thì phân tích những tình huống nóng
bỏng của thời cuộc, hoặc những mâu thuẫn nội tâm đang giằng xé
quyết liệt. Lời văn nhiều chỗ mạnh mẽ và trữ tình… Qua bản dịch,
dịch giả đã để nhiều công phu để bản dịch được hoàn hảo, khiến
độc giả say sưa theo từng trang sách.
Ngoài "Mùa hè vắng bóng chim", Han Suyin còn là tác giả một số
tiểu thuyết khác nổi tiếng… Bà là nữ tác giả Trung Hoa rất nổi tiếng
ở nước ngoài. Các tác phẩm của bà đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
ngay sau khi xuất bản lần thứ nhất.
Nhà xuất bản Văn Hoá – Thông Tin xin trân trọng giới thiệu cùng
bạn đọc.
TỰA (của dịch giả)
Thực ra là Hai mùa hè vắng bóng chim, một mùa hè của tác giả lồng
trong mùa hè của sáu trăm triệu dân Trung Hoa, cả hai đều "dài
đăng đẳng" hơn mười năm trời đều "nóng bỏng đến nỗi chim chóc
không hót nữa", nhưng sau lò lửa đó, "người ta đã cảm thấy ngọn
gió biển đầu tiên đem lại trận mưa tế độ".
Nguyên do chỉ tại Nhật Bản đã muốn thôn tính Trung Hoa từ lâu,
ngày mùng 7 tháng 7 năm 1937 viện cớ một người lính Nhật mất
tích (sau lại trở về) mà tấn công đồn Uyên Bình của Trung Hoa ở
gần Lư Câu Kiều và gây ra cuộc chiến tranh Trung Nhật 1937-1945.
Hay tin quân Nhật ồ ạt chiếm đánh Hoa Bắc, Han Suyin (Hàn Tú
Anh), 21 tuổi, đương học năm thứ ba Y Khoa ở Đại Học Bruxelles
nổi con khủng hoảng tinh thần: bực tức, dễ quạu, mất ngủ, khóc lóc
– con người đó cực kì đa cảm – nhất định bỏ học, trở về Trung Hoa
để cứu nước, mặc dầu họ hàng bên ngoại và bạn bè đều cho như
vậy là điên khùng. Nhưng Han Suyin một mực đáp: "cây thì có gốc
rễ nên tôi trở về gốc rễ, ở lại đây, tôi sẽ nhớ nước mà chết mất".
Bà chỉ có một nửa máu Trung Hoa, tên thực là Rosalie Tchou (Hàn
Tú Anh chỉ là bút hiệu) 7 mà yêu Trung Hoa hơn cả cha mẹ và bản
thân bà nữa. Thân phụ là Tchou Yen Tong 8 , sanh trong một vọng
tộc ở Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên), qua Bỉ học từ 1904 đến 1913, trở
về nước với một bằng cấp Kỹ sư hỏa xa và một người vợ Bỉ trong
giai cấp đại tư sản, Marguerite Denis 9 , rồi làm cho một công ti Hỏa
xa của Bỉ, xây cất nhiều đường xe lửa ở Hoa Bắc. Cha vẫn giữ cốt
cách Trung Hoa, điềm đạm, nghệ sĩ, thích làm thơ. Mẹ thì lãng mạn,
nóng nảy, bướng bỉnh, nhưng rất can đảm.
Han Suyin sanh năm 1917 ở Bắc Kinh, hồi nhỏ rất cực khổ. Nhà
nghèo vì cha không muốn hưởng gia tài của tổ tiên, mà lương một kĩ
sư "da vàng" chỉ bằng một phần năm lương một kĩ sư "da trắng". Lại
bị mẹ ghét bỏ vì không đẹp mà tính tình cứng cỏi. Mười lăm tuổi
phải thôi học, khai gian tuổi, xin một chân thư kí 10 để giúp nhà và có
tiền học thêm. Nhờ tư chất rất thông minh, thi đậu vô đại học Yen
tching 11 ở Bắc Kinh, và hai năm sau, năm 1935, được một người
Bỉ, Joseph Hers, bạn của cha – vì vậy trong truyện này, Han Suyin
gọi là Bác – xin cho một học bổng qua Bruxelles học Y Khoa. Ở
Bruxelles, bà học cũng rất tấn tới, luôn luôn đỗ đầu, thường diễn
thuyết, hô hào lòng ái quốc trong hội Ái hữu Trung Bỉ, yêu một luật
sư Bỉ trẻ tuổi, tên là Louis hai người định cưới nhau thì chiến tranh
Trung Nhật phát, và bà quyết tâm từ bỏ hết: thầy học, bạn bè, họ
hàng bên ngoại, vị hôn phu và cả tương lai nữa để về Trung Hoa
kháng Nhật.
Truyện bắt đầu từ lúc bà xuống tàu Jean Laborde nhổ neo ở
Marseille để đi Hương Cảng. Bà gặp một bạn cũ ở Bắc Kinh hồi
nhỏ, Tang Pao-Houang, sinh viên trường võ bị Sandhurst (Anh) cùng
về một chuyến tàu, cũng để kháng Nhật. Hai người cùng chung một
hoài bão, một lí tưởng:
"Cô về Trung Hoa?… một thiếu nữ mà ái quốc thì càng đáng khen
hơn nữa… Tôi sẽ về thẳng Vũ Hán để trình diện với thượng cấp…
Tôi sẵn sàng chết vì Tổ quốc… còn cái vinh dự nào bằng chết vì
chiến đấu với quân xâm lăng?".
Những lời đó "tung bay trong ngọn gió từ mặt biển sặc sỡ đưa lên",
làm cho Han Suyin tưng bừng, tưởng tượng cuộc đời sắp tới, gian
khổ nhưng anh dũng, đây đủ ý nghĩa và tràn trề hi vọng.
Họ yêu nhau, ghé Hương Cảng ít bữa rồi nôn nả đi thẳng về Vũ
Hán, chỉ sợ trễ quá, không kịp dự trận kháng Nhật đương xảy ra tại
đó. Họ cưới nhau ở Vũ Hán, dự định chồng sẽ cầm quân, vợ sẽ làm
y tá trong quân y viện.
Nhưng toàn là ảo tưởng cả. "Mùa hè" nóng bỏng của Han Suyin bắt
đầu từ đó: Tang Pao-Houang, tưởng là một thanh niên nhiệt tâm ái
quốc thì chỉ là hạng phong kiến, hám danh hám lợi, mặc dầu có tân
học mà tinh thần rất hủ bại, đối với vợ tàn nhẫn không tưởng tượng
nổi, cứ ít bữa lại đánh đập vợ, cả những khi ở giữa công viên, ở
trong tiệm ăn, Han Suyin "vì muốn hi sinh cho Trung Hoa" mà phải
cắn răng chịu đựng. Trong những giờ bị hành hạ đó:
"… tôi tập vừa hít thật sâu, vừa đếm: "Trung Hoa có sáu trăm triệu
dân: 1, 2, 3, 4, 5… Anh ấy sắp chán… Anh ấy sắp chán… anh ấy
sắp nghỉ tay". Dù cảnh đó kéo dài… có khi tới gần 10 giờ, tôi không
được ăn uống gì cả, mà cũng vẫn phải ngồi co ro trên sàn, đợi
những cú giáng xuống, sợ nhất là bị đòn mà hóa đui hoặc mặt mày
thành sẹo…".
Mà hầu hết các bạn của Pao, các sĩ quan Hoàng Phố đều như vậy,
có kẻ còn nhốt vợ vào cũi, bêu ở ngoài đường cho tới chết đói mà
không ai dám can ngăn kể cả cha mẹ người đàn bà xấu số! Thực tế
đã vượt hẳn sức tưởng tượng. Han Suyin xin li dị, Pao nhất định
không cho, xin đi học thêm cũng mấy lần bị từ chối. Pao chỉ muốn
vợ mình làm nô lệ trong nhà để thoả mãn nhục dục và những cơn
điên của mình thôi, hoặc để giúp mình tiến thân. Và Han Suyin chịu
cuộc đời nô lệ đó tám năm, theo Pao từ Vũ Hán đến Quảng Tây, vô
Trùng Khánh, sau cùng qua Londres khi Pao được phái làm tùy viên
quân sự ở Anh.
Năm 1945, Bà oán Pao tới nỗi đâm ra ghê tởm lây hết thảy bọn đàn
ông, sau đó trong bốn năm, bà bị bệnh thần kinh, tưởng hóa điên.
Sau bà quyết li thân, để Pao về Trung Hoa một mình 12 , bà ở lại
Londres học tiếp y khoa, để có nghề tự nuôi thân và nuôi một đứa
con gái nuôi năm tuổi.
Vậy hoài bão là trở về Trung Hoa để giúp quê hương trong cuộc
chiến tranh chống ngoại xâm, mà thực tế chỉ là để sống một cuộc
đời vô ích và tủi nhục. Nhưng không bao giờ bà tiếc mấy năm đó cả,
vì nhờ theo Pao, bà mới thấy được tận mắt chế độ thối nát kinh
khủng của Tưởng Giới Thạch (Pao là một sĩ quan cấp tá được
Tưởng hơi tin cậy), thấy được tình cảnh điêu đứng của bần dân
Trung Hoa sống như loài vật trên một non sông tuyệt đẹp. Tóm lại là
được mục kích, được sống "một mùa hè nóng bỏng" của dân tộc,
khiến bà càng yêu quê hương và đồng bào của bà hơn.
Phần tả đời sống của phu phen, nông dân Trung Hoa, dưới sự đàn
áp, bóc lột của bè phái Tưởng Giới Thạch, xen lẫn với phần tả đời
sống riêng tư của bà một cách điêu hòa, khéo léo, không phần nào
lấn phần nào, mà giọng văn luôn luôn linh động, có chỗ mỉa mai, dí
dỏm, nhiều chỗ phẫn uất, hình ảnh mới mẽ, bút pháp rất mạnh.
Chính nhờ đọc cuốn này – chứ không phải những cuốn sử hiện đại
của Trung Hoa – tôi mới hiểu tại sao năm 1945 danh của Tưởng
Giới Thạch lên tới tột đỉnh, mà chỉ bốn năm sau ông ta đã phải dắt
vợ con và một bọn thủ hạ chạy trốn qua Đài Loan, không quên ôm
theo 450 triệu Mĩ Kim, vàng, và Mĩ bỏ non sáu tỉ 13 vào cuộc nội
chiến Trung Hoa mà không cứu văn nổi, lại chuốc thêm một nỗi hận
chua chát.
Nguyên nhân thất bại nằm ngay trong lòng Quốc Dân đảng từ trước
1938. Đủ hết các cảnh độc tài và thối nát trong một tấn tuồng vừa bi
vừa hài: chính quyền Quốc Dân đảng chỉ lo củng cố địa vị và làm
giàu, không nghĩ tới dân, không kháng Nhật, rút lui hoài về phía Tây,
nhường hết những miền phì nhiêu cho Nhật, để sống trong những
hầm bọc sắt tại Trùng Khánh bảo toàn lực lượng, chờ thế chiến
chấm dứt mà "bất chiến tự nhiên thành", rồi lúc đó sẽ xua quân diệt
Cộng, họ đề cao nhân vị mà lại lùng bắt nông dân ở ngoài đồng, phu
phen ở ngoài phố, lấy dây thừng hay dây chì cột lại thành từng "xâu"
lùa vào các trại quân, rồi đánh đập, bỏ đói, họ mua quan bán chức,
bán chợ đen dược phẩm, y phục, lương thực của lính, bán lậu khí
giới cho Nhật, đi công du ngoại quốc thì kẻ nào cũng chở từng xe
cam nhông xa xỉ phẩm về, họ bắt dân nhổ lúa để trồng thuốc phiện,
họ đặt ra hàng trăm thứ thuế: thuế tóc, thuế cửa sổ, thuế số nhà,
thuế thương người, thuế hạnh phúc, thuế làm biếng (nghĩa là không
trồng thuốc phiện…) 14 , họ lạm phát giấy bạc tới cái mức dân phải
khiêng cả thúng giấy bạc đi mua một vé xe buýt 15 , gái điếm nhung
nhúc, mật vụ cũng nhung nhúc. Đức có bọn Sơ mi nâu thì họ có bọn
Sơ mi lam, hạng công chức hay quân nhân cao cấp Quốc Dân đảng
thì bốn năm vợ, ngày nào cũng đánh mạt chược từ khi mở mắt cho
tới khi đi ngủ, một kẻ kiêm bảy tám chức vụ, lãnh bảy đầu lương, và
lâu lâu mới tới nhiệm sở một hai giờ, còn hạng công chức thấp thì
rách rưới, đói khát, chỉ được cấp gạo vừa đủ cho vợ con khỏi chết
đói, cho nên công việc bê trễ, và nạn hối lộ lan tràn từ trên xuống
dưới, thành một "quốc sách" bắt dân phải gián tiếp trả thêm lương
cho công chức.
Còn hạng dân đen thì:
"… ngay dưới chân tôi, dưới 478 bục đá kia 16 là bờ sông chất lộn
xộn những thúng, những bành hàng hóa mà phu phen tranh nhau
đưa lên vai để khiêng rồi leo, leo, leo những bực thang, thành một
hàng bất tuyệt, leo hoài không ngừng, và người ta thấy cổ họ, chân
họ nổi gân lên, nghe thấy hơi thở hổn hển của họ phát từ những bộ
ngực lép xẹp, thót lại… Tôi thấy những phu khiêng kiệu chiến đấu
từng bực, từng bực một, cái cán bằng tre đâm sâu trong thịt họ mỗi
khi kiệu lắc lư, trong kiệu, các công chức ưỡn người ra khoan
khoái…".
Ngày ngày Han Suyin nhìn thấy tình cảnh những người lao động đó
quần rách để hở đít, đầy rận, kẻ nào cũng xanh xao, ốm tong teo vì
nghiện thuốc xái – họ không đủ ăn, phải dùng thứ đó để lấy sức mà
khiêng vác, cứ hai giờ lại nghỉ để hút – bà thương họ vô hạn, và:
"Thật là vô lí, không hiểu tại sao tôi lại muốn ở vào địa vị họ, tôi
muốn đôi dép rơm mà họ đi, uống thứ trà đậm, chát mà họ uống ở
các quán cóc… rồi tôi cũng leo những bực thang như họ, nhưng hỡi
ôi, không vác gì trên vai cả!".
Bà uất hận, tin chắc rằng tình trạng đó không thể kéo dài hoài được,
một ngày kia cách mạng phải vì bọn họ mà dấy lên, như một cơn
nước dông, cuốn hết các nhơ nhớp của chính thể Quốc Dân đảng,
và năm 1945, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, bà mừng rỡ đoán
trước rằng cuộc cách mạng sắp phát.
Đọc phần đó, chúng ta không thể không liên tưởng đến tình cảnh
nước ta trong mười mấy năm qua, tôi cho rằng có những luật bất di
bất dịch trong lịch sử: những dân tộc cùng một văn hoá, đặt trong
một hoàn cảnh như nhau thì phản ứng cũng như nhau và rốt cuộc
cùng đi tới một điểm lịch sử như nhau. Điều đó tôi đã dẫn chứng
trong bộ Văn học Trung Quốc hiện đại 17 , đọc tác phẩm của Han
Suyin, tôi càng thấy nó đúng. Thật lạ lùng! Việt Nam và Trung Hoa
sát nách nhau, sự thất bại của Tưởng Giới Thạch như tấm gương
tầy liếp mà Ngô Đình Diệm và các người sau không biết soi, ngay
như Mĩ cũng vậy, đã thất bại ở Trung Hoa mà càng không biết rút ra
một bài học, lại sa vào vết xe cũ. Cơ hồ như con người không biết
dùng lí trí, hành động toàn theo một bản năng do hoàn cảnh, nếp
sống quyết định. Ít ai học được bài học của lịch sử!
Bà kịch liệt mạt sát chế độ Quốc Dân đảng làm cho ta có cảm tưởng
rằng bà thiên Cộng. Sự thật không phải vậy: bà chỉ ghét những kẻ
tàn bạo và chỉ yêu dân tộc Trung Hoa thôi, hễ phải thì bà khen, trái
thì bà chê, cho nên Quốc Dân đảng đã ghét bà mà Cộng Sản cũng
không ưa: Năm 1948 đã "tố" bà rồi, năm 1966-1967, một nhóm ở
Bắc Kinh lại tố thêm một lần nữa trong cuộc cách mạng Văn hóa.
Trả lời cuộc phỏng vấn của Marianne Monestier (năm 1967 hay
1968), bà nói:
"…Tôi chưa bao giờ là cộng sản, mà cũng không bao giờ có thể
thành cộng sản được vì đã tới cái tuổi không còn tin một cách khá
mãnh liệt bất kì một cái gì nữa". Mục đích của bà là ghi lại các biến
cố "một cách vô tư và trung thực, không khôi phục dĩ vãng, cũng
không chiến đấu cho hiện tại, để cho các thế hệ sau biết hết những
gì đã xảy ra" vì "thế giới cần có những nghệ sĩ chép lại các biến cố
một cách thiện cảm mà không cuồng nhiệt, hơn là cần các nhà
truyền giáo độc ác hô hào những cuộc chiến đấu hư ảo chống lại sự
thật".
Bà khởi công từ năm 1964. Trước năm đó bà đã xuất bản được sáu
bảy cuốn, cuốn đầu là Destination Tchoungking viết từ hồi sống ở
Trùng Khánh, chung với một nữ bác sĩ Mĩ (bà viết rồi bạn bà sửa lại)
kể cuộc đời của vợ chồng bà từ Vũ Hán theo Tưởng Giới Thạch lại
Trùng Khánh. Cuốn đó xuất bản ở Mĩ, rồi ở Anh. Sau đó bà ngưng
viết khoảng mười năm. Năm 1949 đậu Y Khoa bác sĩ rồi (chồng bà
đã tử trận ở Mãn Châu) nhiều nơi ở Londres nhờ bà cộng tác, bạn
bè cũng khuyên bà ở lại Anh làm việc, nhưng lần này cũng như
mười năm trước, bà quyết định trở về Á Châu, dù không sống ở Hoa
lục thì ít nhất cũng sống ở sát Hoa lục để coi xem tình hình ra sao,
dân chúng Trung Hoa dưới chế độ cộng sản sống ra sao? "Tôi
không thể sống yên ổn ở Anh được… tôi không từ bỏ Trung Hoa, tôi
không quay lưng lại với nó".
Và bà đáp xuống Hương Cảng, mở phòng mạch trị bệnh cho người
Á Châu, sau lại Singapore cũng để vừa làm nghề y sĩ, vừa xét tình
cảm người Trung Hoa, người Mã Lai…
Trong thời gian từ năm 1950 đến 1964, bà viết thêm những cuốn:
Multiple Splendeur về Trung Hoa.
Et de la pluie pour ma soif về cuộc kháng Anh ở Mã Lai.
La montagne est jeune 18
v.v…
Cuốn nào cũng đã được dịch ra tiếng Pháp (nhà Stock ở Paris, và
nhà Rencontre ở Lausanne), nhiều cuốn đã được in trong loại sách
bỏ túi.
Những hình ảnh những cùng dân Trung Hoa vẫn ám ảnh bà, bà bất
mãn về các cuốn đã viết về Trung Hoa, nhất là cuốn Destination
Tchoungking viết hồi sống dưới chế độ kiểm duyệt gắt gao của
Tưởng Giới Thạch, trái hẳn sự thực, cho nên năm 1964 bà ngưng
hoạt động y sĩ, soạn một bộ kể lại đời sống của gia tộc bà và lịch sử
Trung Hoa từ cuối thế kỉ trước cho tới những ngày gần đây nhất, để
giải tỏa nỗi lòng. Điều đó làm cho chúng ta nhớ trường hợp
Somerset Maugham bỏ viết kịch để viết truyện Of human bondage 19
.
Bộ đó gồm bốn cuốn, tới nay đã xuất bản được ba:
L'arbre blessé – 1965 (Cây bị thương tích) chép giai đoạn từ 18851928.
Une fleure mortelle – 1967 (Một bông hoa tai hại) chép từ 19281938.
Un été sans oiseaux – 1968 (Một mùa hè vắng bóng chim) chép từ
1938-1949.
Cả ba cuốn đó 20 đã được dịch ra tiếng Pháp từ khi bản tiếng Anh
mới xuất hiện và có thể còn được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nữa.
Cuốn thứ tư, nhan đề là La moisson du Phénix (Mùa gặt của chim
Phượng) 21 , chưa xuất bản, chép tiếp từ 1949 trở đi, và sẽ cho ta
được nhiều tài liệu quí về các sự thay đổi triệt để ở Hoa lục, trong
đời sống của mọi giai cấp, vì trong khoảng mười mấy năm nay, năm
nào bà cũng về Hoa lục "thăm bà con bè bạn, tìm lại những sự kiện,
kỉ niệm cũ…", thu thập ghi chép những điều mắt thấy tai nghe.
Toàn bộ sẽ dầy khoảng 1.600 trang khổ lớn, xấp xỉ bộ Chiến tranh
và hòa bình của Léon Tolstoi, có giá trị hơn các truyện Pearl Buck
viết về Trung Hoa, Pearl Buck chỉ giúp người Phương Tây hiểu một
cách hời hợt đời sống cùng tâm hồn người Trung Hoa, những điều
mà chúng ta, cùng một văn hóa với Trung Hoa, đều biết cả rồi. Han
Suyin sâu sắc hơn, cho ta thấy thận phận bi đát, tủi nhục của phụ
nữ (chính là thân phận của bà) của bần dân Trung Hoa, và hiểu
được lịch sử hiện đại của Trung Hoa, một bi kịch lớn nhất của thời
đại, làm sụp đổ một nền văn minh bốn ngàn năm và đương làm rung
chuyển cả thế giới, hậu quả chưa biết sẽ tới mức nào. Chính bi kịch
chung của một dân tộc đó đã gây ra một bi kịch riêng cho gia đình
họ Tchou trong hai thế hệ, thế hệ của thân phụ bà và của bà.
Trong ba cuốn đã ra, chúng tôi lựa cuốn sau cùng "Một mùa hè vắng
bóng chim" để giới thiệu với độc giả vì cuốn đó tả một giai đoạn bi
đát nhất, có ảnh hưởng lớn nhất tới tương lai của Đông Á, mà người
Việt chúng ta lại được biết ít nhất.
Trong mười mấy năm nay, chúng tôi đã nhờ các bạn thân kiếm giùm
ở Hương Cảng, ở Đài Bắc một cuốn sử của người Trung Hoa viết
về giai đoạn đó, mà không được. Chúng tôi đành phải tìm các cuốn
sách người Anh, người Pháp viết. Cũng được vài cuốn có giá trị
(khảo cứu công phu, có tinh thần khách quan) như cuốn Les
origines de la Révolution Chinoise (1915-1919) của Lucien Bianco
(Gallimard 1967) nhưng những cuốn này là sử, tài liệu tuy dồi dào
mà không gợi được cái không khí của thời cách mạng, cùng cái nỗi
lòng của dân chúng. Tác phẩm của Han Suyin bổ túc được khuyết
điểm đó, và chính Lucien Bianco cũng nhiệt liệt giới thiệu cuốn
L'abre blessé 22 là cuốn đáng đọc nhất về lịch sử Trung Hoa hiện đại
trong loại sách phổ thông.
Khi dịch, chúng tôi đã cắt bớt chín trang đầu tác giả tự giới thiệu, vì
những ý chính trong đoạn đó đã được đưa vào Tựa này rồi, nhiều
đoạn khác chép những kỉ niệm riêng của tác giả về một số người
thân hoặc bạn bè (có giá trị về tình cảm đối với tác giả mà ít quan
trọng đối với chúng ta). Tôi cũng cắt bớt hoặc tóm tắt lại cho khỏi
mất sự liên tục trong truyện.
Han Suyin mượn nhiều danh từ khoa học, nhất là y khoa để tạo
những hình ảnh đột ngột, dùng một bút pháp tự nhiên, có nhiều góc
cạnh không đẽo gọt như Pearl Buck, chính vì vậy mà lời văn rất
mạnh, nhưng cũng khó dịch, đôi khi chúng tôi phải phóng bút, cốt
diễn lại được một phần cảm xúc của tác giả thôi.
Chúng tôi đã tra cứu trong hai bộ:
Asia Who's Who (in lần thứ ba) của cơ quan Pan Asia Newspaper
Alliance – Hương Cảng.
China Year Book 1967-1968 của nhà China Publishing Co – Đài Bắc
để tìm ra các danh nhân, địa danh Trung Hoa phiên âm ra tiếng
Pháp trong tác phẩm.
Dĩ nhiên có nhiều tên không thể tra được, như những nhân danh
Tchou Yentong, Tang Pao Houang, thân phụ và chồng của Han
Suyin, những địa danh Nanyu 23 , Chin Kan shan 24 … mặc dầu rất
thường nhắc tới trong truyện mà không có hai cuốn kể trên, chúng
tôi đành phải để nguyên lối phiên âm trong bản tiếng Pháp, chứ
không dám làm cái việc đoán mò.
Những tên tra được thì tôi dùng ngay tên Việt như Bạch Sùng Hi, Hà
Ứng Khâm, Diên An, Quế Lâm… rồi cuối sách mới lập một bảng
chép thêm những tên đó bằng tiếng Anh 25 : Pai-Tchong-hsi, Ho
Ying K'in, Yenan, Koueilin…
Sài Gòn, ngày 01-08-1971 26
Xem lại tháng 12-1980
N.H.L
PHẦN THỨ NHẤT (1938-1942)
1
Mọi sự bắt đầu xảy ra trên chiếc tàu Jean-Laborde. Bảy người Trung
Hoa đi hạng nhất là những Sinh viên lục quân ở các trường Võ bị
Đức, Anh hồi hương, trong số đó có Tang Pao Houang 27 . Anh nhận
ra tôi trước tiên, ngay từ giờ đầu, trong khi chiếc tàu ra khơi, lục địa
Châu Âu chỉ còn là một đám bông xám, và anh Louis 28 đứng trơ trơ
trên bờ, như một vết vô tri giác, vô danh. Tang Pao Houang cũng
nán lại trên boong, vẫy tay từ biệt các bạn thân, và trong số tất cả
các sinh viên Trung Hoa, chỉ duy nhất có anh là tán thành quyết định
của tôi.
"Cô về Trung Hoa… một thiếu nữ mà như vậy thì càng đáng khen
hơn nữa". Mấy hôm sau tôi không gặp lại anh, nhưng mấy người
khác thì cứ lảng vảng chung quanh tôi, xuống boong hạng nhì, và
hỏi tôi tại sao lại về nước. Tôi kể cho họ nghe chuyện của tôi và mặc
dầu ngây thơ chứ tôi cũng thấy rằng họ không tin tôi, điều đó làm
cho lòng tự ái của tôi bị thương tổn. Sau này tôi mới biết rằng họ chỉ
muốn làm quen với tôi cho những ngày vượt biển đỡ buồn thôi (…)".
Hôm đó Tang Pao Houang, bác sĩ You và tôi đi bách bộ trên boong,
cười cười nói nói, bàn tính về những hi vọng trong một tương lai
chưa biết ra sao. Pao cũng như bác sĩ You, tràn trề thiện ý, hứa giúp
đỡ tôi mọi việc, tôi cảm thấy Pao suy nghĩ nghiêm trang hơn bác sĩ
You và tôi tự nhủ thầm rằng đời sống, hoặc Trời Phật hoặc thần hộ
mạng của tôi đã nhân từ quá muốn thưởng thiện ý của tôi nên cho
tôi gặp được người bạn chân thành mà hoạt động như vậy, không
phải chỉ biết gợi ý mà thôi đâu, còn có vẻ nhiệt tâm ái quốc, hoàn
toàn Trung Hoa nữa. Ngay trong mấy ngày đầu đó, Pao đã nói đến
bổn phận tỏ ra nóng lòng muốn ra mặt trận rồi: "Tôi sẽ về thẳng Vũ
Hán để trình diện với Thượng cấp… Tôi sẵn sàng chết vì Tổ quốc…
kẻ nào không sẵn sàng hi sinh như vậy thì không phải là thực tâm ái
quốc, cũng không phải là một hão hán nữa… còn cái vinh dự nào
bằng chết vì chiến đấu với quân xâm lăng…". Bây giờ đây, tôi còn
như nghe thấy những lời đó tung bay trong ngọn gió từ mặt biển sặc
sỡ đưa lên, những lời đã làm cho lòng tôi bừng bừng. Lúc đó tôi
mong rằng, Pao đừng vội chết quá sớm, ít nhất là đừng chết trước
khi tôi cũng đã làm được cái gì đó cho Tổ quốc, chứng tỏ rằng tôi
không phải là con người vô dụng, mà cũng là người Trung Hoa đây,
cũng sẵn sàng chết cho Trung Hoa… Mặc dầu thỉnh thoảng trong
lòng tôi lại nhói lên, xót xa nhớ lại rằng đối với nhiều người Trung
Hoa, mình là một thiếu nữ lai Âu, không luôn luôn được họ chấp
nhận đâu, nhưng Pao hình như không nghĩ vậy: "Cô có máu Trung
Hoa mà, máu là do cha truyền cho, mẹ chỉ tiếp nhận thôi". Những ý
kiến lạc hậu phản khoa học đó làm cho tôi mỉm cười, nhưng tôi cảm
ơn anh đã không khinh tôi vì tôi lai Âu…
Tâm hồn nhẹ nhàng như trong giấc mộng, chúng tôi vùn vụt vượt Ấn
Độ dương, nói chuyện về Trung Hoa và về Pao, trong khi những bầy
cá heo quậy lên ở gần lườn tàu. Và Pao đối với tôi là hiện thân của
Trung Hoa.
Tới Sài Gòn, Pao muốn rằng chúng tôi hứa hôn với nhau, tôi từ chối,
lấy lẽ rằng tôi đã "gần như" là vợ một thanh niên Bỉ, sau đổi ý để hồi
hương. Có lẽ Pao không hiểu tôi muốn ám chỉ rằng tôi không còn là
con gái tân nữa. Vì không hiểu (lúc đó tôi có ngờ đâu là anh không
thể hiểu được), nên anh chỉ bình tĩnh gật đầu: "Tôi mừng về điều đó
lắm… phụ nữ Trung Hoa không nên lấy người ngoại quốc…".
Tôi đi kiếm bác sĩ You để nhờ ông khuyên bảo. Ông đáp: "Tuyệt vời.
– Phải bỏ dĩ văng lại phía sau đi, như tôi này, và chỉ nhìn về phía
trước thôi. Tang Pao Houang là một thanh niên rất đáng mến, gia
đình nền nếp lắm, rất nền nếp!".
28 tháng chín, – Giữa biển trên chiếc tàu Jean-Laborde.
Thưa bác 29 Joseph,
Tàu đã rời bến Sài Gòn hôm qua và hiện đương thẳng tiến về
Hương Cảng, cháu biết rằng bác giận cháu lắm, vì đã đổi lộ trình.
Bác đã khuyên cháu lên Sài Gòn ra Hà Nội rồi qua Côn Minh vì bác
đã viết thư cho đức Cha ở dưỡng đường Công giáo nơi đó, nhờ săn
sóc cháu giùm bác. Có lẽ cháu sẽ ở lại Hương Cảng hai ngày rồi
cháu sẽ đi xe lửa lên Vũ Hán. Cháu biết rằng bác muốn cháu đi Côn
Minh vì ở đó cháu được yên ổn hơn, nhưng cháu không muốn lạc
vào trong đám người tị nạn ở đó. Các báo Trung Hoa ở Sài Gòn
đăng tin rằng đám người tị nạn cuồn cuộn đổ xuống Côn Minh đông
nghẹt, cháu muốn ở càng gần mặt trận càng tốt, nghĩa là ở Vũ Hán.
Hiện đương có một trận lớn ở đó… Và cháu muốn lại đó…
Hôm nay đọc lại bức thư đó tôi ngạc nhiên nhớ lại rằng tấm bưu
thiếp đầu tiên mà cuối cùng tôi gởi cho vị hôn phu của tôi, anh Louis
ở Bỉ, là tấm gởi từ Port-Said 30 . Sau đó tôi không viết thêm một chữ
nào cho anh hết, cơ hồ như qua khỏi kinh Suez rồi thì không thể nào
thư từ với anh được nữa. Còn ông ngoại tôi 31 thì tôi có gởi được
vài bức ngắn và vài tấm bưu thiếp cho biết tôi mạnh khoẻ… Tôi
không thể ngồi vào bàn viết những bức thư dài nữa được, vì tất cả
những gì tượng trưng cho châu Âu, đối với tôi đã hóa ra mơ hồ, hư
ảo, mà tôi thì không thể giải được nỗi lòng của tôi cùng những việc
xảy ra chung quanh tôi, vì chung quanh tôi toàn là Châu Á, mà tôi
không thể cao hứng tả Châu Á đó như một du khách được, vì nó
mật thiết với tôi quá. Anh Louis đối với tôi chỉ còn như một cái bóng,
giá có gặp ảnh, không chắc tôi đã nhận ra được…
Công của ông ngoại tôi đối với tôi lớn lắm, tôi biết vậy, nhưng khi tôi
báo tin cho người hay tôi đã có chồng và sẽ ở lại Trung Hoa, thì
người trả lời rằng sẽ từ bỏ tôi từ đó. Rồi chiến tranh xảy ra ở Châu
Âu, và ông tôi mất năm 1940…
2
Tới Hương Cảng, anh Pao và tôi ở lại một khách sạn và mọi sự
được dễ dàng vì anh có nhiều bạn, tới đâu cũng gặp bạn. Những
liên hệ giai cấp, những đặc quyền gia tộc lại thêm tình bằng hữu ở
trong các trường võ bị đã tạo thành một cơ cấu thống trị chặt chẽ
mà anh là một thành phần. Từ thời nào tới giờ, sự đoàn kết về giai
cấp đó, cũng giúp họ dễ nắm được quyền hành. Mạnh mẽ, uyển
chuyển, tình vi ghê gớm, sự kết hợp của giới thượng lưu thống trị,
vượt qua được cả những cuộc cách mạng, và bọn thượng lưu đó có
thể ẩn nấp, trốn tránh mà chờ thời.
Tang Pao Houang là sản phẩm của giai cấp thống trị điền chủ –
quân phiệt – phong kiến. Giai cấp phong kiến đó dùng chính sách
quan lại mà cầm quyền ở Trung Hoa cho tới cách mạng 1949.
Nay từ khi đặt chân lên Hương Cảng, Pao đã được hồi phục trong
giai cấp của anh rồi, được giúp đỡ, che chở, hầu hạ, kính trọng. Bạn
bè anh lại kiếm chúng tôi, có người mời ăn, có người sẵn sàng cho
anh mượn tiền, dắt chúng tôi đi mua sắm. Tôi, trước kia chẳng ở
trong một đoàn thể nào cả, sống cô độc, không giao du với ai, xa
cách mọi người, bây giờ không còn cô đơn nữa, không phải thủ thế
nữa. Không có một cảm giác nào thích thú bằng được gia nhập một
đoàn thể, được chấp nhận. Mà tôi được vậy là nhờ Pao. Được yên
ổn, khỏi thắc mắc nữa, lương tâm tôi trơn tru không còn luôn luôn lo
lắng, khó tính như trước nữa. Vì tôi không biết chút gì về các cơ cấu
giai cấp, nên tôi tưởng rằng toàn thể người Trung Hoa cũng vui vẻ
chấp nhận tôi như nhóm của anh Pao lúc đó. Bây giờ tôi có thể hiểu
được những hồi đam mê quyền rũ hạng người rán vượt lên khỏi
thân phận thấp hèn – thực sự hay tưởng tượng của mình – để "tiến
lên", sau cùng "thành công". Họ vui sướng làm sao khi không nén
được những khoái cảm đó. Họ la lên: "Mình sẽ được hôn những tiểu
thư, những bà lớn", "Mình đã thắng". Thời trước ở Trung Hoa có biết
bao nhiêu thanh niên giảo hoạt sinh trong gia đình nghèo, được
tuyển dụng để tăng cường quyền uy của giới quan lại cầm quyền!
Và họ thành công tức là họ hoàn toàn phản bội vì kẻ bạo phát – còn
hơn ai hết – dùng những đức và những tật của giới họ đã len lỏi vô
được để củng cố thêm quyến thế cho giới đó.
Chính tôi cũng vậy, là nạn nhân của một âm mưu ngầm mà hồi đó
tôi không hay. Pao là người Trung Hoa, tôi là vị hôn thê của anh, nên
được Trung Hoa thừa nhận (hoặc tôi tưởng tượng như vậy), và tôi
đã bỏ Châu Âu vì nước Trung Hoa chứ không phải vì một người
nào. Đó là ảo tưởng lớn của tôi.
Chúng tô...
Han Suyin (Hàn Tú Anh)
NXB Văn Học (2018)
Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim là cuốn tiểu thuyết tự truyện của Han
Suyin (Hàn Tú Anh), thuật truyện riêng đời tác giả, một thiếu nữ
Trung Quốc lai Bỉ (cha gốc Hán, mẹ người Bỉ), nhiệt tình yêu đất
nước Trung Hoa, và tình nguyện trở về cứu nước, khi thấy đất nước
trước hoạ xăm lăng của Nhật Bản.
Han Suyin, xuống Tàu Laborde, nhổ neo ở Marseille (Pháp) và đi
Hương Cảng. Bà gặp bạn cũ là Tang Pao Huang, hồi nhỏ học ở Bắc
Kinh, tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, vì lý tưởng, họ yêu nhau và cưới nhau
trên đường về nước.
Một Mùa Hè Vắng Bóng Chim
Han Suyin
vietmessenger.com
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Mùa hè vắng bóng chim 1 , cuốn tiểu thuyết tự truyện của Han Suyin
(Hàn Tú Anh), thuật truyện riêng đời tác giả, một thiếu nữ Trung
Quốc lai Bỉ (cha gốc Hán, mẹ người Bỉ), nhiệt tình yêu đất nước
Trung Hoa, và tình nguyện trở về cứu nước, khi thấy đất nước trước
hoạ xăm lăng của Nhật Bản.
Han Suyin, xuống Tàu Laborde, nhổ neo ở Marseille (Pháp) và đi
Hương Cảng. Bà gặp bạn cũ là Tang Pao Huang 2 , hồi nhỏ học ở
Bắc Kinh, tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, vì lí tưởng, họ yêu nhau và cưới
nhau trên đường về nước 3 .
Nhưng ngay sau ngày cưới, Han Suyin đã thấy ngay những dự định
của mình thành ảo tưởng. "Mùa hè vắng bóng chim" bắt đầu từ
đấy… Cuốn tự truyện thuật lại hết sức sinh động, bi kịch từ hai phía:
lí tưởng phục vụ tổ quốc và tình yêu… Chỉ khi về đến Tổ quốc, chỉ
khi chung sống với Pao, một sĩ quan trẻ của quân đội Tưởng Giới
Thạch, Han Suyin mới thật sự vỡ mộng. Tổ quốc Trung Hoa mà bà
yêu tha thiết, trong tay chính quyền Tưởng Giới Thạch, đã thực sự
suy yếu. Tập đoàn cai trị, từ Tưởng Giới Thạch, Hà Ứng Khâm, Hồ
Tôn Nam, Tai Lee 4 , dưới mắt tác giả, đều là những chính khách bất
tài, dùng những thủ đoạn chính trị để bốc lột đàn áp dân chúng, đàn
áp phong trào kháng chiến, bòn rút tiền viện trợ của ngoại quốc, để
làm giàu cho bản thân họ.
Còn Tang Pao Huang chồng Han Suyin, bề ngoài tưởng là một
thanh niên yêu nước thật sự, nhưng thực ra hệ tư tưởng của anh
cũng không thoát khỏi ý thức của lớp trí thức trẻ, con các gia đình
phong kiến rất hám danh lợi, ích kỉ. Dù là hạng tân học, song đầu óc
Pao đặc sệt tư tưởng cổ hủ của phong kiến xưa. Dù yêu vợ, song
Pao không hề mong vợ có chí tiến thủ, chỉ muốn vợ biến thành một
người lệ thuộc, phục vụ riêng cho mình… Han Suyin là một phụ nữ
tiến bộ, lại ở nước ngoài từ bé 5 , sẵn có tư tưởng dân chủ trong
mình, hoàn toàn chống lại… Và Pao đã hành hạ Han Suyin rất thậm
tệ, đánh đập không tiếc tay, ở trong nhà và ngay ở công viên…
Nhờ vào chức vụ của Pao, thói hãnh tiến của anh ta mà Han đã tiếp
xúc với được nhiều hạng người trong giới thượng lưu, do đó bà đã rõ
bộ mặt thối nát của tập đoàn Tưởng Giới Thạch, và thất vọng về
tương lai của Tổ quốc.
Cuốn tự truyện đã vượt ra khỏi đời riêng của một phụ nữ Trung Hoa,
vẽ ra một bức tranh toàn cảnh, rất sinh động về tình hình đất nước
của bà từ ngày Nhật xâm lăng, chiếm Mãn Châu, cho đến lúc Thế
Chiến thứ hai kết thúc 6 .
Bằng bút pháp linh động, tinh tế, mổ xẻ những hiện tượng tâm lí xã
hội của tấm bi kịch riêng của vợ chồng bà, cũng như tấn bi kịch lớn
của đất nước Trung Hoa. "Mùa hè vắng bóng chim" là một cuốn tiểu
thuyết có giá trị về nhiều phương diện.
Tác phẩm phản ánh những diễn biến lịch sử phức tạp với những âm
mưu giảo quyệt, với chính sách thâm độc của chính quyền Tưởng
Giới Thạch, phản ánh những mâu thuẫn gay gắt giữa những thế lực
ngoại bang Mĩ, Anh, Nhật trong đại chiến thế giới lần thứ hai… Nói
nó thực sự sa đoạ của bọn cầm quyền thối nát và nỗi khổ cực của
tầng lớp thợ thuyền và nông dân Trung Quốc. Cuốn sách có nhãn
quan bén nhạy khi nhìn triển vọng đất nước thông qua những người
thực tâm đuổi Nhật để giành lấy một đất nước Trung Hoa tự chủ và
độc lập hoàn toàn…
Nhưng hấp dẫn hơn là gương tự lập của một phụ nữ vượt lên tất cả
những ràng buộc, những vật cản của con đường tiến thân, với một
nghị lực phi thường, một ý chí không lay chuyển, để phát triển tài
năng và đạt được lí tưởng của mình…
Cuộc đời riêng của Han Suyin đầy éo le, và cũng rất điển hình cho
số phận của những thiếu nữ tân học, đầy nhiệt tình, sống lí tưởng,
nhưng số phận bị xô đẩy trôi nổi cũng hết sức dữ dằn.
Cuốn tự truyện hấp dẫn bởi những chi tiết hiện thực nghiêm khắc,
mà tác giả đã bình tĩnh phân tích một cách sắc sảo… Cuốn sách
đọc một mạch và để lại một dư âm, một ấn tượng khó phai. Hạnh
phúc của một đời người phải trả những giá quả là rất đắt…
Bút pháp của Han Suyin rất sinh động, tự nhiên, chính xác, phù hợp
với tâm hồn nhạy cảm, khi thì phân tích những tình huống nóng
bỏng của thời cuộc, hoặc những mâu thuẫn nội tâm đang giằng xé
quyết liệt. Lời văn nhiều chỗ mạnh mẽ và trữ tình… Qua bản dịch,
dịch giả đã để nhiều công phu để bản dịch được hoàn hảo, khiến
độc giả say sưa theo từng trang sách.
Ngoài "Mùa hè vắng bóng chim", Han Suyin còn là tác giả một số
tiểu thuyết khác nổi tiếng… Bà là nữ tác giả Trung Hoa rất nổi tiếng
ở nước ngoài. Các tác phẩm của bà đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
ngay sau khi xuất bản lần thứ nhất.
Nhà xuất bản Văn Hoá – Thông Tin xin trân trọng giới thiệu cùng
bạn đọc.
TỰA (của dịch giả)
Thực ra là Hai mùa hè vắng bóng chim, một mùa hè của tác giả lồng
trong mùa hè của sáu trăm triệu dân Trung Hoa, cả hai đều "dài
đăng đẳng" hơn mười năm trời đều "nóng bỏng đến nỗi chim chóc
không hót nữa", nhưng sau lò lửa đó, "người ta đã cảm thấy ngọn
gió biển đầu tiên đem lại trận mưa tế độ".
Nguyên do chỉ tại Nhật Bản đã muốn thôn tính Trung Hoa từ lâu,
ngày mùng 7 tháng 7 năm 1937 viện cớ một người lính Nhật mất
tích (sau lại trở về) mà tấn công đồn Uyên Bình của Trung Hoa ở
gần Lư Câu Kiều và gây ra cuộc chiến tranh Trung Nhật 1937-1945.
Hay tin quân Nhật ồ ạt chiếm đánh Hoa Bắc, Han Suyin (Hàn Tú
Anh), 21 tuổi, đương học năm thứ ba Y Khoa ở Đại Học Bruxelles
nổi con khủng hoảng tinh thần: bực tức, dễ quạu, mất ngủ, khóc lóc
– con người đó cực kì đa cảm – nhất định bỏ học, trở về Trung Hoa
để cứu nước, mặc dầu họ hàng bên ngoại và bạn bè đều cho như
vậy là điên khùng. Nhưng Han Suyin một mực đáp: "cây thì có gốc
rễ nên tôi trở về gốc rễ, ở lại đây, tôi sẽ nhớ nước mà chết mất".
Bà chỉ có một nửa máu Trung Hoa, tên thực là Rosalie Tchou (Hàn
Tú Anh chỉ là bút hiệu) 7 mà yêu Trung Hoa hơn cả cha mẹ và bản
thân bà nữa. Thân phụ là Tchou Yen Tong 8 , sanh trong một vọng
tộc ở Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên), qua Bỉ học từ 1904 đến 1913, trở
về nước với một bằng cấp Kỹ sư hỏa xa và một người vợ Bỉ trong
giai cấp đại tư sản, Marguerite Denis 9 , rồi làm cho một công ti Hỏa
xa của Bỉ, xây cất nhiều đường xe lửa ở Hoa Bắc. Cha vẫn giữ cốt
cách Trung Hoa, điềm đạm, nghệ sĩ, thích làm thơ. Mẹ thì lãng mạn,
nóng nảy, bướng bỉnh, nhưng rất can đảm.
Han Suyin sanh năm 1917 ở Bắc Kinh, hồi nhỏ rất cực khổ. Nhà
nghèo vì cha không muốn hưởng gia tài của tổ tiên, mà lương một kĩ
sư "da vàng" chỉ bằng một phần năm lương một kĩ sư "da trắng". Lại
bị mẹ ghét bỏ vì không đẹp mà tính tình cứng cỏi. Mười lăm tuổi
phải thôi học, khai gian tuổi, xin một chân thư kí 10 để giúp nhà và có
tiền học thêm. Nhờ tư chất rất thông minh, thi đậu vô đại học Yen
tching 11 ở Bắc Kinh, và hai năm sau, năm 1935, được một người
Bỉ, Joseph Hers, bạn của cha – vì vậy trong truyện này, Han Suyin
gọi là Bác – xin cho một học bổng qua Bruxelles học Y Khoa. Ở
Bruxelles, bà học cũng rất tấn tới, luôn luôn đỗ đầu, thường diễn
thuyết, hô hào lòng ái quốc trong hội Ái hữu Trung Bỉ, yêu một luật
sư Bỉ trẻ tuổi, tên là Louis hai người định cưới nhau thì chiến tranh
Trung Nhật phát, và bà quyết tâm từ bỏ hết: thầy học, bạn bè, họ
hàng bên ngoại, vị hôn phu và cả tương lai nữa để về Trung Hoa
kháng Nhật.
Truyện bắt đầu từ lúc bà xuống tàu Jean Laborde nhổ neo ở
Marseille để đi Hương Cảng. Bà gặp một bạn cũ ở Bắc Kinh hồi
nhỏ, Tang Pao-Houang, sinh viên trường võ bị Sandhurst (Anh) cùng
về một chuyến tàu, cũng để kháng Nhật. Hai người cùng chung một
hoài bão, một lí tưởng:
"Cô về Trung Hoa?… một thiếu nữ mà ái quốc thì càng đáng khen
hơn nữa… Tôi sẽ về thẳng Vũ Hán để trình diện với thượng cấp…
Tôi sẵn sàng chết vì Tổ quốc… còn cái vinh dự nào bằng chết vì
chiến đấu với quân xâm lăng?".
Những lời đó "tung bay trong ngọn gió từ mặt biển sặc sỡ đưa lên",
làm cho Han Suyin tưng bừng, tưởng tượng cuộc đời sắp tới, gian
khổ nhưng anh dũng, đây đủ ý nghĩa và tràn trề hi vọng.
Họ yêu nhau, ghé Hương Cảng ít bữa rồi nôn nả đi thẳng về Vũ
Hán, chỉ sợ trễ quá, không kịp dự trận kháng Nhật đương xảy ra tại
đó. Họ cưới nhau ở Vũ Hán, dự định chồng sẽ cầm quân, vợ sẽ làm
y tá trong quân y viện.
Nhưng toàn là ảo tưởng cả. "Mùa hè" nóng bỏng của Han Suyin bắt
đầu từ đó: Tang Pao-Houang, tưởng là một thanh niên nhiệt tâm ái
quốc thì chỉ là hạng phong kiến, hám danh hám lợi, mặc dầu có tân
học mà tinh thần rất hủ bại, đối với vợ tàn nhẫn không tưởng tượng
nổi, cứ ít bữa lại đánh đập vợ, cả những khi ở giữa công viên, ở
trong tiệm ăn, Han Suyin "vì muốn hi sinh cho Trung Hoa" mà phải
cắn răng chịu đựng. Trong những giờ bị hành hạ đó:
"… tôi tập vừa hít thật sâu, vừa đếm: "Trung Hoa có sáu trăm triệu
dân: 1, 2, 3, 4, 5… Anh ấy sắp chán… Anh ấy sắp chán… anh ấy
sắp nghỉ tay". Dù cảnh đó kéo dài… có khi tới gần 10 giờ, tôi không
được ăn uống gì cả, mà cũng vẫn phải ngồi co ro trên sàn, đợi
những cú giáng xuống, sợ nhất là bị đòn mà hóa đui hoặc mặt mày
thành sẹo…".
Mà hầu hết các bạn của Pao, các sĩ quan Hoàng Phố đều như vậy,
có kẻ còn nhốt vợ vào cũi, bêu ở ngoài đường cho tới chết đói mà
không ai dám can ngăn kể cả cha mẹ người đàn bà xấu số! Thực tế
đã vượt hẳn sức tưởng tượng. Han Suyin xin li dị, Pao nhất định
không cho, xin đi học thêm cũng mấy lần bị từ chối. Pao chỉ muốn
vợ mình làm nô lệ trong nhà để thoả mãn nhục dục và những cơn
điên của mình thôi, hoặc để giúp mình tiến thân. Và Han Suyin chịu
cuộc đời nô lệ đó tám năm, theo Pao từ Vũ Hán đến Quảng Tây, vô
Trùng Khánh, sau cùng qua Londres khi Pao được phái làm tùy viên
quân sự ở Anh.
Năm 1945, Bà oán Pao tới nỗi đâm ra ghê tởm lây hết thảy bọn đàn
ông, sau đó trong bốn năm, bà bị bệnh thần kinh, tưởng hóa điên.
Sau bà quyết li thân, để Pao về Trung Hoa một mình 12 , bà ở lại
Londres học tiếp y khoa, để có nghề tự nuôi thân và nuôi một đứa
con gái nuôi năm tuổi.
Vậy hoài bão là trở về Trung Hoa để giúp quê hương trong cuộc
chiến tranh chống ngoại xâm, mà thực tế chỉ là để sống một cuộc
đời vô ích và tủi nhục. Nhưng không bao giờ bà tiếc mấy năm đó cả,
vì nhờ theo Pao, bà mới thấy được tận mắt chế độ thối nát kinh
khủng của Tưởng Giới Thạch (Pao là một sĩ quan cấp tá được
Tưởng hơi tin cậy), thấy được tình cảnh điêu đứng của bần dân
Trung Hoa sống như loài vật trên một non sông tuyệt đẹp. Tóm lại là
được mục kích, được sống "một mùa hè nóng bỏng" của dân tộc,
khiến bà càng yêu quê hương và đồng bào của bà hơn.
Phần tả đời sống của phu phen, nông dân Trung Hoa, dưới sự đàn
áp, bóc lột của bè phái Tưởng Giới Thạch, xen lẫn với phần tả đời
sống riêng tư của bà một cách điêu hòa, khéo léo, không phần nào
lấn phần nào, mà giọng văn luôn luôn linh động, có chỗ mỉa mai, dí
dỏm, nhiều chỗ phẫn uất, hình ảnh mới mẽ, bút pháp rất mạnh.
Chính nhờ đọc cuốn này – chứ không phải những cuốn sử hiện đại
của Trung Hoa – tôi mới hiểu tại sao năm 1945 danh của Tưởng
Giới Thạch lên tới tột đỉnh, mà chỉ bốn năm sau ông ta đã phải dắt
vợ con và một bọn thủ hạ chạy trốn qua Đài Loan, không quên ôm
theo 450 triệu Mĩ Kim, vàng, và Mĩ bỏ non sáu tỉ 13 vào cuộc nội
chiến Trung Hoa mà không cứu văn nổi, lại chuốc thêm một nỗi hận
chua chát.
Nguyên nhân thất bại nằm ngay trong lòng Quốc Dân đảng từ trước
1938. Đủ hết các cảnh độc tài và thối nát trong một tấn tuồng vừa bi
vừa hài: chính quyền Quốc Dân đảng chỉ lo củng cố địa vị và làm
giàu, không nghĩ tới dân, không kháng Nhật, rút lui hoài về phía Tây,
nhường hết những miền phì nhiêu cho Nhật, để sống trong những
hầm bọc sắt tại Trùng Khánh bảo toàn lực lượng, chờ thế chiến
chấm dứt mà "bất chiến tự nhiên thành", rồi lúc đó sẽ xua quân diệt
Cộng, họ đề cao nhân vị mà lại lùng bắt nông dân ở ngoài đồng, phu
phen ở ngoài phố, lấy dây thừng hay dây chì cột lại thành từng "xâu"
lùa vào các trại quân, rồi đánh đập, bỏ đói, họ mua quan bán chức,
bán chợ đen dược phẩm, y phục, lương thực của lính, bán lậu khí
giới cho Nhật, đi công du ngoại quốc thì kẻ nào cũng chở từng xe
cam nhông xa xỉ phẩm về, họ bắt dân nhổ lúa để trồng thuốc phiện,
họ đặt ra hàng trăm thứ thuế: thuế tóc, thuế cửa sổ, thuế số nhà,
thuế thương người, thuế hạnh phúc, thuế làm biếng (nghĩa là không
trồng thuốc phiện…) 14 , họ lạm phát giấy bạc tới cái mức dân phải
khiêng cả thúng giấy bạc đi mua một vé xe buýt 15 , gái điếm nhung
nhúc, mật vụ cũng nhung nhúc. Đức có bọn Sơ mi nâu thì họ có bọn
Sơ mi lam, hạng công chức hay quân nhân cao cấp Quốc Dân đảng
thì bốn năm vợ, ngày nào cũng đánh mạt chược từ khi mở mắt cho
tới khi đi ngủ, một kẻ kiêm bảy tám chức vụ, lãnh bảy đầu lương, và
lâu lâu mới tới nhiệm sở một hai giờ, còn hạng công chức thấp thì
rách rưới, đói khát, chỉ được cấp gạo vừa đủ cho vợ con khỏi chết
đói, cho nên công việc bê trễ, và nạn hối lộ lan tràn từ trên xuống
dưới, thành một "quốc sách" bắt dân phải gián tiếp trả thêm lương
cho công chức.
Còn hạng dân đen thì:
"… ngay dưới chân tôi, dưới 478 bục đá kia 16 là bờ sông chất lộn
xộn những thúng, những bành hàng hóa mà phu phen tranh nhau
đưa lên vai để khiêng rồi leo, leo, leo những bực thang, thành một
hàng bất tuyệt, leo hoài không ngừng, và người ta thấy cổ họ, chân
họ nổi gân lên, nghe thấy hơi thở hổn hển của họ phát từ những bộ
ngực lép xẹp, thót lại… Tôi thấy những phu khiêng kiệu chiến đấu
từng bực, từng bực một, cái cán bằng tre đâm sâu trong thịt họ mỗi
khi kiệu lắc lư, trong kiệu, các công chức ưỡn người ra khoan
khoái…".
Ngày ngày Han Suyin nhìn thấy tình cảnh những người lao động đó
quần rách để hở đít, đầy rận, kẻ nào cũng xanh xao, ốm tong teo vì
nghiện thuốc xái – họ không đủ ăn, phải dùng thứ đó để lấy sức mà
khiêng vác, cứ hai giờ lại nghỉ để hút – bà thương họ vô hạn, và:
"Thật là vô lí, không hiểu tại sao tôi lại muốn ở vào địa vị họ, tôi
muốn đôi dép rơm mà họ đi, uống thứ trà đậm, chát mà họ uống ở
các quán cóc… rồi tôi cũng leo những bực thang như họ, nhưng hỡi
ôi, không vác gì trên vai cả!".
Bà uất hận, tin chắc rằng tình trạng đó không thể kéo dài hoài được,
một ngày kia cách mạng phải vì bọn họ mà dấy lên, như một cơn
nước dông, cuốn hết các nhơ nhớp của chính thể Quốc Dân đảng,
và năm 1945, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, bà mừng rỡ đoán
trước rằng cuộc cách mạng sắp phát.
Đọc phần đó, chúng ta không thể không liên tưởng đến tình cảnh
nước ta trong mười mấy năm qua, tôi cho rằng có những luật bất di
bất dịch trong lịch sử: những dân tộc cùng một văn hoá, đặt trong
một hoàn cảnh như nhau thì phản ứng cũng như nhau và rốt cuộc
cùng đi tới một điểm lịch sử như nhau. Điều đó tôi đã dẫn chứng
trong bộ Văn học Trung Quốc hiện đại 17 , đọc tác phẩm của Han
Suyin, tôi càng thấy nó đúng. Thật lạ lùng! Việt Nam và Trung Hoa
sát nách nhau, sự thất bại của Tưởng Giới Thạch như tấm gương
tầy liếp mà Ngô Đình Diệm và các người sau không biết soi, ngay
như Mĩ cũng vậy, đã thất bại ở Trung Hoa mà càng không biết rút ra
một bài học, lại sa vào vết xe cũ. Cơ hồ như con người không biết
dùng lí trí, hành động toàn theo một bản năng do hoàn cảnh, nếp
sống quyết định. Ít ai học được bài học của lịch sử!
Bà kịch liệt mạt sát chế độ Quốc Dân đảng làm cho ta có cảm tưởng
rằng bà thiên Cộng. Sự thật không phải vậy: bà chỉ ghét những kẻ
tàn bạo và chỉ yêu dân tộc Trung Hoa thôi, hễ phải thì bà khen, trái
thì bà chê, cho nên Quốc Dân đảng đã ghét bà mà Cộng Sản cũng
không ưa: Năm 1948 đã "tố" bà rồi, năm 1966-1967, một nhóm ở
Bắc Kinh lại tố thêm một lần nữa trong cuộc cách mạng Văn hóa.
Trả lời cuộc phỏng vấn của Marianne Monestier (năm 1967 hay
1968), bà nói:
"…Tôi chưa bao giờ là cộng sản, mà cũng không bao giờ có thể
thành cộng sản được vì đã tới cái tuổi không còn tin một cách khá
mãnh liệt bất kì một cái gì nữa". Mục đích của bà là ghi lại các biến
cố "một cách vô tư và trung thực, không khôi phục dĩ vãng, cũng
không chiến đấu cho hiện tại, để cho các thế hệ sau biết hết những
gì đã xảy ra" vì "thế giới cần có những nghệ sĩ chép lại các biến cố
một cách thiện cảm mà không cuồng nhiệt, hơn là cần các nhà
truyền giáo độc ác hô hào những cuộc chiến đấu hư ảo chống lại sự
thật".
Bà khởi công từ năm 1964. Trước năm đó bà đã xuất bản được sáu
bảy cuốn, cuốn đầu là Destination Tchoungking viết từ hồi sống ở
Trùng Khánh, chung với một nữ bác sĩ Mĩ (bà viết rồi bạn bà sửa lại)
kể cuộc đời của vợ chồng bà từ Vũ Hán theo Tưởng Giới Thạch lại
Trùng Khánh. Cuốn đó xuất bản ở Mĩ, rồi ở Anh. Sau đó bà ngưng
viết khoảng mười năm. Năm 1949 đậu Y Khoa bác sĩ rồi (chồng bà
đã tử trận ở Mãn Châu) nhiều nơi ở Londres nhờ bà cộng tác, bạn
bè cũng khuyên bà ở lại Anh làm việc, nhưng lần này cũng như
mười năm trước, bà quyết định trở về Á Châu, dù không sống ở Hoa
lục thì ít nhất cũng sống ở sát Hoa lục để coi xem tình hình ra sao,
dân chúng Trung Hoa dưới chế độ cộng sản sống ra sao? "Tôi
không thể sống yên ổn ở Anh được… tôi không từ bỏ Trung Hoa, tôi
không quay lưng lại với nó".
Và bà đáp xuống Hương Cảng, mở phòng mạch trị bệnh cho người
Á Châu, sau lại Singapore cũng để vừa làm nghề y sĩ, vừa xét tình
cảm người Trung Hoa, người Mã Lai…
Trong thời gian từ năm 1950 đến 1964, bà viết thêm những cuốn:
Multiple Splendeur về Trung Hoa.
Et de la pluie pour ma soif về cuộc kháng Anh ở Mã Lai.
La montagne est jeune 18
v.v…
Cuốn nào cũng đã được dịch ra tiếng Pháp (nhà Stock ở Paris, và
nhà Rencontre ở Lausanne), nhiều cuốn đã được in trong loại sách
bỏ túi.
Những hình ảnh những cùng dân Trung Hoa vẫn ám ảnh bà, bà bất
mãn về các cuốn đã viết về Trung Hoa, nhất là cuốn Destination
Tchoungking viết hồi sống dưới chế độ kiểm duyệt gắt gao của
Tưởng Giới Thạch, trái hẳn sự thực, cho nên năm 1964 bà ngưng
hoạt động y sĩ, soạn một bộ kể lại đời sống của gia tộc bà và lịch sử
Trung Hoa từ cuối thế kỉ trước cho tới những ngày gần đây nhất, để
giải tỏa nỗi lòng. Điều đó làm cho chúng ta nhớ trường hợp
Somerset Maugham bỏ viết kịch để viết truyện Of human bondage 19
.
Bộ đó gồm bốn cuốn, tới nay đã xuất bản được ba:
L'arbre blessé – 1965 (Cây bị thương tích) chép giai đoạn từ 18851928.
Une fleure mortelle – 1967 (Một bông hoa tai hại) chép từ 19281938.
Un été sans oiseaux – 1968 (Một mùa hè vắng bóng chim) chép từ
1938-1949.
Cả ba cuốn đó 20 đã được dịch ra tiếng Pháp từ khi bản tiếng Anh
mới xuất hiện và có thể còn được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nữa.
Cuốn thứ tư, nhan đề là La moisson du Phénix (Mùa gặt của chim
Phượng) 21 , chưa xuất bản, chép tiếp từ 1949 trở đi, và sẽ cho ta
được nhiều tài liệu quí về các sự thay đổi triệt để ở Hoa lục, trong
đời sống của mọi giai cấp, vì trong khoảng mười mấy năm nay, năm
nào bà cũng về Hoa lục "thăm bà con bè bạn, tìm lại những sự kiện,
kỉ niệm cũ…", thu thập ghi chép những điều mắt thấy tai nghe.
Toàn bộ sẽ dầy khoảng 1.600 trang khổ lớn, xấp xỉ bộ Chiến tranh
và hòa bình của Léon Tolstoi, có giá trị hơn các truyện Pearl Buck
viết về Trung Hoa, Pearl Buck chỉ giúp người Phương Tây hiểu một
cách hời hợt đời sống cùng tâm hồn người Trung Hoa, những điều
mà chúng ta, cùng một văn hóa với Trung Hoa, đều biết cả rồi. Han
Suyin sâu sắc hơn, cho ta thấy thận phận bi đát, tủi nhục của phụ
nữ (chính là thân phận của bà) của bần dân Trung Hoa, và hiểu
được lịch sử hiện đại của Trung Hoa, một bi kịch lớn nhất của thời
đại, làm sụp đổ một nền văn minh bốn ngàn năm và đương làm rung
chuyển cả thế giới, hậu quả chưa biết sẽ tới mức nào. Chính bi kịch
chung của một dân tộc đó đã gây ra một bi kịch riêng cho gia đình
họ Tchou trong hai thế hệ, thế hệ của thân phụ bà và của bà.
Trong ba cuốn đã ra, chúng tôi lựa cuốn sau cùng "Một mùa hè vắng
bóng chim" để giới thiệu với độc giả vì cuốn đó tả một giai đoạn bi
đát nhất, có ảnh hưởng lớn nhất tới tương lai của Đông Á, mà người
Việt chúng ta lại được biết ít nhất.
Trong mười mấy năm nay, chúng tôi đã nhờ các bạn thân kiếm giùm
ở Hương Cảng, ở Đài Bắc một cuốn sử của người Trung Hoa viết
về giai đoạn đó, mà không được. Chúng tôi đành phải tìm các cuốn
sách người Anh, người Pháp viết. Cũng được vài cuốn có giá trị
(khảo cứu công phu, có tinh thần khách quan) như cuốn Les
origines de la Révolution Chinoise (1915-1919) của Lucien Bianco
(Gallimard 1967) nhưng những cuốn này là sử, tài liệu tuy dồi dào
mà không gợi được cái không khí của thời cách mạng, cùng cái nỗi
lòng của dân chúng. Tác phẩm của Han Suyin bổ túc được khuyết
điểm đó, và chính Lucien Bianco cũng nhiệt liệt giới thiệu cuốn
L'abre blessé 22 là cuốn đáng đọc nhất về lịch sử Trung Hoa hiện đại
trong loại sách phổ thông.
Khi dịch, chúng tôi đã cắt bớt chín trang đầu tác giả tự giới thiệu, vì
những ý chính trong đoạn đó đã được đưa vào Tựa này rồi, nhiều
đoạn khác chép những kỉ niệm riêng của tác giả về một số người
thân hoặc bạn bè (có giá trị về tình cảm đối với tác giả mà ít quan
trọng đối với chúng ta). Tôi cũng cắt bớt hoặc tóm tắt lại cho khỏi
mất sự liên tục trong truyện.
Han Suyin mượn nhiều danh từ khoa học, nhất là y khoa để tạo
những hình ảnh đột ngột, dùng một bút pháp tự nhiên, có nhiều góc
cạnh không đẽo gọt như Pearl Buck, chính vì vậy mà lời văn rất
mạnh, nhưng cũng khó dịch, đôi khi chúng tôi phải phóng bút, cốt
diễn lại được một phần cảm xúc của tác giả thôi.
Chúng tôi đã tra cứu trong hai bộ:
Asia Who's Who (in lần thứ ba) của cơ quan Pan Asia Newspaper
Alliance – Hương Cảng.
China Year Book 1967-1968 của nhà China Publishing Co – Đài Bắc
để tìm ra các danh nhân, địa danh Trung Hoa phiên âm ra tiếng
Pháp trong tác phẩm.
Dĩ nhiên có nhiều tên không thể tra được, như những nhân danh
Tchou Yentong, Tang Pao Houang, thân phụ và chồng của Han
Suyin, những địa danh Nanyu 23 , Chin Kan shan 24 … mặc dầu rất
thường nhắc tới trong truyện mà không có hai cuốn kể trên, chúng
tôi đành phải để nguyên lối phiên âm trong bản tiếng Pháp, chứ
không dám làm cái việc đoán mò.
Những tên tra được thì tôi dùng ngay tên Việt như Bạch Sùng Hi, Hà
Ứng Khâm, Diên An, Quế Lâm… rồi cuối sách mới lập một bảng
chép thêm những tên đó bằng tiếng Anh 25 : Pai-Tchong-hsi, Ho
Ying K'in, Yenan, Koueilin…
Sài Gòn, ngày 01-08-1971 26
Xem lại tháng 12-1980
N.H.L
PHẦN THỨ NHẤT (1938-1942)
1
Mọi sự bắt đầu xảy ra trên chiếc tàu Jean-Laborde. Bảy người Trung
Hoa đi hạng nhất là những Sinh viên lục quân ở các trường Võ bị
Đức, Anh hồi hương, trong số đó có Tang Pao Houang 27 . Anh nhận
ra tôi trước tiên, ngay từ giờ đầu, trong khi chiếc tàu ra khơi, lục địa
Châu Âu chỉ còn là một đám bông xám, và anh Louis 28 đứng trơ trơ
trên bờ, như một vết vô tri giác, vô danh. Tang Pao Houang cũng
nán lại trên boong, vẫy tay từ biệt các bạn thân, và trong số tất cả
các sinh viên Trung Hoa, chỉ duy nhất có anh là tán thành quyết định
của tôi.
"Cô về Trung Hoa… một thiếu nữ mà như vậy thì càng đáng khen
hơn nữa". Mấy hôm sau tôi không gặp lại anh, nhưng mấy người
khác thì cứ lảng vảng chung quanh tôi, xuống boong hạng nhì, và
hỏi tôi tại sao lại về nước. Tôi kể cho họ nghe chuyện của tôi và mặc
dầu ngây thơ chứ tôi cũng thấy rằng họ không tin tôi, điều đó làm
cho lòng tự ái của tôi bị thương tổn. Sau này tôi mới biết rằng họ chỉ
muốn làm quen với tôi cho những ngày vượt biển đỡ buồn thôi (…)".
Hôm đó Tang Pao Houang, bác sĩ You và tôi đi bách bộ trên boong,
cười cười nói nói, bàn tính về những hi vọng trong một tương lai
chưa biết ra sao. Pao cũng như bác sĩ You, tràn trề thiện ý, hứa giúp
đỡ tôi mọi việc, tôi cảm thấy Pao suy nghĩ nghiêm trang hơn bác sĩ
You và tôi tự nhủ thầm rằng đời sống, hoặc Trời Phật hoặc thần hộ
mạng của tôi đã nhân từ quá muốn thưởng thiện ý của tôi nên cho
tôi gặp được người bạn chân thành mà hoạt động như vậy, không
phải chỉ biết gợi ý mà thôi đâu, còn có vẻ nhiệt tâm ái quốc, hoàn
toàn Trung Hoa nữa. Ngay trong mấy ngày đầu đó, Pao đã nói đến
bổn phận tỏ ra nóng lòng muốn ra mặt trận rồi: "Tôi sẽ về thẳng Vũ
Hán để trình diện với Thượng cấp… Tôi sẵn sàng chết vì Tổ quốc…
kẻ nào không sẵn sàng hi sinh như vậy thì không phải là thực tâm ái
quốc, cũng không phải là một hão hán nữa… còn cái vinh dự nào
bằng chết vì chiến đấu với quân xâm lăng…". Bây giờ đây, tôi còn
như nghe thấy những lời đó tung bay trong ngọn gió từ mặt biển sặc
sỡ đưa lên, những lời đã làm cho lòng tôi bừng bừng. Lúc đó tôi
mong rằng, Pao đừng vội chết quá sớm, ít nhất là đừng chết trước
khi tôi cũng đã làm được cái gì đó cho Tổ quốc, chứng tỏ rằng tôi
không phải là con người vô dụng, mà cũng là người Trung Hoa đây,
cũng sẵn sàng chết cho Trung Hoa… Mặc dầu thỉnh thoảng trong
lòng tôi lại nhói lên, xót xa nhớ lại rằng đối với nhiều người Trung
Hoa, mình là một thiếu nữ lai Âu, không luôn luôn được họ chấp
nhận đâu, nhưng Pao hình như không nghĩ vậy: "Cô có máu Trung
Hoa mà, máu là do cha truyền cho, mẹ chỉ tiếp nhận thôi". Những ý
kiến lạc hậu phản khoa học đó làm cho tôi mỉm cười, nhưng tôi cảm
ơn anh đã không khinh tôi vì tôi lai Âu…
Tâm hồn nhẹ nhàng như trong giấc mộng, chúng tôi vùn vụt vượt Ấn
Độ dương, nói chuyện về Trung Hoa và về Pao, trong khi những bầy
cá heo quậy lên ở gần lườn tàu. Và Pao đối với tôi là hiện thân của
Trung Hoa.
Tới Sài Gòn, Pao muốn rằng chúng tôi hứa hôn với nhau, tôi từ chối,
lấy lẽ rằng tôi đã "gần như" là vợ một thanh niên Bỉ, sau đổi ý để hồi
hương. Có lẽ Pao không hiểu tôi muốn ám chỉ rằng tôi không còn là
con gái tân nữa. Vì không hiểu (lúc đó tôi có ngờ đâu là anh không
thể hiểu được), nên anh chỉ bình tĩnh gật đầu: "Tôi mừng về điều đó
lắm… phụ nữ Trung Hoa không nên lấy người ngoại quốc…".
Tôi đi kiếm bác sĩ You để nhờ ông khuyên bảo. Ông đáp: "Tuyệt vời.
– Phải bỏ dĩ văng lại phía sau đi, như tôi này, và chỉ nhìn về phía
trước thôi. Tang Pao Houang là một thanh niên rất đáng mến, gia
đình nền nếp lắm, rất nền nếp!".
28 tháng chín, – Giữa biển trên chiếc tàu Jean-Laborde.
Thưa bác 29 Joseph,
Tàu đã rời bến Sài Gòn hôm qua và hiện đương thẳng tiến về
Hương Cảng, cháu biết rằng bác giận cháu lắm, vì đã đổi lộ trình.
Bác đã khuyên cháu lên Sài Gòn ra Hà Nội rồi qua Côn Minh vì bác
đã viết thư cho đức Cha ở dưỡng đường Công giáo nơi đó, nhờ săn
sóc cháu giùm bác. Có lẽ cháu sẽ ở lại Hương Cảng hai ngày rồi
cháu sẽ đi xe lửa lên Vũ Hán. Cháu biết rằng bác muốn cháu đi Côn
Minh vì ở đó cháu được yên ổn hơn, nhưng cháu không muốn lạc
vào trong đám người tị nạn ở đó. Các báo Trung Hoa ở Sài Gòn
đăng tin rằng đám người tị nạn cuồn cuộn đổ xuống Côn Minh đông
nghẹt, cháu muốn ở càng gần mặt trận càng tốt, nghĩa là ở Vũ Hán.
Hiện đương có một trận lớn ở đó… Và cháu muốn lại đó…
Hôm nay đọc lại bức thư đó tôi ngạc nhiên nhớ lại rằng tấm bưu
thiếp đầu tiên mà cuối cùng tôi gởi cho vị hôn phu của tôi, anh Louis
ở Bỉ, là tấm gởi từ Port-Said 30 . Sau đó tôi không viết thêm một chữ
nào cho anh hết, cơ hồ như qua khỏi kinh Suez rồi thì không thể nào
thư từ với anh được nữa. Còn ông ngoại tôi 31 thì tôi có gởi được
vài bức ngắn và vài tấm bưu thiếp cho biết tôi mạnh khoẻ… Tôi
không thể ngồi vào bàn viết những bức thư dài nữa được, vì tất cả
những gì tượng trưng cho châu Âu, đối với tôi đã hóa ra mơ hồ, hư
ảo, mà tôi thì không thể giải được nỗi lòng của tôi cùng những việc
xảy ra chung quanh tôi, vì chung quanh tôi toàn là Châu Á, mà tôi
không thể cao hứng tả Châu Á đó như một du khách được, vì nó
mật thiết với tôi quá. Anh Louis đối với tôi chỉ còn như một cái bóng,
giá có gặp ảnh, không chắc tôi đã nhận ra được…
Công của ông ngoại tôi đối với tôi lớn lắm, tôi biết vậy, nhưng khi tôi
báo tin cho người hay tôi đã có chồng và sẽ ở lại Trung Hoa, thì
người trả lời rằng sẽ từ bỏ tôi từ đó. Rồi chiến tranh xảy ra ở Châu
Âu, và ông tôi mất năm 1940…
2
Tới Hương Cảng, anh Pao và tôi ở lại một khách sạn và mọi sự
được dễ dàng vì anh có nhiều bạn, tới đâu cũng gặp bạn. Những
liên hệ giai cấp, những đặc quyền gia tộc lại thêm tình bằng hữu ở
trong các trường võ bị đã tạo thành một cơ cấu thống trị chặt chẽ
mà anh là một thành phần. Từ thời nào tới giờ, sự đoàn kết về giai
cấp đó, cũng giúp họ dễ nắm được quyền hành. Mạnh mẽ, uyển
chuyển, tình vi ghê gớm, sự kết hợp của giới thượng lưu thống trị,
vượt qua được cả những cuộc cách mạng, và bọn thượng lưu đó có
thể ẩn nấp, trốn tránh mà chờ thời.
Tang Pao Houang là sản phẩm của giai cấp thống trị điền chủ –
quân phiệt – phong kiến. Giai cấp phong kiến đó dùng chính sách
quan lại mà cầm quyền ở Trung Hoa cho tới cách mạng 1949.
Nay từ khi đặt chân lên Hương Cảng, Pao đã được hồi phục trong
giai cấp của anh rồi, được giúp đỡ, che chở, hầu hạ, kính trọng. Bạn
bè anh lại kiếm chúng tôi, có người mời ăn, có người sẵn sàng cho
anh mượn tiền, dắt chúng tôi đi mua sắm. Tôi, trước kia chẳng ở
trong một đoàn thể nào cả, sống cô độc, không giao du với ai, xa
cách mọi người, bây giờ không còn cô đơn nữa, không phải thủ thế
nữa. Không có một cảm giác nào thích thú bằng được gia nhập một
đoàn thể, được chấp nhận. Mà tôi được vậy là nhờ Pao. Được yên
ổn, khỏi thắc mắc nữa, lương tâm tôi trơn tru không còn luôn luôn lo
lắng, khó tính như trước nữa. Vì tôi không biết chút gì về các cơ cấu
giai cấp, nên tôi tưởng rằng toàn thể người Trung Hoa cũng vui vẻ
chấp nhận tôi như nhóm của anh Pao lúc đó. Bây giờ tôi có thể hiểu
được những hồi đam mê quyền rũ hạng người rán vượt lên khỏi
thân phận thấp hèn – thực sự hay tưởng tượng của mình – để "tiến
lên", sau cùng "thành công". Họ vui sướng làm sao khi không nén
được những khoái cảm đó. Họ la lên: "Mình sẽ được hôn những tiểu
thư, những bà lớn", "Mình đã thắng". Thời trước ở Trung Hoa có biết
bao nhiêu thanh niên giảo hoạt sinh trong gia đình nghèo, được
tuyển dụng để tăng cường quyền uy của giới quan lại cầm quyền!
Và họ thành công tức là họ hoàn toàn phản bội vì kẻ bạo phát – còn
hơn ai hết – dùng những đức và những tật của giới họ đã len lỏi vô
được để củng cố thêm quyến thế cho giới đó.
Chính tôi cũng vậy, là nạn nhân của một âm mưu ngầm mà hồi đó
tôi không hay. Pao là người Trung Hoa, tôi là vị hôn thê của anh, nên
được Trung Hoa thừa nhận (hoặc tôi tưởng tượng như vậy), và tôi
đã bỏ Châu Âu vì nước Trung Hoa chứ không phải vì một người
nào. Đó là ảo tưởng lớn của tôi.
Chúng tô...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





