CHÀO XUÂN MỚI
Lolita Vladimir Nabokov.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:54' 05-07-2025
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:54' 05-07-2025
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Lời nói đầu
PHẦN MỘT
1
10
20
30
PHẦN HAI
1
10
20
30
Về một cuốn sách nhan đề Lolita
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tác giả
Vladimir Nabokov (1899-1977), tiểu thuyết gia, nhà phê
bình văn học, dịch giả, nhà nghiên cứu về thể loại văn học của
nước Mỹ, sinh ra tại nước Nga. Nabokov học thức uyên bác,
tài hoa đa diện, cuộc đời sáng tác cực kỳ phong phú đa dạng,
bao gồm: Thơ, kịch, tiểu thuyết, truyện ký, phiên dịch, cờ
tướng và các luận văn về côn trùng học, song ông nổi tiếng thế
giới vìtiểu thuyết, như: “Lolita”, “Puning”, “Ngọn lửa đìu hiu”
(Pale Fire), “Ada”, “Vật thể trong suốt”, v.v… đều là những
danh tác được mọi người biết đến. Ngoài tiểu thuyết và thơ,
ông còn công bố bình luận về Gogol, phiên dịch và viết
chuyên luận về bộ sách 4 quyển của Pushkin “Napalese
Onegin”. Thập niên 70 của thế kỷ 20, danh tiếng của ông đạt
tới tột đỉnh, được tôn vinh là “vua tiểu thuyết đương đại”.
Lời nói đầu
“Lolita” hay “Lời xưng tội của một gỡ đàn ông da trắng góa
vợ”, ấy là hai cái đầu đề của tập bản thảo kì lạ được gửi đến
người viết những dòng này làm mào đầu cho nó. “Humbert
[1]
Humbert” , tác giả của nó, đã chết trong tù vì chứng nghẽn
động mạch vành vào ngày 16 tháng Mười một năm 1952, ít
hôm trước khi bắt đầu phiên tòa xử ông ta. Khi yêu cầu tôi
biên tập những trang này, luật sư của ông ta, Ngài Clarence
Choate Clark, nay là thành viên của luật sư đoàn Washington
D.C, cũng là bạn và bà con của tôi, dựa trên một điều khoản
trong di chúc của thân chủ của ông trao toàn quyền cho người
anh họ lỗi lạc của tôi tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết cho
việc in ấn cuốn “Lolita”. Quyết định của ông Clark có thể là
do người biên tập mà ông chọn vừa được tặng giải thưởng
Poling về một tác phẩm khiêm tốn (“Do the Senses Make
Sense?”) trong đó có bàn đến một số trạng thái bệnh hoạn và
loạn dâm. Nhiệm vụ của tôi hóa ra đơn giản hơn là cả hai
chúng tôi đã dự liệu. Ngoại trừ việc sửa những lỗi cú pháp quá
hiển nhiên và thận trọng lược bỏ một số chi tiết mà bất chấp
những cố gắng của “H. H.” vẫn dai dẳng lưu tồn trong văn bản
của ông ta như những tấm biển báo và những tấm bia mộ (chỉ
rõ những nơi hoặc những người mà lẽ ra nên giấu đi cho nhã,
hoặc nên thương tình bỏ qua), tập hồi ức này được giới thiệu
nguyên vẹn. Biệt danh kì dị của tác giả là do chính ông ta đặt;
và dĩ nhiên, chiếc mặt nạ này - qua đó, dường như rực lên hai
con mắt thôi miên – vẫn được để nguyên không cắt bỏ, theo
đúng ý nguyện của người mang nó. Trong khi “Haze” chỉ
[2]
vần với họ thật của nữ nhân vật chính thôi, thì tên cô lại
quyện chặt vào thớ cảm xúc sâu kín của cuốn sách đến độ
không cho phép ơi thay đổi nó; vả chăng cũng chẳng có lí do
thực tiễn nào (như độc giả sẽ tự thấy) khiến ta thấy cần phải
làm thế. Những ai tò mò muốn tìm hiểu kĩ có thể truy cứu các
tư liệu liên quan đến tội hình sự của “H. H.” trên các báo hằng
ngày trong tháng Chín năm 1952; nguyên nhân và mục đích
của tội đó ắt sẽ tiếp tục là một bí mật hoàn toàn nếu số phận
không mang tập hồi ức này đến đặt dưới ngọn đèn biên tập của
tôi. Để phục vụ các độc giả cựu trào muốn theo dõi số phận
của những con người “có thực” bên ngoài câu chuyện “thật”,
xin cung cấp một số chi tiết do ông “Windmuller” ở
“Ramsdale” chuyển tới, ông này muốn giữ kín nhân thân để
“cái bóng dài lê thê của câu chuyện thảm hại và nhớp nhúa
này” khỏi chạm tới cái cộng đồng mà ông hãnh diện được là
một thành viên. Con gái ông, “Louise”, hiện là sinh viên đại
học năm thứ hai. “Mona Dahl” cũng là sinh viên ở Paris.
“Rita” vừa mới kết hôn với một chủ khách sạn ở FIorida. Bà
[3]
“Richard F. Schiller”
chết cả hai mẹ con trên bàn đẻ vào
[4]
đúng hôm Giáng sinh năm 1952 ở Gray Star , một khu định
cư ở miền Tây Bắc cực kì hẻo lánh, cái thai chết là một bé gái.
“Vivian Darkbloom” vừa viết xong một cuốn tiểu sử nhan đề
[5]
“My Cue” sẽ xuất bản nay mai, và những nhà phê bình đã
đọc bản thảo đều cho đó là cuốn sách hay nhất của bà ấy.
Những người trông coi các nghĩa trang có liên quan tới câu
chuyện cho biết không thấy bóng ma nào hiện về. Xét đơn
thuần như là một tiểu thuyết, “Lolita” đề cập đến những tình
huống và những cảm xúc mà nếu thể hiện nhờ nhạt bàng các
thủ pháp né tránh vô vị thì trước sau chỉ khiến người đọc thấy
mơ hồ đến phát cáu. Đúng là người ta không tìm thấy một từ
tục tĩu nào trong toàn bộ tác phẩm; quả thật, kẻ phàm tục kiên
cường được những ước lệ hiện đại luyện cho quen thói chấp
nhận không chút đắn đo hàng loạt chữ tục trắng trợn tràn ngập
trong những cuốn tiểu thuyết tầm thường, ắt sẽ phẫn nộ khi
không thấy chúng ở đây. Nhưng nếu để chiều theo cái kẻ làm
ra vẻ tiết hạnh một cách ngược đời ấy, một biên tập viên tìm
cách pha loãng hoặc tước bỏ những cảnh mà một loại đầu óc
nào đó có thể gọi là “kích dục” (về phương diện này, xin xem
phán quyết trọng đại do Ngài John Woolsey tuyên đọc ngày 6
tháng Chạp năm 1933 đối với một cuốn sách khác còn thẳng
[6]
thừng hơn nhiều ), thì tất phải từ bỏ hoàn toàn việc xuất bản
“Lolita” vì chính những cảnh mà người ta có thể kết tội quàng
xiên rằng tự thân chúng chứa một hiện sinh nhục cảm, lại đích
thị là những cảnh có tác dụng triệt để nhất trong diễn biến của
một câu chuyện bi thảm luôn kiên định hướng tới tôn vinh đạo
đức. Kẻ khuyển nho có thể nói rằng loại văn chương “con
heo” thương mại cũng lập luận tương tự, nhà học giả có thể
phản bác bằng cách khẳng định rằng lời thú tội tâm huyết của
[7]
“H. H.” chỉ là cơn bão trong ống nghiệm; ràng ít nhất 12%
đàn ông trưởng thành ở Mĩ - một ước tính “dè dặt” theo tiến sĩ
[8]
Blanche Schwarzmann (thông báo miệng) - năm nào cũng
thưởng thức theo cách này hay cách khác các trải nghiệm đặc
biệt mà “H. H.” mô tả một cách tuyệt vọng đến thế; rằng nếu
vào cái mùa hè định mệnh năm 1947 ấy, người viết hồi ức điên
khùng của chúng ta tìm đến một bác sĩ bệnh lí - tâm thần giỏi,
thì chắc đã chẳng xảy ra tai họa; nhưng nếu vậy thì cũng chẳng
có cuốn sách này. Kẻ viết những dòng bình luận này xin mạn
phép được nhắc lại một điều hắn thường nhấn mạnh trong các
cuốn sách và bài giảng của mình, cụ thể rằng “gây sốc” nhiều
khi chỉ là một từ đồng nghĩa với “khác thường”; và một tác
phẩm nghệ thuật lớn, dĩ nhiên, bao giờ cũng độc đáo, và như
vậy, bởi chính bản chất của nó, ắt tạo nên một bất ngờ ít nhiều
gây sốc. Tôi không hề có ý định ca ngợi “H. H.”. Rõ ràng, ông
ta thật gớm ghiếc, ông ta thật bỉ ổi, ông ta là một thí dụ nổi bật
về chứng phong hủi đạo đức, một hỗn hợp của tàn bạo và đùa
cợt mà ẩn sau đó, có lẽ là một nỗi khốn khổ cùng cực song
chẳng khiến ai đồng cảm. Tính khí ông ta vừa thất thường vừa
tẻ ngắt, ông ta phát biểu văng mạng nhiều ý kiến nhố nhăng về
con người và phong cảnh đất nước này. Một mạch thành thật
tuyệt vọng đập chộn rộn suốt dòng tâm sự ăn năn, song nó
không thể xá được cho ông ta khỏi những tội lỗi xảo trá quỉ
quyệt, ông ta bất bình thường, ông ta không phải là người hào
hoa phong nhã. Nhưng cây vĩ cầm réo rắt của ông ta có cái ma
lực gợi nên một niềm trìu mến và thương cảm đối với Lolita,
khiến ta mê mẩn với cuốn sách, đồng thời kinh tởm tác giả của
nó!
[9]
Với tư cách là một hồ sơ bệnh án , “Lolita” chắc sẽ trở
thành một tư liệu kinh điển trong giới y học tâm thần. Với tư
cách là một tác phẩm nghệ thuật, nó siêu vượt trên khía cạnh
chuộc tội của nó; và đối với chúng tôi, điều còn quan trọng
hơn cả ý nghĩa khoa học và giá trị văn học, là tác động đạo lí
mà cuốn sách sẽ tạo nên đối với độc giả nghiêm túc; vì trong
nghiên cứu cá nhân xót xa này, ẩn chứa một bài học phổ quát;
đứa trẻ ngang ngạnh, người mẹ ích kỉ, gã quỉ ám hổn hển,
không phải chỉ là những nhân vật sống động trong một câu
chuyện duy nhất; họ cảnh báo ta về các khuynh hướng nguy
hiểm; họ chỉ ra những cái xấu đầy cường lực. “Lolita” khiến
tất cả chúng ta - những người làm cha mẹ, những nhà hoạt
động xã hội, những nhà giáo dục - phải dốc sức, với tinh thần
cảnh giác cao hơn nữa và sáng suốt hơn nữa, vào nhiệm vụ
nuôi dạy một thế hệ tốt hơn trong một thế giới an toàn hơn.
[10]
Widworth, Mas. Tiến sĩ John Ray, Jr
5 tháng Tám năm 1955
PHẦN MỘT
1
[11]
Lolita
, ánh sáng của đời tôi, ngọn lửa nơi hạ bộ của tôi.
[12]
Tội lỗi của tôi, tâm hồn của tôi. Lo-lee-ta : đầu lưỡi lướt
xuống ba bước nhỏ dọc vòm miệng, đến bước thứ ba khẽ đập
vào răng. Lo. Li. Ta. Buổi sáng, em là Lo, ngắn gọn là Lo thôi,
[13]
đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu , chân đi độc một
chiếc tất. Mặc quần dài trong nhà, em là Lola. Ở trường học,
[14]
[15]
em là Dolly . Trên dòng kẻ chấm , em là Dolores. Nhưng
trong vòng tay tôi, bao giờ em cũng là Lolita. Có ai trước em
không nhỉ? Quả thật là đã có. Trên thực tế, có thể sẽ chẳng bao
giờ có Lolita nào hết nếu vào một mùa hè nào đó, tôi đã không
yêu một bé gái đầu tiên. Ở một công quốc bên bờ biển. Ờ, khi
nào nhỉ? Khoảng ngần ấy năm trước khi Lolita ra đời, bằng số
tuổi tôi vào mùa hè ấy. Một tên sát nhân bao giờ cũng sẵn văn
phong cầu kì, quí vị có thể tin thế. Thưa quí ông quí bà bồi
thẩm, tang vật số một là cái mà những thiên thần thượng đẳng,
những thiên thần ngây ngô, chất phác với đôi cánh cao quí,
thèm muốn. Xin hãy nhìn mớ gai chằng chịt này.
2
Tôi sinh năm 1910 ở Paris. Cha tôi là một người dịu dàng,
dễ tính, mang trong mình một hỗn hống gien của nhiều chủng
tộc: một công dân Thụy Sĩ, gốc nửa Pháp nửa Áo, với chút xíu
Danube trong máu. Lát nữa, tôi sẽ mời quí vị chuyền tay nhau
xem một số bưu ảnh đẹp màu xanh láng bóng. Cha tôi có một
khách sạn sang trọng ở Riviera. Ông nội tôi kinh doanh rượu
vang và hai cố nội tôi, một cụ bán đồ trang sức, một cụ mở cửa
hàng tơ lụa. Năm ba mươi tuổi, cha tôi lấy một cô gái người
Anh, con gái nhà leo núi Jerome Dunn và cháu gái một cặp vợ
chồng mục sư ở giáo xứ Dorset, chuyên gia về những đề tài bí
ẩn - cụ ông về cổ thổ nhưỡng học, cụ bà về đàn phong hạc. Mẹ
tôi, một thiếu phụ rất ăn ảnh, chết trong một tai nạn kì lạ (đi
pích-ních, sét đánh) khi tôi mới lên ba và, ngoại trừ mấy hơi
ấm ủ tận đáy sâu quá khứ, không một chút gì về bà còn sót lại
trong những thung lũng của kí ức, mà bên trên đó, nếu quí vị
còn chịu nổi cái thứ văn phong này của tôi (tôi đang viết dưới
sự giám sát) mặt trời của tuổi ấu thơ tôi đã lặn: chắc chắn, tất
cả quí vị đều biết những dư tàn lãng đãng của ngày lơ lửng
cùng đám muỗi mắt bên trên hàng giậu nở hoa, hoặc bất chợt
bị đột nhập và xuyên qua bởi kẻ lãng du dưới chân một quả
đồi, trong nhập nhoạng chiều hè; hơi ấm của khăn choàng lông
thú, đám muỗi mắt vàng rực.
Chị gái mẹ tôi, bác Sybil, lấy em họ cha tôi và sau khi bị
ông này ruồng rẫy, về phục vụ gia đình tôi kiểu như một gia sư
và quản gia không công. Sau này, có người kể cho tôi rằng dạo
xưa bác phải lòng cha tôi và cha tôi đã hồn nhiên lợi dụng tình
cảm đó vào một ngày mưa để rồi quên đi ngay khi trời nắng
ấm trở lại. Tôi cực kì yêu mến bác bất chấp một số nguyên tắc
của bác tỏ ra cứng nhắc, một sự cứng nhắc tai hại. Có lẽ bác
muốn rèn cho tôi, tới kì viên mãn, trở thành một ông góa tốt
hơn cha tôi. Bác Sybil có đôi mắt màu xanh da trời mí hồng và
nước da võ vàng. Bác làm thơ. Bác mê tín một cách thơ mộng.
Bác nói bác sẽ chết sau dịp sinh nhật lần thứ mười sáu của tôi,
và đúng như vậy. Ông chồng bác, một nhân viên chào hàng cự
phách trong ngành kinh doanh nước hoa, tiêu phần lớn thời
gian tại Mĩ, cuối cùng, lập hãng và mua được ít đất đai ở bên
đó.
Tôi là một đứa trẻ khỏe mạnh, sung sướng, lớn lên trong
một thế giới tươi sáng gồm toàn những sách đầy tranh ảnh, bãi
cát trắng sạch, những cây cam, những chú chó thân thiện,
quang cảnh biển và những bộ mặt tươi cười. Xoay quanh tôi là
khách sạn Mirana lộng lẫy như một vũ trụ của riêng tôi, một
tiểu vũ trụ quét vôi trắng nằm giữa cái vũ trụ xanh lớn hơn lấp
lánh bên ngoài. Từ chị rửa bát đĩa đeo tạp dề đến ông trùm sỏ
mặc đồ flanen sang trọng, ai cũng thích tôi, ai cũng chiều
chuộng tôi. Những bà già người Mĩ chống gậy ngả người về
phía tôi như những tòa tháp nghiêng Pisa. Những bà quận chúa
Nga lụn bại, không còn khả năng để bao cha tôi, mua cho tôi
[16]
những gói kẹo đắt tiền. Còn ông, mon cher petit papa , thì
thường đưa tôi ra ngoài chơi, khi đi thuyền, khi đi xe đạp, dạy
[17]
tôi bơi, lặn, lướt ván, đọc cho tôi nghe Don Quixote
[18]
và Les
Misérables*
(Những người khốn khổ), tôi tôn thờ và kính
trọng ông, tôi 'cảm thấy vui sướng thay cho ông mỗi khi nghe
lỏm thấy đám người làm trong nhà bàn tán về các bạn gái của
ông, những người đẹp và khả ái rất quan tâm đến tôi, họ
thường thủ thà thủ thỉ và nhỏ những giọt nước mắt xót thương
cho tuổi thơ vui tươi nhưng thiếu mẹ của tôi. Tôi học một
trường ngoại trú của Anh cách nhà khoảng mấy cây số, ở đó
tôi chơi quần vợt và ném bóng, được điểm tốt và rất thân thiện
hòa đồng với các bạn học cũng như với các thầy cô giáo. Theo
như tôi còn nhớ được, trước tuổi mười ba (tức là trước khi tôi
gặp cô bé Annabel lần đầu), tôi chỉ có vỏn vẹn mấy trải
nghiệm thực sự có liên quan đến tính dục, đó là: một cuộc trò
chuyện trịnh trọng, đứng đắn và thuần túy lí thuyết về những
bất ngờ của tuổi dậy thì trong vườn hồng của nhà trường với
một thằng nhỏ người Mĩ, con trai một nữ tài tử điện ảnh nổi
tiếng thời ấy mà nó họa hoằn mới được thấy trong thế giới ba
chiều; và những phản ứng ngồ ngộ nơi cơ thể tôi khi ngắm
một số tấm ảnh, ngọc ngà và mờ tối, với những khoảng da thịt
lộ ra cực kì mềm mượt, trong cuốn La Beauté Humaine* (Vẻ
đẹp người) lộng lẫy của Pichon mà tôi thó được trong thư viện
của
khách
sạn,
[19]
moi
từ
dưới
một
chồng
tạp
chí Graphics
đóng gáy màu cẩm thạch chất cao như núi. Về
sau, cha tôi, theo cái cách vui vẻ, khoái hoạt của ông, truyền
cho tôi tất cả những thông tin về tính dục mà ông nghĩ là tôi
cần biết; đó là vào mùa thu năm 1923, ngay trước khi gửi tôi
đến một lycée* (trường trung học) ở Lyon (chúng tôi qua ba
mùa đông ở đây); nhưng than ôi, mùa hè năm ấy, cha tôi đi du
lịch Ý cùng bà de R. và con gái bà, thành thử tôi chẳng có ai
để than thở, chẳng có ai để thỉnh vấn.
3
Giống như tác giả những dòng này, Annabel cũng là con
lai: bố Anh, mẹ Hà Lan. Bây giờ, tôi không còn nhớ rõ nét mặt
cô, mờ ảo hơn nhiều so với hồi cách đây mấy năm, trước khi
tôi gặp Lolita. Có hai loại kí ức thị giác; một là khi ta khéo léo
tái tạo một hình ảnh trong phòng thí-nghiệm-tâm-trí, mắt vẫn
mở (theo cách này, tôi hình dung Annabel dưới dạng vẻ có thể
mô tả bằng những từ chung chung như: “da mật ong”, “hai
cánh tay mảnh dẻ”, “tóc nâu bồng”, “mi dài”, “miệng rộng
tươi rói”); hai là khi ta nhắm mắt gợi lên tức thì trên vành
trong tối đen của mí mắt hình ảnh tuyệt đối trung thành, khách
quan, như một bóng ma nhỏ bé theo các màu sắc tự nhiên, của
một gương mặt yêu dấu (và đó là cách tôi hình dung Lolita).
Do vậy, trong việc mô tả Annabel, xin cho phép tôi chỉ nói
gọn rằng đó là một cô bé rất đáng yêu kém tôi vài tháng tuổi.
Cha mẹ cô là bạn cố tri của bác Sybil và họ cũng cứng nhắc
như bác. Họ thuê một biệt thự cách khách sạn Mirana không
xa. Ông Leigh hói đầu, da ngăm ngăm, bà Leigh (tên thời con
gái là Vanessa van Ness) béo và mặt trát bự phấn. Tôi rất ghét
cả hai vợ chồng! Thoạt đầu, Annabel và tôi toàn nói những
chuyện đẩu đâu. Cô thường vốc từng vốc cát mịn và để nó
chảy xuống qua kẽ tay. Đầu óc chúng tôi được khuôn đúc cùng
một kiểu với những đứa trẻ châu Âu thông minh ở độ tuổi
tiền-vị thành niên vào thời chúng tôi và thuộc giai tầng chúng
tôi, và tôi không tin rằng người ta có thể gán cho chúng tôi ít
nhiều phẩm chất thiên tài chỉ vì chúng tôi quan tâm đến sự đa
nguyên của thế giới có cư dân, đến những cuộc thi đấu quần
[20]
vợt, đến cõi vô tận, đến thuyết duy ngã
vân vân. Nhìn
những con vật sơ sinh mềm nhũn và mỏng manh, chúng tôi
đều cảm thấy nhói đau. Annabel muốn sau này sẽ là một nữ y
tá ở một nước châu Á nghèo đói; tôi thì muốn trở thành một
điệp viên trứ danh. Ngay lập tức, chúng tôi mê nhau điên
cuồng, vụng về, đau đớn, không còn biết xấu hổ; tôi phải nói
thêm là một cách vô vọng, bởi lẽ nỗi khát khao cuồng khấu
muốn chiếm hữu nhau đó chỉ có thể vơi nhẹ đi bằng việc thực
sự ngấm vào nhau, nhập làm một với nhau, đến từng phân tử
của cả linh hồn lẫn thể xác; nhưng ấy đấy, chúng tôi thậm chí
không thể giao phối với nhau như lũ trẻ ở những xóm ổ chuột
lúc nào cũng dễ dàng kiếm được cơ hội để làm. Sau lần điên
cuồng tìm cách gặp nhau ban đêm trong vườn nhà Annabel
(tôi sẽ nói thêm về chuyện này ở phần dưới), phạm vi riêng tư
duy nhất mà chúng tôi được phép là ở ngoài tầm tai nghe,
nhưng vẫn trong tầm nhìn, của khu đông người
trên plage* (bãi tắm). Ở đó, trên cát mềm, cách các bậc phụ
huynh mấy bước, chúng tôi nằm ềnh suốt buổi sáng trong tột
đỉnh thèm khát đến đờ đẫn và lợi dụng mọi ngẫu nhiên may
mắn trong không gian và thời gian để sờ soạng nhau: bàn tay
cô, lấp một nửa trong cát, trườn về phía tôi, những ngón nâu
thon mảnh lừ lừ tiến như kiểu mộng du, mỗi lúc một sát lại
gần; rồi cái đầu gối anh ánh màu trắng sữa bắt đầu một hành
trình dài, thận trọng; đôi khi, một cái ụ tình cờ do mấy đứa nhỏ
đắp tạo cho chúng tôi một thứ bình phong đủ kín để có thể chà
hai cặp môi mặn vào nhau; những tiếp xúc nửa vời ấy đã đẩy
hai cơ thể thanh xuân, khỏe mạnh và thiếu kinh nghiệm của
chúng tôi lên tới một bức xúc cao độ đến nỗi cả làn nước xanh
mát lạnh trong đó chúng tôi tiếp tục bám riết lấy nhau cũng
không thể làm nguôi dịu.
Trong số những bảo vật mà sau này, trong những năm bôn
ba ở tuổi trưởng thành, tôi đã đánh mất, có một tấm hình do
bác tôi chụp nhanh tại một tiệm cà phê vỉa hè; trong ảnh, ta
thấy Annabel và cha mẹ cô ngồi quanh một cái bàn cùng với
một ông già cổ lỗ thọt chân, bác sĩ Cooper, người theo đuổi
bác tôi vào mùa hè năm ấy. Mặt Annabel nom không rõ lắm vì
lúc ấy cô đang cúi trên cốc chocolat glacé* (sô-cô-la đá) của
mình và người ta chỉ có thể nhận ra cô ở đôi vai trần mảnh
khảnh và đường rẽ ngôi của mái tóc (theo những gì tôi còn
nhớ về tấm ảnh đó) giữa một quầng nhoa nhóa nắng quyện lẫn
với vẻ yêu kiều nay đã vĩnh viễn mất của cô; riêng tôi, lúc đó
ngồi hơi tách ra khỏi mọi người, thì nổi bật lên một cách đầy
kịch tính: một thiếu niên cau có, trán dô, mặc áo sơ mi ngắn
tay sẫm màu và quần soọc may đẹp, bắt chéo chân, quay
nghiêng mặt nhìn đi chỗ khác. Tấm ảnh này chụp vào ngày kết
thúc mùa hè định mệnh của chúng tôi và chỉ mấy phút trước
khi chúng tôi thực hiện nỗ lực thứ hai và cuối cùng nhằm
chống lại số phận. Kiếm một cớ lăng nhăng chẳng ra đâu vào
đâu (đây là cơ hội tối hậu của chúng tôi và ngoài ra, chẳng còn
gì là thực sự quan trọng nữa), chúng tôi chuồn khỏi tiệm cà
phê chạy ra bãi tắm, tìm được một dải cát vắng vẻ và ở đó,
dưới bóng râm tím ngát của những tảng đá đỏ tạo thành một
thứ hang động nhỏ, chúng tôi lao vào một cuộc ôm ấp vuốt ve
rồ dại trước một nhân chứng duy nhất là cặp kính râm của ai
đó bỏ quên. Tôi đã quì xuống, sắp sửa chiếm đoạt người yêu
dấu thì hai người đi tắm râu ria xồm xoàm, ông già biển và em
trai ông, chợt xộc ra từ những làn sóng, với những tiếng hò la
khuyến khích tục tĩu, và bốn tháng sau, Annabel chết vì bệnh
[21]
sốt chấy rận ở Corfu
.
4
Tôi lật đi lật lại những kí ức khốn khổ đó và không ngừng
tự hỏi: phải chăng kẽ nứt của đời tôi đã bắt đầu toác ra từ dạo
ấy, trong cái ánh lấp lánh của mùa hè xa xăm ấy? Hay nỗi
thèm khát thái quá của tôi đối với cô bé đó chỉ là bằng chứng
đầu tiên của một dị tật cố hữu? Khi ráng thử phân tích những
khát khao, động cơ, hành vi, vân vân của bản thân, tôi thường
tự buông thả mình vào một thứ tưởng tượng hồi cố, nó cung
cấp cho khả năng phân tích của tôi vô số chọn lựa, khiến cho
mỗi con đường được hình dung đều rẽ đôi và tiếp tục rẽ đôi
không ngừng trong cái mê cung nhằng nhịt đến phát điên là
quá khứ của tôi. Nhưng tôi tin chắc rằng, theo một cách
nhuốm màu pháp thuật và định mệnh nào đó, Lolita bắt đầu từ
Annabel.
Tôi cũng biết rằng cú sốc do cái chết của Annabel đã làm
tăng thêm nỗi thất vọng về mùa-hè-ác-mộng đó, biến nó thành
một chướng ngại thường trực đối với mọi cuộc huê tình khác
trong những năm tuổi trẻ lạnh lẽo của tôi. Cái tinh thần và cái
thể xác hòa quyện vào nhau trong chúng tôi với một độ hoàn
hảo đến nỗi lớp trẻ thời nay với đầu óc thực dụng, xu thời và
thô sơ, khó bề hiểu nổi. Một thời gian dài sau cái chết của
Annabel, tôi vẫn còn cảm thấy những ý nghĩ của cô bồng bềnh
qua những ý nghĩ của chính tôi. Từ lâu trước khi gặp nhau,
chúng tôi đã có những giấc mơ giống nhau. Chúng tôi trao đổi
đủ mọi chuyện. Chúng tôi phát hiện ra những tương đồng kì
lạ. Cùng vào tháng Sáu, cùng một năm (1919), một con chim
hoàng yến lạc đàn đã loạng quạng bay vào nhà cô và nhà tôi ở
hai nước cách xa nhau. Ôi, Lolita, giá em yêu tôi như thế!
Tôi dành phần kết chương “Annabel” của đời tôi để kể về
cuộc hẹn hò đầu tiên thất bại của chúng tôi. Một đêm, Annabel
đánh lừa được sự cảnh giác độc địa của gia đình, chúng tôi tót
lên ngồi trên phần còn lại của một bức tường đá đổ nát trong
một lùm cây mimosa khẳng khiu, mảnh lá đằng sau biệt thự
của họ. Qua bóng đêm và đám cây cối, chúng tôi thấy những
hình ngoằn ngoèo trên các ô kính cửa sổ sáng đèn (giờ đây,
điểm thêm những chấm mực màu của kí ức nhạy cảm, tôi thấy
chúng giống như những quân bài - có lẽ vì “kẻ địch” đang mải
chơi bài bridge). Annabel run lên và giật thót khi tôi hôn lên
khóe môi hé mở và dái tai nóng hổi của cô. Một chùm sao khẽ
lấp lánh trên đầu chúng tôi, giữa bóng hình của những chiếc lá
thon dài; bầu trời run rẩy ấy cũng trần trụi như thân thể
Annabel dưới chiếc áo đầm mỏng. Tôi thấy mặt em dưới bầu
trời, rõ nét lạ lùng, như thể tự nó tỏa ra một làn sáng lờ mờ.
Chân em, đôi chân đẹp sống động, không khép chặt lại, và khi
tay tôi đến đúng chỗ nó tìm kiếm, một vẻ mơ màng, kì bí, nửa
khoái cảm, nửa đau đớn, hiện lên trên gương mặt trẻ thơ ấy.
Em ngồi hơi cao hơn tôi một chút, và mỗi khi, trong niềm
ngây ngất đơn độc, em thấy cần phải hôn tôi, đầu em cúi
xuống trong một động tác đờ đẫn ngái ngủ, êm ái và uể oải,
hầu như tội nghiệp, và đôi đầu gối trần quắp lấy cổ tay tôi, riết
chặt rồi lại buông ra; và cái miệng run rẩy, biến dạng vì vị
đắng nghét của một liều thuốc bí hiểm nào đó, vừa hít hơi
đánh xuýt một cái, vừa xáp lại gần mặt tôi. Em ráng làm dịu
bớt nỗi khắc khoải yêu đương, trước hết bằng cách chà mạnh
cặp môi khô vào môi tôi; rồi người yêu dấu của tôi rời ra với
một động tác bồn chồn, hất ngược tóc ra sau gáy, rồi lại lầm lì
xáp tới, hé miệng cho tôi ngốn thỏa thuê, trong khi, với một sự
hào phóng sẵn sàng dâng hiến cho em tất thảy - trái tim, cổ
họng, gan ruột - tôi để em nắm lấy cây vương trượng của niềm
đam mê của tôi trong bàn tay vụng về của em.
Tôi còn nhớ cái mùi của một loại phấn tắm - tôi đồ là
Annabel đã lấy trộm của chị hầu phòng người Tây Ban Nha
của mẹ cô - một mùi thơm nhàn nhạt, đượm hương xạ, rẻ tiền.
Nó quyện với mùi bích qui của thân thể cô, và nhục cảm bỗng
dâng đầy trong tôi suýt ứa ra nếu không có một tiếng động bất
chợt ở bụi cây bên cạnh - và trong khi chúng tôi buông nhau
ra, mạch máu giần giật, hồi hộp nghe chừng xem có phải một
con mèo đi hoang, thì từ phía nhà, mẹ cô cất tiếng gọi với một
âm sắc mỗi lúc một cuống cuồng hơn - và bác sĩ Cooper lặc lè
tập tễnh đi ra vườn. Nhưng cái lùm cây mimosa ấy - cái làn
sương-sao ấy, cái cảm giác tê tê ấy, ngọn lửa ấy, cái chất dịch
ngòn ngọt ấy và cái nhói đau ấy vẫn còn lại trong tôi và cô gái
qườ quạng chân tay bên bãi biển, cô gái với chiếc lưỡi cuồng
nhiệt ấy từ đó cứ ám ảnh tôi hoài - cho đến tận hai mươi bốn
năm sau, khi, cuối cùng, tôi giải được bùa mê ấy bằng cách
hóa thân cô vào một cô gái khác.
5
Những ngày thanh xuân của tôi, khi tôi nhìn lại, dường như
bay khỏi tôi trong một xoáy lốc những mảnh nhờ nhạt lặp đi
lặp lại không cùng, tựa những mớ giấy lụa nhàu nát quay
cuồng thành một cơn bão tuyết ban mai mà một hành khách
[22]
ngồi toa quan sát
có thể nhìn thấy phấp phới đằng sau đoàn
tàu. Trong quan hệ tình dục với đàn bà, tôi bao giờ cũng thực
dụng, mỉa mai và nhanh gọn. Khi còn là sinh viên ở London
và Paris, với tôi, gái làm tiền là đủ. Việc học tập của tôi tỉ mỉ,
miệt mài, tuy nhiên không đạt kết quả gì đặc biệt. Thoạt đầu,
tôi tính kiếm một học vị về khoa tâm thần như nhiều tài
năng manqué* (bất thành); nhưng khốn nỗi, tôi lại còn manqué
hơn họ: tôi cảm thấy quá nặng nề, bác sĩ ạ, một sự kiệt sức kì
lạ; và tôi bèn chuyển qua văn học Anh, cái lĩnh vực nơi biết
bao nhà thơ bất thành danh, cuối cùng, đã trốn vào để thành
những giáo sư đóng bộ com lê “tuýt”, phì phèo tẩu thuốc. Paris
rất hợp với tôi. Tôi bàn luận về phim Xô viết với những người
[23]
lưu vong. Tôi ngồi với những cha tính dục đồng giới ở tiệm
cà phê Deux Magots. Tôi đăng những bài tiểu luận ngoắt
ngoéo trên những tờ báo không mấy ai biết đến. Tôi phóng
tác:
… Tha hồ cho Fraülein von Kulp
ngoái lại, tay đặt trên nắm cửa
Tôi chẳng theo nàng đâu. Cũng chẳng theo Fresca. Hay con
[24]
Hải ấu kia
Một bài viết của tôi nhan đề “Chủ đề Proust trong một bức
thư của Keats gửi Benjamin Bailey” bị sáu, bảy vị học giả
cười giễu sau khi đọc xong. Tôi xoay sang viết một
cuốn Histoire abrégée de la poésie anglaise* (Lược sử thơ
Anh) cho một nhà xuất bản nổi tiếng, và sau đó bắt tay vào
soạn cuốn sách giáo khoa về văn học Pháp cho sinh viên nói
tiếng Anh (với những so sánh rút ra từ các tác giả Anh); công
trình này làm tôi bận bịu suốt những năm 1940 - và tập cuối đã
gần như sẵn sàng để in khi tôi bị bắt.
Tôi kiếm được một việc làm: dạy tiếng Anh cho một nhóm
người lớn ở Auteuil. Rồi một trường nam sinh tuyển dụng tôi
trong vài mùa đông. Thi thoảng, tôi lợi dụng quan hệ với một
số nhân vật trong giới hoạt động xã hội và tâm lí trị liệu để
bám càng theo họ đi thăm một số cơ sở khác nhau như cô nhi
viện hoặc trường cải huấn, ở đó ta có thể tha hồ ngắm những
bé gái dậy thì với rèm mi dày xoắn vào nhau, những bữa tiệc
mắt thoải mái không sợ bị ai bắt lỗi như chỉ có trong mơ.
Bây giờ, tôi muốn giới thiệu ý niệm sau đây. Trong khung
tuổi từ chín đến mười bốn, đôi khi có những bé gái, mà dưới
mắt một số du khách gấp đôi hoặc gấp nhiều lần tuổi bị hớp
hồn, để lộ ra bản chất đích thực của mình, bản chất ấy không
đậm tính người, mà mang tính tiểu nữ thần (có nghĩa là quỉ
quái); và những mẫu người đặc tuyển ấy, tôi đề nghị gọi là
“tiểu nữ thần”.
Xin chú ý là tôi dùng từ biểu thị thời gian chứ không biểu
thị không gian. Thực tế, tôi muốn độc giả coi “chín” và “mười
bốn” như những đường biên - những bãi tắm lấp lánh như
gương soi và những tảng đá hồng hồng - của một hòn đảo thần
tiên, nơi các tiểu nữ thần của tôi thường lui tới, bốn bề là biển
mênh mông mù sương. Giữa hai giới hạn tuổi ấy, phải chăng
mọi bé gái đều là tiểu nữ thần? Dĩ nhiên là không. Nếu thế thì
bọn tôi, những kẻ nắm rõ ngọn ngành, những kẻ độc hành,
những kẻ cuồng si tiểu nữ thần, đã hóa dại từ lâu rồi. Sắc đẹp
cũng không phải là một tiêu chí để xác định; và sự phàm tục,
hoặc, ít nhất, cái mà một cộng đồng nhất định nào đó quen gọi
thế, không nhất thiết làm giảm thiểu một số đặc tính bí ẩn, cái
duyên chết người, cái vẻ quyến rũ biến hóa, thoắt ẩn thoắt
hiện, xảo trá đến tan nát lòng, nó tách biệt tiểu nữ thần với
những bạn cùng tuổi vốn bội phần phụ thuộc vào cái thế-giớikhông-gian của những hiện tượng đồng thời, chứ không mấy
liên quan đến cái cù-lao-thời-gian thần tiên vô hình nơi Lolita
chơi nhởn với đồng loại. Trong cùng một khung tuổi, số lượng
những tiểu nữ thần đích thực cực kì nhỏ hơn số lượng các bé
gái tạm thời chưa đẹp, hoặc chỉ dễ coi, hoặc “xinh xắn”, hoặc
thậm chí là “dịu dàng” và “hấp dẫn”, những bé gái bình
thường, mũm mĩm, không eo, da mát lạnh, bụng tròn nây và
bím tóc vắt ve, rành rành cốt cách người, lớn lên có thể (hoặc
không thể) trở nên sắc nước hương trời (hãy nghĩ đến trường
hợp những cô béo lùn xấu xí đi tất đen, đội mũ trắng, bỗng
nhiên hóa thành minh tinh màn bạc lừng lẫy). Hãy đưa tấm
ảnh chụp một tốp nữ học sinh hay nữ hướng đạo sinh cho một
người đàn ông bình thường và đề nghị anh ta chỉ ra cô nào
xinh nhất; chưa chắc anh ta đã chọn tiểu nữ thần trong đám ấy.
Bạn phải là một nghệ sĩ kiêm một gã khùng, một con người
sầu muộn vô biên mang một bọng kịch độc trong thận và một
ngọn lửa siêu khoái lạc luôn hừng hực trong tủy sống (ôi, bạn
phải co mình và che đậy khốn khổ như thế nào!) mới có thể
nhận ra ngay, bằng vào những dấu hiệu khó tả - nét lượn mềm
mại, phảng phất dáng mèo, của một gò má, cái thon thả của
một bắp chân mơn mởn lông tơ, và những chi tiết khác mà sự
xấu hổ và tuyệt vọng cùng những giọt nước mắt trìu mến
khiến tôi không dám kể ra - tiểu quỉ độc hại chết người giữa
những đứa trẻ lành mạnh, cả đám này không nhận ra em, và
bản thân em cũng không ý thức được quyền lực huyền hoặc
của mình.
Ngoài ra, vì ý niệm thời gian đóng vai trò kì diệu đến thế
trong chuyện này, người nghiên cứu chớ nên ngạc nhiên khi
biết rằng phải là một khoảng cách, không bao giờ dưới mười
năm, theo tôi nghĩ, thường là ba hay bốn mươi, thậm chí chín
mươi năm trong một số trường hợp nổi tiếng, giữa cô gái và
người đàn ông, mới khiến cho người này gục ngã dưới sức
quyến rũ của tiểu nữ thần. Đây là vấn đề chỉnh tiêu cự, vấn đề
một khoảng cách nào đó mà con mắt nội tâm rạo rực muốn
vượt qua, và một sự tương phản nào đó mà tâm trí hào hển
cảm nhận với một khoái thú đồi bại. Khi tôi là một đứa trẻ và
bé Annabel của tôi là một đứa trẻ, em tuyệt nhiên không phải
là một tiểu nữ thần đối với tôi; chúng tôi bằng vai phải lứa với
nhau và tôi là một tiểu dương thần chính danh trên cái cù-laothời-gian thần tiên ấy; nhưng hôm nay đây, vào tháng Chín
năm 1952 này, sau khi hai mươi chín năm đã trôi qua, tôi nghĩ
tôi có thể thấy rõ ở em manh nha của nữ tiểu yêu định mệnh
trong đời tôi. Chúng tôi yêu nhau bằng một tình yêu sớm sủa
mà dữ dội đến mức nhiều khi có thể hủy hoại bao quãng đời
trưởng thành. Tôi là một gã trai trẻ cường tráng nên tôi đã
sống sót; nhưng chất độc vẫn còn lại trong vết thương và vết
thương không bao giờ đóng sẹo, và rồi tôi trưởng thành giữa
một nền văn minh trong đó một người đàn ông hai mươi lăm
tuổi được phép tán tỉnh một thiếu nữ mười sáu, nhưng không
phải là một bé gái mười hai.
Thế nên chẳng có gì lạ là quãng đời trưởng thành ở châu Âu
trong cuộc sinh tồn của tôi, tỏ ra hai mặt một cách quái đản.
Bề ngoài, tôi có những quan hệ gọi là bình thường với một số
phụ nữ trần tục vú to như quả bầu hay trái lê; bên trong, tôi bị
thiêu dần thiêu mòn bởi lò lửa địa ngục của nỗi thèm khát bị
kiềm chế đối với mọi tiểu nữ thần chợt gặp mà kẻ hèn nhát tôn
trọng luật lệ là tôi...
Lời nói đầu
PHẦN MỘT
1
10
20
30
PHẦN HAI
1
10
20
30
Về một cuốn sách nhan đề Lolita
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tác giả
Vladimir Nabokov (1899-1977), tiểu thuyết gia, nhà phê
bình văn học, dịch giả, nhà nghiên cứu về thể loại văn học của
nước Mỹ, sinh ra tại nước Nga. Nabokov học thức uyên bác,
tài hoa đa diện, cuộc đời sáng tác cực kỳ phong phú đa dạng,
bao gồm: Thơ, kịch, tiểu thuyết, truyện ký, phiên dịch, cờ
tướng và các luận văn về côn trùng học, song ông nổi tiếng thế
giới vìtiểu thuyết, như: “Lolita”, “Puning”, “Ngọn lửa đìu hiu”
(Pale Fire), “Ada”, “Vật thể trong suốt”, v.v… đều là những
danh tác được mọi người biết đến. Ngoài tiểu thuyết và thơ,
ông còn công bố bình luận về Gogol, phiên dịch và viết
chuyên luận về bộ sách 4 quyển của Pushkin “Napalese
Onegin”. Thập niên 70 của thế kỷ 20, danh tiếng của ông đạt
tới tột đỉnh, được tôn vinh là “vua tiểu thuyết đương đại”.
Lời nói đầu
“Lolita” hay “Lời xưng tội của một gỡ đàn ông da trắng góa
vợ”, ấy là hai cái đầu đề của tập bản thảo kì lạ được gửi đến
người viết những dòng này làm mào đầu cho nó. “Humbert
[1]
Humbert” , tác giả của nó, đã chết trong tù vì chứng nghẽn
động mạch vành vào ngày 16 tháng Mười một năm 1952, ít
hôm trước khi bắt đầu phiên tòa xử ông ta. Khi yêu cầu tôi
biên tập những trang này, luật sư của ông ta, Ngài Clarence
Choate Clark, nay là thành viên của luật sư đoàn Washington
D.C, cũng là bạn và bà con của tôi, dựa trên một điều khoản
trong di chúc của thân chủ của ông trao toàn quyền cho người
anh họ lỗi lạc của tôi tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết cho
việc in ấn cuốn “Lolita”. Quyết định của ông Clark có thể là
do người biên tập mà ông chọn vừa được tặng giải thưởng
Poling về một tác phẩm khiêm tốn (“Do the Senses Make
Sense?”) trong đó có bàn đến một số trạng thái bệnh hoạn và
loạn dâm. Nhiệm vụ của tôi hóa ra đơn giản hơn là cả hai
chúng tôi đã dự liệu. Ngoại trừ việc sửa những lỗi cú pháp quá
hiển nhiên và thận trọng lược bỏ một số chi tiết mà bất chấp
những cố gắng của “H. H.” vẫn dai dẳng lưu tồn trong văn bản
của ông ta như những tấm biển báo và những tấm bia mộ (chỉ
rõ những nơi hoặc những người mà lẽ ra nên giấu đi cho nhã,
hoặc nên thương tình bỏ qua), tập hồi ức này được giới thiệu
nguyên vẹn. Biệt danh kì dị của tác giả là do chính ông ta đặt;
và dĩ nhiên, chiếc mặt nạ này - qua đó, dường như rực lên hai
con mắt thôi miên – vẫn được để nguyên không cắt bỏ, theo
đúng ý nguyện của người mang nó. Trong khi “Haze” chỉ
[2]
vần với họ thật của nữ nhân vật chính thôi, thì tên cô lại
quyện chặt vào thớ cảm xúc sâu kín của cuốn sách đến độ
không cho phép ơi thay đổi nó; vả chăng cũng chẳng có lí do
thực tiễn nào (như độc giả sẽ tự thấy) khiến ta thấy cần phải
làm thế. Những ai tò mò muốn tìm hiểu kĩ có thể truy cứu các
tư liệu liên quan đến tội hình sự của “H. H.” trên các báo hằng
ngày trong tháng Chín năm 1952; nguyên nhân và mục đích
của tội đó ắt sẽ tiếp tục là một bí mật hoàn toàn nếu số phận
không mang tập hồi ức này đến đặt dưới ngọn đèn biên tập của
tôi. Để phục vụ các độc giả cựu trào muốn theo dõi số phận
của những con người “có thực” bên ngoài câu chuyện “thật”,
xin cung cấp một số chi tiết do ông “Windmuller” ở
“Ramsdale” chuyển tới, ông này muốn giữ kín nhân thân để
“cái bóng dài lê thê của câu chuyện thảm hại và nhớp nhúa
này” khỏi chạm tới cái cộng đồng mà ông hãnh diện được là
một thành viên. Con gái ông, “Louise”, hiện là sinh viên đại
học năm thứ hai. “Mona Dahl” cũng là sinh viên ở Paris.
“Rita” vừa mới kết hôn với một chủ khách sạn ở FIorida. Bà
[3]
“Richard F. Schiller”
chết cả hai mẹ con trên bàn đẻ vào
[4]
đúng hôm Giáng sinh năm 1952 ở Gray Star , một khu định
cư ở miền Tây Bắc cực kì hẻo lánh, cái thai chết là một bé gái.
“Vivian Darkbloom” vừa viết xong một cuốn tiểu sử nhan đề
[5]
“My Cue” sẽ xuất bản nay mai, và những nhà phê bình đã
đọc bản thảo đều cho đó là cuốn sách hay nhất của bà ấy.
Những người trông coi các nghĩa trang có liên quan tới câu
chuyện cho biết không thấy bóng ma nào hiện về. Xét đơn
thuần như là một tiểu thuyết, “Lolita” đề cập đến những tình
huống và những cảm xúc mà nếu thể hiện nhờ nhạt bàng các
thủ pháp né tránh vô vị thì trước sau chỉ khiến người đọc thấy
mơ hồ đến phát cáu. Đúng là người ta không tìm thấy một từ
tục tĩu nào trong toàn bộ tác phẩm; quả thật, kẻ phàm tục kiên
cường được những ước lệ hiện đại luyện cho quen thói chấp
nhận không chút đắn đo hàng loạt chữ tục trắng trợn tràn ngập
trong những cuốn tiểu thuyết tầm thường, ắt sẽ phẫn nộ khi
không thấy chúng ở đây. Nhưng nếu để chiều theo cái kẻ làm
ra vẻ tiết hạnh một cách ngược đời ấy, một biên tập viên tìm
cách pha loãng hoặc tước bỏ những cảnh mà một loại đầu óc
nào đó có thể gọi là “kích dục” (về phương diện này, xin xem
phán quyết trọng đại do Ngài John Woolsey tuyên đọc ngày 6
tháng Chạp năm 1933 đối với một cuốn sách khác còn thẳng
[6]
thừng hơn nhiều ), thì tất phải từ bỏ hoàn toàn việc xuất bản
“Lolita” vì chính những cảnh mà người ta có thể kết tội quàng
xiên rằng tự thân chúng chứa một hiện sinh nhục cảm, lại đích
thị là những cảnh có tác dụng triệt để nhất trong diễn biến của
một câu chuyện bi thảm luôn kiên định hướng tới tôn vinh đạo
đức. Kẻ khuyển nho có thể nói rằng loại văn chương “con
heo” thương mại cũng lập luận tương tự, nhà học giả có thể
phản bác bằng cách khẳng định rằng lời thú tội tâm huyết của
[7]
“H. H.” chỉ là cơn bão trong ống nghiệm; ràng ít nhất 12%
đàn ông trưởng thành ở Mĩ - một ước tính “dè dặt” theo tiến sĩ
[8]
Blanche Schwarzmann (thông báo miệng) - năm nào cũng
thưởng thức theo cách này hay cách khác các trải nghiệm đặc
biệt mà “H. H.” mô tả một cách tuyệt vọng đến thế; rằng nếu
vào cái mùa hè định mệnh năm 1947 ấy, người viết hồi ức điên
khùng của chúng ta tìm đến một bác sĩ bệnh lí - tâm thần giỏi,
thì chắc đã chẳng xảy ra tai họa; nhưng nếu vậy thì cũng chẳng
có cuốn sách này. Kẻ viết những dòng bình luận này xin mạn
phép được nhắc lại một điều hắn thường nhấn mạnh trong các
cuốn sách và bài giảng của mình, cụ thể rằng “gây sốc” nhiều
khi chỉ là một từ đồng nghĩa với “khác thường”; và một tác
phẩm nghệ thuật lớn, dĩ nhiên, bao giờ cũng độc đáo, và như
vậy, bởi chính bản chất của nó, ắt tạo nên một bất ngờ ít nhiều
gây sốc. Tôi không hề có ý định ca ngợi “H. H.”. Rõ ràng, ông
ta thật gớm ghiếc, ông ta thật bỉ ổi, ông ta là một thí dụ nổi bật
về chứng phong hủi đạo đức, một hỗn hợp của tàn bạo và đùa
cợt mà ẩn sau đó, có lẽ là một nỗi khốn khổ cùng cực song
chẳng khiến ai đồng cảm. Tính khí ông ta vừa thất thường vừa
tẻ ngắt, ông ta phát biểu văng mạng nhiều ý kiến nhố nhăng về
con người và phong cảnh đất nước này. Một mạch thành thật
tuyệt vọng đập chộn rộn suốt dòng tâm sự ăn năn, song nó
không thể xá được cho ông ta khỏi những tội lỗi xảo trá quỉ
quyệt, ông ta bất bình thường, ông ta không phải là người hào
hoa phong nhã. Nhưng cây vĩ cầm réo rắt của ông ta có cái ma
lực gợi nên một niềm trìu mến và thương cảm đối với Lolita,
khiến ta mê mẩn với cuốn sách, đồng thời kinh tởm tác giả của
nó!
[9]
Với tư cách là một hồ sơ bệnh án , “Lolita” chắc sẽ trở
thành một tư liệu kinh điển trong giới y học tâm thần. Với tư
cách là một tác phẩm nghệ thuật, nó siêu vượt trên khía cạnh
chuộc tội của nó; và đối với chúng tôi, điều còn quan trọng
hơn cả ý nghĩa khoa học và giá trị văn học, là tác động đạo lí
mà cuốn sách sẽ tạo nên đối với độc giả nghiêm túc; vì trong
nghiên cứu cá nhân xót xa này, ẩn chứa một bài học phổ quát;
đứa trẻ ngang ngạnh, người mẹ ích kỉ, gã quỉ ám hổn hển,
không phải chỉ là những nhân vật sống động trong một câu
chuyện duy nhất; họ cảnh báo ta về các khuynh hướng nguy
hiểm; họ chỉ ra những cái xấu đầy cường lực. “Lolita” khiến
tất cả chúng ta - những người làm cha mẹ, những nhà hoạt
động xã hội, những nhà giáo dục - phải dốc sức, với tinh thần
cảnh giác cao hơn nữa và sáng suốt hơn nữa, vào nhiệm vụ
nuôi dạy một thế hệ tốt hơn trong một thế giới an toàn hơn.
[10]
Widworth, Mas. Tiến sĩ John Ray, Jr
5 tháng Tám năm 1955
PHẦN MỘT
1
[11]
Lolita
, ánh sáng của đời tôi, ngọn lửa nơi hạ bộ của tôi.
[12]
Tội lỗi của tôi, tâm hồn của tôi. Lo-lee-ta : đầu lưỡi lướt
xuống ba bước nhỏ dọc vòm miệng, đến bước thứ ba khẽ đập
vào răng. Lo. Li. Ta. Buổi sáng, em là Lo, ngắn gọn là Lo thôi,
[13]
đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu , chân đi độc một
chiếc tất. Mặc quần dài trong nhà, em là Lola. Ở trường học,
[14]
[15]
em là Dolly . Trên dòng kẻ chấm , em là Dolores. Nhưng
trong vòng tay tôi, bao giờ em cũng là Lolita. Có ai trước em
không nhỉ? Quả thật là đã có. Trên thực tế, có thể sẽ chẳng bao
giờ có Lolita nào hết nếu vào một mùa hè nào đó, tôi đã không
yêu một bé gái đầu tiên. Ở một công quốc bên bờ biển. Ờ, khi
nào nhỉ? Khoảng ngần ấy năm trước khi Lolita ra đời, bằng số
tuổi tôi vào mùa hè ấy. Một tên sát nhân bao giờ cũng sẵn văn
phong cầu kì, quí vị có thể tin thế. Thưa quí ông quí bà bồi
thẩm, tang vật số một là cái mà những thiên thần thượng đẳng,
những thiên thần ngây ngô, chất phác với đôi cánh cao quí,
thèm muốn. Xin hãy nhìn mớ gai chằng chịt này.
2
Tôi sinh năm 1910 ở Paris. Cha tôi là một người dịu dàng,
dễ tính, mang trong mình một hỗn hống gien của nhiều chủng
tộc: một công dân Thụy Sĩ, gốc nửa Pháp nửa Áo, với chút xíu
Danube trong máu. Lát nữa, tôi sẽ mời quí vị chuyền tay nhau
xem một số bưu ảnh đẹp màu xanh láng bóng. Cha tôi có một
khách sạn sang trọng ở Riviera. Ông nội tôi kinh doanh rượu
vang và hai cố nội tôi, một cụ bán đồ trang sức, một cụ mở cửa
hàng tơ lụa. Năm ba mươi tuổi, cha tôi lấy một cô gái người
Anh, con gái nhà leo núi Jerome Dunn và cháu gái một cặp vợ
chồng mục sư ở giáo xứ Dorset, chuyên gia về những đề tài bí
ẩn - cụ ông về cổ thổ nhưỡng học, cụ bà về đàn phong hạc. Mẹ
tôi, một thiếu phụ rất ăn ảnh, chết trong một tai nạn kì lạ (đi
pích-ních, sét đánh) khi tôi mới lên ba và, ngoại trừ mấy hơi
ấm ủ tận đáy sâu quá khứ, không một chút gì về bà còn sót lại
trong những thung lũng của kí ức, mà bên trên đó, nếu quí vị
còn chịu nổi cái thứ văn phong này của tôi (tôi đang viết dưới
sự giám sát) mặt trời của tuổi ấu thơ tôi đã lặn: chắc chắn, tất
cả quí vị đều biết những dư tàn lãng đãng của ngày lơ lửng
cùng đám muỗi mắt bên trên hàng giậu nở hoa, hoặc bất chợt
bị đột nhập và xuyên qua bởi kẻ lãng du dưới chân một quả
đồi, trong nhập nhoạng chiều hè; hơi ấm của khăn choàng lông
thú, đám muỗi mắt vàng rực.
Chị gái mẹ tôi, bác Sybil, lấy em họ cha tôi và sau khi bị
ông này ruồng rẫy, về phục vụ gia đình tôi kiểu như một gia sư
và quản gia không công. Sau này, có người kể cho tôi rằng dạo
xưa bác phải lòng cha tôi và cha tôi đã hồn nhiên lợi dụng tình
cảm đó vào một ngày mưa để rồi quên đi ngay khi trời nắng
ấm trở lại. Tôi cực kì yêu mến bác bất chấp một số nguyên tắc
của bác tỏ ra cứng nhắc, một sự cứng nhắc tai hại. Có lẽ bác
muốn rèn cho tôi, tới kì viên mãn, trở thành một ông góa tốt
hơn cha tôi. Bác Sybil có đôi mắt màu xanh da trời mí hồng và
nước da võ vàng. Bác làm thơ. Bác mê tín một cách thơ mộng.
Bác nói bác sẽ chết sau dịp sinh nhật lần thứ mười sáu của tôi,
và đúng như vậy. Ông chồng bác, một nhân viên chào hàng cự
phách trong ngành kinh doanh nước hoa, tiêu phần lớn thời
gian tại Mĩ, cuối cùng, lập hãng và mua được ít đất đai ở bên
đó.
Tôi là một đứa trẻ khỏe mạnh, sung sướng, lớn lên trong
một thế giới tươi sáng gồm toàn những sách đầy tranh ảnh, bãi
cát trắng sạch, những cây cam, những chú chó thân thiện,
quang cảnh biển và những bộ mặt tươi cười. Xoay quanh tôi là
khách sạn Mirana lộng lẫy như một vũ trụ của riêng tôi, một
tiểu vũ trụ quét vôi trắng nằm giữa cái vũ trụ xanh lớn hơn lấp
lánh bên ngoài. Từ chị rửa bát đĩa đeo tạp dề đến ông trùm sỏ
mặc đồ flanen sang trọng, ai cũng thích tôi, ai cũng chiều
chuộng tôi. Những bà già người Mĩ chống gậy ngả người về
phía tôi như những tòa tháp nghiêng Pisa. Những bà quận chúa
Nga lụn bại, không còn khả năng để bao cha tôi, mua cho tôi
[16]
những gói kẹo đắt tiền. Còn ông, mon cher petit papa , thì
thường đưa tôi ra ngoài chơi, khi đi thuyền, khi đi xe đạp, dạy
[17]
tôi bơi, lặn, lướt ván, đọc cho tôi nghe Don Quixote
[18]
và Les
Misérables*
(Những người khốn khổ), tôi tôn thờ và kính
trọng ông, tôi 'cảm thấy vui sướng thay cho ông mỗi khi nghe
lỏm thấy đám người làm trong nhà bàn tán về các bạn gái của
ông, những người đẹp và khả ái rất quan tâm đến tôi, họ
thường thủ thà thủ thỉ và nhỏ những giọt nước mắt xót thương
cho tuổi thơ vui tươi nhưng thiếu mẹ của tôi. Tôi học một
trường ngoại trú của Anh cách nhà khoảng mấy cây số, ở đó
tôi chơi quần vợt và ném bóng, được điểm tốt và rất thân thiện
hòa đồng với các bạn học cũng như với các thầy cô giáo. Theo
như tôi còn nhớ được, trước tuổi mười ba (tức là trước khi tôi
gặp cô bé Annabel lần đầu), tôi chỉ có vỏn vẹn mấy trải
nghiệm thực sự có liên quan đến tính dục, đó là: một cuộc trò
chuyện trịnh trọng, đứng đắn và thuần túy lí thuyết về những
bất ngờ của tuổi dậy thì trong vườn hồng của nhà trường với
một thằng nhỏ người Mĩ, con trai một nữ tài tử điện ảnh nổi
tiếng thời ấy mà nó họa hoằn mới được thấy trong thế giới ba
chiều; và những phản ứng ngồ ngộ nơi cơ thể tôi khi ngắm
một số tấm ảnh, ngọc ngà và mờ tối, với những khoảng da thịt
lộ ra cực kì mềm mượt, trong cuốn La Beauté Humaine* (Vẻ
đẹp người) lộng lẫy của Pichon mà tôi thó được trong thư viện
của
khách
sạn,
[19]
moi
từ
dưới
một
chồng
tạp
chí Graphics
đóng gáy màu cẩm thạch chất cao như núi. Về
sau, cha tôi, theo cái cách vui vẻ, khoái hoạt của ông, truyền
cho tôi tất cả những thông tin về tính dục mà ông nghĩ là tôi
cần biết; đó là vào mùa thu năm 1923, ngay trước khi gửi tôi
đến một lycée* (trường trung học) ở Lyon (chúng tôi qua ba
mùa đông ở đây); nhưng than ôi, mùa hè năm ấy, cha tôi đi du
lịch Ý cùng bà de R. và con gái bà, thành thử tôi chẳng có ai
để than thở, chẳng có ai để thỉnh vấn.
3
Giống như tác giả những dòng này, Annabel cũng là con
lai: bố Anh, mẹ Hà Lan. Bây giờ, tôi không còn nhớ rõ nét mặt
cô, mờ ảo hơn nhiều so với hồi cách đây mấy năm, trước khi
tôi gặp Lolita. Có hai loại kí ức thị giác; một là khi ta khéo léo
tái tạo một hình ảnh trong phòng thí-nghiệm-tâm-trí, mắt vẫn
mở (theo cách này, tôi hình dung Annabel dưới dạng vẻ có thể
mô tả bằng những từ chung chung như: “da mật ong”, “hai
cánh tay mảnh dẻ”, “tóc nâu bồng”, “mi dài”, “miệng rộng
tươi rói”); hai là khi ta nhắm mắt gợi lên tức thì trên vành
trong tối đen của mí mắt hình ảnh tuyệt đối trung thành, khách
quan, như một bóng ma nhỏ bé theo các màu sắc tự nhiên, của
một gương mặt yêu dấu (và đó là cách tôi hình dung Lolita).
Do vậy, trong việc mô tả Annabel, xin cho phép tôi chỉ nói
gọn rằng đó là một cô bé rất đáng yêu kém tôi vài tháng tuổi.
Cha mẹ cô là bạn cố tri của bác Sybil và họ cũng cứng nhắc
như bác. Họ thuê một biệt thự cách khách sạn Mirana không
xa. Ông Leigh hói đầu, da ngăm ngăm, bà Leigh (tên thời con
gái là Vanessa van Ness) béo và mặt trát bự phấn. Tôi rất ghét
cả hai vợ chồng! Thoạt đầu, Annabel và tôi toàn nói những
chuyện đẩu đâu. Cô thường vốc từng vốc cát mịn và để nó
chảy xuống qua kẽ tay. Đầu óc chúng tôi được khuôn đúc cùng
một kiểu với những đứa trẻ châu Âu thông minh ở độ tuổi
tiền-vị thành niên vào thời chúng tôi và thuộc giai tầng chúng
tôi, và tôi không tin rằng người ta có thể gán cho chúng tôi ít
nhiều phẩm chất thiên tài chỉ vì chúng tôi quan tâm đến sự đa
nguyên của thế giới có cư dân, đến những cuộc thi đấu quần
[20]
vợt, đến cõi vô tận, đến thuyết duy ngã
vân vân. Nhìn
những con vật sơ sinh mềm nhũn và mỏng manh, chúng tôi
đều cảm thấy nhói đau. Annabel muốn sau này sẽ là một nữ y
tá ở một nước châu Á nghèo đói; tôi thì muốn trở thành một
điệp viên trứ danh. Ngay lập tức, chúng tôi mê nhau điên
cuồng, vụng về, đau đớn, không còn biết xấu hổ; tôi phải nói
thêm là một cách vô vọng, bởi lẽ nỗi khát khao cuồng khấu
muốn chiếm hữu nhau đó chỉ có thể vơi nhẹ đi bằng việc thực
sự ngấm vào nhau, nhập làm một với nhau, đến từng phân tử
của cả linh hồn lẫn thể xác; nhưng ấy đấy, chúng tôi thậm chí
không thể giao phối với nhau như lũ trẻ ở những xóm ổ chuột
lúc nào cũng dễ dàng kiếm được cơ hội để làm. Sau lần điên
cuồng tìm cách gặp nhau ban đêm trong vườn nhà Annabel
(tôi sẽ nói thêm về chuyện này ở phần dưới), phạm vi riêng tư
duy nhất mà chúng tôi được phép là ở ngoài tầm tai nghe,
nhưng vẫn trong tầm nhìn, của khu đông người
trên plage* (bãi tắm). Ở đó, trên cát mềm, cách các bậc phụ
huynh mấy bước, chúng tôi nằm ềnh suốt buổi sáng trong tột
đỉnh thèm khát đến đờ đẫn và lợi dụng mọi ngẫu nhiên may
mắn trong không gian và thời gian để sờ soạng nhau: bàn tay
cô, lấp một nửa trong cát, trườn về phía tôi, những ngón nâu
thon mảnh lừ lừ tiến như kiểu mộng du, mỗi lúc một sát lại
gần; rồi cái đầu gối anh ánh màu trắng sữa bắt đầu một hành
trình dài, thận trọng; đôi khi, một cái ụ tình cờ do mấy đứa nhỏ
đắp tạo cho chúng tôi một thứ bình phong đủ kín để có thể chà
hai cặp môi mặn vào nhau; những tiếp xúc nửa vời ấy đã đẩy
hai cơ thể thanh xuân, khỏe mạnh và thiếu kinh nghiệm của
chúng tôi lên tới một bức xúc cao độ đến nỗi cả làn nước xanh
mát lạnh trong đó chúng tôi tiếp tục bám riết lấy nhau cũng
không thể làm nguôi dịu.
Trong số những bảo vật mà sau này, trong những năm bôn
ba ở tuổi trưởng thành, tôi đã đánh mất, có một tấm hình do
bác tôi chụp nhanh tại một tiệm cà phê vỉa hè; trong ảnh, ta
thấy Annabel và cha mẹ cô ngồi quanh một cái bàn cùng với
một ông già cổ lỗ thọt chân, bác sĩ Cooper, người theo đuổi
bác tôi vào mùa hè năm ấy. Mặt Annabel nom không rõ lắm vì
lúc ấy cô đang cúi trên cốc chocolat glacé* (sô-cô-la đá) của
mình và người ta chỉ có thể nhận ra cô ở đôi vai trần mảnh
khảnh và đường rẽ ngôi của mái tóc (theo những gì tôi còn
nhớ về tấm ảnh đó) giữa một quầng nhoa nhóa nắng quyện lẫn
với vẻ yêu kiều nay đã vĩnh viễn mất của cô; riêng tôi, lúc đó
ngồi hơi tách ra khỏi mọi người, thì nổi bật lên một cách đầy
kịch tính: một thiếu niên cau có, trán dô, mặc áo sơ mi ngắn
tay sẫm màu và quần soọc may đẹp, bắt chéo chân, quay
nghiêng mặt nhìn đi chỗ khác. Tấm ảnh này chụp vào ngày kết
thúc mùa hè định mệnh của chúng tôi và chỉ mấy phút trước
khi chúng tôi thực hiện nỗ lực thứ hai và cuối cùng nhằm
chống lại số phận. Kiếm một cớ lăng nhăng chẳng ra đâu vào
đâu (đây là cơ hội tối hậu của chúng tôi và ngoài ra, chẳng còn
gì là thực sự quan trọng nữa), chúng tôi chuồn khỏi tiệm cà
phê chạy ra bãi tắm, tìm được một dải cát vắng vẻ và ở đó,
dưới bóng râm tím ngát của những tảng đá đỏ tạo thành một
thứ hang động nhỏ, chúng tôi lao vào một cuộc ôm ấp vuốt ve
rồ dại trước một nhân chứng duy nhất là cặp kính râm của ai
đó bỏ quên. Tôi đã quì xuống, sắp sửa chiếm đoạt người yêu
dấu thì hai người đi tắm râu ria xồm xoàm, ông già biển và em
trai ông, chợt xộc ra từ những làn sóng, với những tiếng hò la
khuyến khích tục tĩu, và bốn tháng sau, Annabel chết vì bệnh
[21]
sốt chấy rận ở Corfu
.
4
Tôi lật đi lật lại những kí ức khốn khổ đó và không ngừng
tự hỏi: phải chăng kẽ nứt của đời tôi đã bắt đầu toác ra từ dạo
ấy, trong cái ánh lấp lánh của mùa hè xa xăm ấy? Hay nỗi
thèm khát thái quá của tôi đối với cô bé đó chỉ là bằng chứng
đầu tiên của một dị tật cố hữu? Khi ráng thử phân tích những
khát khao, động cơ, hành vi, vân vân của bản thân, tôi thường
tự buông thả mình vào một thứ tưởng tượng hồi cố, nó cung
cấp cho khả năng phân tích của tôi vô số chọn lựa, khiến cho
mỗi con đường được hình dung đều rẽ đôi và tiếp tục rẽ đôi
không ngừng trong cái mê cung nhằng nhịt đến phát điên là
quá khứ của tôi. Nhưng tôi tin chắc rằng, theo một cách
nhuốm màu pháp thuật và định mệnh nào đó, Lolita bắt đầu từ
Annabel.
Tôi cũng biết rằng cú sốc do cái chết của Annabel đã làm
tăng thêm nỗi thất vọng về mùa-hè-ác-mộng đó, biến nó thành
một chướng ngại thường trực đối với mọi cuộc huê tình khác
trong những năm tuổi trẻ lạnh lẽo của tôi. Cái tinh thần và cái
thể xác hòa quyện vào nhau trong chúng tôi với một độ hoàn
hảo đến nỗi lớp trẻ thời nay với đầu óc thực dụng, xu thời và
thô sơ, khó bề hiểu nổi. Một thời gian dài sau cái chết của
Annabel, tôi vẫn còn cảm thấy những ý nghĩ của cô bồng bềnh
qua những ý nghĩ của chính tôi. Từ lâu trước khi gặp nhau,
chúng tôi đã có những giấc mơ giống nhau. Chúng tôi trao đổi
đủ mọi chuyện. Chúng tôi phát hiện ra những tương đồng kì
lạ. Cùng vào tháng Sáu, cùng một năm (1919), một con chim
hoàng yến lạc đàn đã loạng quạng bay vào nhà cô và nhà tôi ở
hai nước cách xa nhau. Ôi, Lolita, giá em yêu tôi như thế!
Tôi dành phần kết chương “Annabel” của đời tôi để kể về
cuộc hẹn hò đầu tiên thất bại của chúng tôi. Một đêm, Annabel
đánh lừa được sự cảnh giác độc địa của gia đình, chúng tôi tót
lên ngồi trên phần còn lại của một bức tường đá đổ nát trong
một lùm cây mimosa khẳng khiu, mảnh lá đằng sau biệt thự
của họ. Qua bóng đêm và đám cây cối, chúng tôi thấy những
hình ngoằn ngoèo trên các ô kính cửa sổ sáng đèn (giờ đây,
điểm thêm những chấm mực màu của kí ức nhạy cảm, tôi thấy
chúng giống như những quân bài - có lẽ vì “kẻ địch” đang mải
chơi bài bridge). Annabel run lên và giật thót khi tôi hôn lên
khóe môi hé mở và dái tai nóng hổi của cô. Một chùm sao khẽ
lấp lánh trên đầu chúng tôi, giữa bóng hình của những chiếc lá
thon dài; bầu trời run rẩy ấy cũng trần trụi như thân thể
Annabel dưới chiếc áo đầm mỏng. Tôi thấy mặt em dưới bầu
trời, rõ nét lạ lùng, như thể tự nó tỏa ra một làn sáng lờ mờ.
Chân em, đôi chân đẹp sống động, không khép chặt lại, và khi
tay tôi đến đúng chỗ nó tìm kiếm, một vẻ mơ màng, kì bí, nửa
khoái cảm, nửa đau đớn, hiện lên trên gương mặt trẻ thơ ấy.
Em ngồi hơi cao hơn tôi một chút, và mỗi khi, trong niềm
ngây ngất đơn độc, em thấy cần phải hôn tôi, đầu em cúi
xuống trong một động tác đờ đẫn ngái ngủ, êm ái và uể oải,
hầu như tội nghiệp, và đôi đầu gối trần quắp lấy cổ tay tôi, riết
chặt rồi lại buông ra; và cái miệng run rẩy, biến dạng vì vị
đắng nghét của một liều thuốc bí hiểm nào đó, vừa hít hơi
đánh xuýt một cái, vừa xáp lại gần mặt tôi. Em ráng làm dịu
bớt nỗi khắc khoải yêu đương, trước hết bằng cách chà mạnh
cặp môi khô vào môi tôi; rồi người yêu dấu của tôi rời ra với
một động tác bồn chồn, hất ngược tóc ra sau gáy, rồi lại lầm lì
xáp tới, hé miệng cho tôi ngốn thỏa thuê, trong khi, với một sự
hào phóng sẵn sàng dâng hiến cho em tất thảy - trái tim, cổ
họng, gan ruột - tôi để em nắm lấy cây vương trượng của niềm
đam mê của tôi trong bàn tay vụng về của em.
Tôi còn nhớ cái mùi của một loại phấn tắm - tôi đồ là
Annabel đã lấy trộm của chị hầu phòng người Tây Ban Nha
của mẹ cô - một mùi thơm nhàn nhạt, đượm hương xạ, rẻ tiền.
Nó quyện với mùi bích qui của thân thể cô, và nhục cảm bỗng
dâng đầy trong tôi suýt ứa ra nếu không có một tiếng động bất
chợt ở bụi cây bên cạnh - và trong khi chúng tôi buông nhau
ra, mạch máu giần giật, hồi hộp nghe chừng xem có phải một
con mèo đi hoang, thì từ phía nhà, mẹ cô cất tiếng gọi với một
âm sắc mỗi lúc một cuống cuồng hơn - và bác sĩ Cooper lặc lè
tập tễnh đi ra vườn. Nhưng cái lùm cây mimosa ấy - cái làn
sương-sao ấy, cái cảm giác tê tê ấy, ngọn lửa ấy, cái chất dịch
ngòn ngọt ấy và cái nhói đau ấy vẫn còn lại trong tôi và cô gái
qườ quạng chân tay bên bãi biển, cô gái với chiếc lưỡi cuồng
nhiệt ấy từ đó cứ ám ảnh tôi hoài - cho đến tận hai mươi bốn
năm sau, khi, cuối cùng, tôi giải được bùa mê ấy bằng cách
hóa thân cô vào một cô gái khác.
5
Những ngày thanh xuân của tôi, khi tôi nhìn lại, dường như
bay khỏi tôi trong một xoáy lốc những mảnh nhờ nhạt lặp đi
lặp lại không cùng, tựa những mớ giấy lụa nhàu nát quay
cuồng thành một cơn bão tuyết ban mai mà một hành khách
[22]
ngồi toa quan sát
có thể nhìn thấy phấp phới đằng sau đoàn
tàu. Trong quan hệ tình dục với đàn bà, tôi bao giờ cũng thực
dụng, mỉa mai và nhanh gọn. Khi còn là sinh viên ở London
và Paris, với tôi, gái làm tiền là đủ. Việc học tập của tôi tỉ mỉ,
miệt mài, tuy nhiên không đạt kết quả gì đặc biệt. Thoạt đầu,
tôi tính kiếm một học vị về khoa tâm thần như nhiều tài
năng manqué* (bất thành); nhưng khốn nỗi, tôi lại còn manqué
hơn họ: tôi cảm thấy quá nặng nề, bác sĩ ạ, một sự kiệt sức kì
lạ; và tôi bèn chuyển qua văn học Anh, cái lĩnh vực nơi biết
bao nhà thơ bất thành danh, cuối cùng, đã trốn vào để thành
những giáo sư đóng bộ com lê “tuýt”, phì phèo tẩu thuốc. Paris
rất hợp với tôi. Tôi bàn luận về phim Xô viết với những người
[23]
lưu vong. Tôi ngồi với những cha tính dục đồng giới ở tiệm
cà phê Deux Magots. Tôi đăng những bài tiểu luận ngoắt
ngoéo trên những tờ báo không mấy ai biết đến. Tôi phóng
tác:
… Tha hồ cho Fraülein von Kulp
ngoái lại, tay đặt trên nắm cửa
Tôi chẳng theo nàng đâu. Cũng chẳng theo Fresca. Hay con
[24]
Hải ấu kia
Một bài viết của tôi nhan đề “Chủ đề Proust trong một bức
thư của Keats gửi Benjamin Bailey” bị sáu, bảy vị học giả
cười giễu sau khi đọc xong. Tôi xoay sang viết một
cuốn Histoire abrégée de la poésie anglaise* (Lược sử thơ
Anh) cho một nhà xuất bản nổi tiếng, và sau đó bắt tay vào
soạn cuốn sách giáo khoa về văn học Pháp cho sinh viên nói
tiếng Anh (với những so sánh rút ra từ các tác giả Anh); công
trình này làm tôi bận bịu suốt những năm 1940 - và tập cuối đã
gần như sẵn sàng để in khi tôi bị bắt.
Tôi kiếm được một việc làm: dạy tiếng Anh cho một nhóm
người lớn ở Auteuil. Rồi một trường nam sinh tuyển dụng tôi
trong vài mùa đông. Thi thoảng, tôi lợi dụng quan hệ với một
số nhân vật trong giới hoạt động xã hội và tâm lí trị liệu để
bám càng theo họ đi thăm một số cơ sở khác nhau như cô nhi
viện hoặc trường cải huấn, ở đó ta có thể tha hồ ngắm những
bé gái dậy thì với rèm mi dày xoắn vào nhau, những bữa tiệc
mắt thoải mái không sợ bị ai bắt lỗi như chỉ có trong mơ.
Bây giờ, tôi muốn giới thiệu ý niệm sau đây. Trong khung
tuổi từ chín đến mười bốn, đôi khi có những bé gái, mà dưới
mắt một số du khách gấp đôi hoặc gấp nhiều lần tuổi bị hớp
hồn, để lộ ra bản chất đích thực của mình, bản chất ấy không
đậm tính người, mà mang tính tiểu nữ thần (có nghĩa là quỉ
quái); và những mẫu người đặc tuyển ấy, tôi đề nghị gọi là
“tiểu nữ thần”.
Xin chú ý là tôi dùng từ biểu thị thời gian chứ không biểu
thị không gian. Thực tế, tôi muốn độc giả coi “chín” và “mười
bốn” như những đường biên - những bãi tắm lấp lánh như
gương soi và những tảng đá hồng hồng - của một hòn đảo thần
tiên, nơi các tiểu nữ thần của tôi thường lui tới, bốn bề là biển
mênh mông mù sương. Giữa hai giới hạn tuổi ấy, phải chăng
mọi bé gái đều là tiểu nữ thần? Dĩ nhiên là không. Nếu thế thì
bọn tôi, những kẻ nắm rõ ngọn ngành, những kẻ độc hành,
những kẻ cuồng si tiểu nữ thần, đã hóa dại từ lâu rồi. Sắc đẹp
cũng không phải là một tiêu chí để xác định; và sự phàm tục,
hoặc, ít nhất, cái mà một cộng đồng nhất định nào đó quen gọi
thế, không nhất thiết làm giảm thiểu một số đặc tính bí ẩn, cái
duyên chết người, cái vẻ quyến rũ biến hóa, thoắt ẩn thoắt
hiện, xảo trá đến tan nát lòng, nó tách biệt tiểu nữ thần với
những bạn cùng tuổi vốn bội phần phụ thuộc vào cái thế-giớikhông-gian của những hiện tượng đồng thời, chứ không mấy
liên quan đến cái cù-lao-thời-gian thần tiên vô hình nơi Lolita
chơi nhởn với đồng loại. Trong cùng một khung tuổi, số lượng
những tiểu nữ thần đích thực cực kì nhỏ hơn số lượng các bé
gái tạm thời chưa đẹp, hoặc chỉ dễ coi, hoặc “xinh xắn”, hoặc
thậm chí là “dịu dàng” và “hấp dẫn”, những bé gái bình
thường, mũm mĩm, không eo, da mát lạnh, bụng tròn nây và
bím tóc vắt ve, rành rành cốt cách người, lớn lên có thể (hoặc
không thể) trở nên sắc nước hương trời (hãy nghĩ đến trường
hợp những cô béo lùn xấu xí đi tất đen, đội mũ trắng, bỗng
nhiên hóa thành minh tinh màn bạc lừng lẫy). Hãy đưa tấm
ảnh chụp một tốp nữ học sinh hay nữ hướng đạo sinh cho một
người đàn ông bình thường và đề nghị anh ta chỉ ra cô nào
xinh nhất; chưa chắc anh ta đã chọn tiểu nữ thần trong đám ấy.
Bạn phải là một nghệ sĩ kiêm một gã khùng, một con người
sầu muộn vô biên mang một bọng kịch độc trong thận và một
ngọn lửa siêu khoái lạc luôn hừng hực trong tủy sống (ôi, bạn
phải co mình và che đậy khốn khổ như thế nào!) mới có thể
nhận ra ngay, bằng vào những dấu hiệu khó tả - nét lượn mềm
mại, phảng phất dáng mèo, của một gò má, cái thon thả của
một bắp chân mơn mởn lông tơ, và những chi tiết khác mà sự
xấu hổ và tuyệt vọng cùng những giọt nước mắt trìu mến
khiến tôi không dám kể ra - tiểu quỉ độc hại chết người giữa
những đứa trẻ lành mạnh, cả đám này không nhận ra em, và
bản thân em cũng không ý thức được quyền lực huyền hoặc
của mình.
Ngoài ra, vì ý niệm thời gian đóng vai trò kì diệu đến thế
trong chuyện này, người nghiên cứu chớ nên ngạc nhiên khi
biết rằng phải là một khoảng cách, không bao giờ dưới mười
năm, theo tôi nghĩ, thường là ba hay bốn mươi, thậm chí chín
mươi năm trong một số trường hợp nổi tiếng, giữa cô gái và
người đàn ông, mới khiến cho người này gục ngã dưới sức
quyến rũ của tiểu nữ thần. Đây là vấn đề chỉnh tiêu cự, vấn đề
một khoảng cách nào đó mà con mắt nội tâm rạo rực muốn
vượt qua, và một sự tương phản nào đó mà tâm trí hào hển
cảm nhận với một khoái thú đồi bại. Khi tôi là một đứa trẻ và
bé Annabel của tôi là một đứa trẻ, em tuyệt nhiên không phải
là một tiểu nữ thần đối với tôi; chúng tôi bằng vai phải lứa với
nhau và tôi là một tiểu dương thần chính danh trên cái cù-laothời-gian thần tiên ấy; nhưng hôm nay đây, vào tháng Chín
năm 1952 này, sau khi hai mươi chín năm đã trôi qua, tôi nghĩ
tôi có thể thấy rõ ở em manh nha của nữ tiểu yêu định mệnh
trong đời tôi. Chúng tôi yêu nhau bằng một tình yêu sớm sủa
mà dữ dội đến mức nhiều khi có thể hủy hoại bao quãng đời
trưởng thành. Tôi là một gã trai trẻ cường tráng nên tôi đã
sống sót; nhưng chất độc vẫn còn lại trong vết thương và vết
thương không bao giờ đóng sẹo, và rồi tôi trưởng thành giữa
một nền văn minh trong đó một người đàn ông hai mươi lăm
tuổi được phép tán tỉnh một thiếu nữ mười sáu, nhưng không
phải là một bé gái mười hai.
Thế nên chẳng có gì lạ là quãng đời trưởng thành ở châu Âu
trong cuộc sinh tồn của tôi, tỏ ra hai mặt một cách quái đản.
Bề ngoài, tôi có những quan hệ gọi là bình thường với một số
phụ nữ trần tục vú to như quả bầu hay trái lê; bên trong, tôi bị
thiêu dần thiêu mòn bởi lò lửa địa ngục của nỗi thèm khát bị
kiềm chế đối với mọi tiểu nữ thần chợt gặp mà kẻ hèn nhát tôn
trọng luật lệ là tôi...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





