CHÀO XUÂN MỚI
Khu vuon mua ha Kazumi Yumoto 1.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:54' 05-07-2025
Dung lượng: 1'016.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:54' 05-07-2025
Dung lượng: 1'016.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Những tưởng mùa hè năm lớp 6 sẽ trôi đi trong êm ả, Kiyama,
Yamashita và Wakabe đều không ngờ chúng đang đứng trước
ngưỡng cửa cuộc đời. Cuộc gặp gỡ với “ông cụ”, người suốt
câu chuyện không hề được nêu tên, đã đem đến cho ba đứa trẻ
một tình bạn kỳ lạ. Có lẽ, đó là lần đầu tiên chúng kết bạn với
người lớn, và đó là lần đầu tiên chúng kết bạn với người lớn,
và đó là một mối quan hệ bình đẳng theo đúng nghĩa. Ba đứa
giúp ông cụ sửa nhà, chăm sóc vườn hoa, giặt và phơi quần
áo… bù lại chúng được ông dạy gọt lê, dạy học chữ Hán, và
trên hết, chúng học được rằng việc già đi, lưng còng xuống,
mặt nhiều nếp nhăn cũng mang nhiều ý nghĩa. Từ đây, ba đứa
trẻ dần phải tự đối mặt với những thắc mắc của chính bản thân
chúng về cuộc sống, những điều mà, có khi sống gần trọn cuộc
đời người ta vẫn chưa hiểu nổi.
“Cuốn sách kể về sự ra đi nhưng cùng lúc khơi gợi niềm
khao khát nắm bắt cái đẹp thuần tuý khi được sống.”
— School Library Journal.
“Sự khác biệt của thời gian không làm hao mòn tính bất
định của cuộc sống, đó là điều mà Kazumi Yumoto truyền tải
cho độc giả qua giọng văn nên thơ đan xen những tình tiết
thâm trầm hài hước.”
— Publishers Weekly
“Giọng kể sâu lắng và trong trẻo giúp ta cảm nhận rõ nét
về một nền văn hóa lạ kỳ. Qua những dòng ngẫm nghĩ thơ trẻ
nhưng chẳng hề ngây ngô, suy tư của dân tộc ấy [Nhật Bản]
như đang đến gần hơn với độc giả.”
— www.literaturfestival.com
Kazumi Yumoto sinh năm 1959 tại Tokyo và theo học khoa
sáng tác tại Đại học Âm nhạc Tokyo. Trong khoảng thời gian
đó, cô từng viết lời cho các vở opera, kịch nói trên sóng phát
thanh và truyền hình. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của của
Kazumi - Khu vườn mùa hạ (Natsu no niwa) xuất bản lần đầu
năm 1992 đã nhanh chóng giành được thành công ở trong và
ngoài nước. Năm 1996, Khu vườn mùa hạ được đề cử Giải
thưởng văn học thiếu nhi Đức (German Juvenile's Literature
Prize), và năm 1997 giành giải văn học thiếu niên danh giá
hàng đầu của Mỹ là Boston Globe Horn Award. Cuốn tiểu
thuyết từng được dựng thành phim năm 1996. Kazumi Yumoto
hiện đang sống và sáng tác tại Tokyo.
Dịch từ nguyên bản tiếng Nhật, NATSU NO NIWA của
Kazumi YUMOTO
Xuất bản theo hợp đồng nhượng quyền giữa tác giả Kazumi YUMOTO và Nhã
Nam, thông qua Japan Foreign-Rights Centre, 2008
Bản quyền tiếng Việt © Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam, 2010.
Chế bản này được thực hiện bởi những thành viên nhóm Romance Book Project:
Minh Đức - Nini Quynh - Bui Nguyen Quynh Nhu
*
Bản quyền ebook © Romance Book, 2013.
Dự án: 25 | fb.com/romanbook
1
Từ đầu tháng Sáu đến giờ, trời cứ mưa suốt. Hôm nay cũng là
một ngày mưa rả rích. Ngày mở cửa bể bơi phải dời sang ngày
mai. Tôi lơ đễnh nhìn con ma lá ngoài cửa sổ. Con ma lá là
một cái cây có lá hình lòng bàn tay, to cỡ bằng quả bí ngô,
cành vươn dài đến tận phòng học trên tầng hai. Cứ mỗi đợt
mưa nó lại dài thêm. Mùa đông thì khô quắt queo ra đấy,
nhưng đến độ xuân nó liền hồi sinh. Và khi mùa hè đến gần,
nó đã kịp dài ngoằn ngoèo ra như một con yêu quái thực sự.
Hai năm trước, tôi đã bí mật đặt cho nó cái tên là “con ma
lá”. Lúc đó, tôi vẫn còn là một đứa thấp tì chứ chưa bị trêu là
“cao kều”, răng cửa cũng chưa thay hết, chẳng hề khấp khểnh
và to quá cỡ như bây giờ. Tóm lại, hai năm trước tôi vẫn còn
là một cậu bé dễ thương, khổ sở với những suất ăn dở không
thể nuốt nổi ở trường. Trong mắt tôi khi ấy, các anh học sinh
lớp Sáu chơi bóng chày trông thật mạnh mẽ, to lớn và cả đáng
sợ nữa.
Thằng nhóc dễ thương là tôi hai năm trước ấy đã vô cùng
say mê cái sinh vật mới mẻ mà mình phát hiện ra. Phòng học
của tôi hồi đó nằm ngay dưới phòng học hiện giờ. Mỗi sáng,
hễ bước vào lớp tôi liền chạy đến kiểm tra con ma lá. Tôi
tưởng tượng vào ban đêm, lúc không bị ai nhìn, cái cây sẽ to
dần lên, nó sẽ mở ra hai hốc mắt như mắt của mấy quả bí
Halloween trong bóng tối. Còn tôi, cái đứa của hai năm trước
vừa rướn người ngước nhìn vừa hồi hộp tự hỏi “không biết sẽ
thế nào khi cái cây này chạm được tới tầng hai?”, giờ đang
ngồi trong chính phòng học trên tầng hai này rồi. Dù không trở
nên mạnh mẽ đáng sợ như mình từng mường tượng trước kia,
tôi cũng đã thành học sinh lớp Sáu.
Đã chán con ma lá, tôi chuyển hướng nhìn vào trong lớp.
Thằng Yamashita mập nghỉ học đã được ba hôm rồi. Nó cũng
không xuất hiện ở buổi kiểm tra của lớp học thêm hôm Chủ
nhật, thế là đúng bốn hôm tôi chưa gặp nó. Hôm thứ Bảy gặp
nhau, nó trông chẳng có vẻ gì là bị cảm cúm, rốt cuộc nó bị
làm sao nhỉ?
Chỗ của Yamashita nằm chéo ngay trước mặt tôi. Có thể
thấy rất rõ trong ngăn bàn nó vẫn còn một cuốn truyện tranh.
Thầy giáo mà thấy thì thể nào cũng tịch thu ngay. Nó lúc nào
cũng phải để quên thứ gì đó.
“Này, Kiyama!”
Nguy rồi, tôi bị thầy gọi. Tôi nhấc mình lên chậm hết
mức.
“Nói thử xem nào.”
“Ơ!”
“Không phải 'ơ' đâu.”
Wakabe ngồi đằng sau, vừa chọc chọc vào mông tôi vừa
khẽ nhắc câu trả lời: “Tròn.”
“Tròn ạ.”
“Ừ. Rồi gì nữa?”
“Không góc cạnh.” Wakabe lại nhắc.
“Không góc cạnh ạ.”
“Ờ, tròn, không góc cạnh. Giống như tôi ấy nhỉ?” Thầy
vừa hỏi vừa nhìn tôi. Bị hỏi vặn như thế tôi biết phải làm sao?
“Thế sao nữa?”
Sao nữa đây? Không có câu trả lời nào từ Wakabe ngồi
đằng sau. Tôi cuống hết cả lên. Tròn mà không có góc cạnh là
gì cơ chứ? Là người nào đó chăng?
“Là tướng quân Tokugawa Ieyasu ạ.”
Trong lớp rộ lên tiếng cười.
“Đồ ngốc! Cậu tưởng đây là giờ học gì?”
“Dạ?”
“Tròn và không góc cạnh là đặc điểm của đá cuội trong
lòng đất. Đừng có mơ màng nữa!”
Chết tiệt thật, mình bị mê sảng à? Tôi rón rén ngồi xuống
trước ánh mắt của lũ bạn đang cười rúc rích.
Chậc, nói chung là Yamashita không ổn lắm. Tôi thò
chân, khẽ đẩy ghế của Yamashita để không ai thấy được cuốn
truyện tranh trong ngăn bàn. Wakabe chọc vào lưng tôi.
“Mày có biết tại sao Yamashita nghỉ học không?”
“Tại sao thế?”
“Bà nó mất rồi. Bà ở quê ấy.”
“Hả?”
Tôi hoàn toàn không biết Yamashita có bà. Thực ra thì ai
mà chẳng có bà, nhưng nó chưa bao giờ kể chuyện về bà nó,
mà tôi cũng chưa từng nghe rằng nó có bà sống ở quê.
“Mẹ tao kể là đám tang của bà nó đang được tổ chức.”
“Vậy à.”
“Mày đến đám tang bao giờ chưa?”
“Chưa.”
“Tao cũng chưa. Ở khu tập thể nhà tao, hễ có ai mất thì
chỉ có mẹ tao qua viếng buổi tối thôi.”
“Tức là mày muốn đi hả?”
“Tao đâu có bảo là tao muốn đi đâu. Ái đau!”
“Wakabe! Kiyama!” Giọng nói giận dữ của thầy giáo vút
lên.
Vừa chỉnh lại gọng kính bị lệch, Wakabe vừa xoa trán.
Viên phấn của thầy đã trúng mục tiêu.
“Hai cậu vừa nói chuyện. Đứng lên!”
***
Ngày hôm sau Yamashita đến lớp. Tôi bắt gặp dáng lưng
của nó ở cổng trường.
“Này, mập!” Tôi gọi nó rồi mới ngớ ra là đã lỡ mồm.
Yamashita quay lại, đúng như tôi nghĩ, khuôn mặt nó
trông rất mệt mỏi. Đôi mắt bé xíu luôn hấp háy của nó đờ đẫn.
Tôi gọi là mập mà nó cũng chẳng cãi lại và chạy đến như
thường ngày. Tôi thấy hối hận, dù sao nó cũng vừa mới từ đám
tang quay về mà.
Hai đứa cùng im lặng đi vào trường. Có lẽ nên nói gì đó
an ủi nó, nhưng mà biết nói gì bây giờ?
“Này, mập! Bà mày mất rồi hả?”
Đồ ngốc ạ! Wakabe đúng là thằng ngốc. Nó đu người lên
cửa sổ tầng hai trông cứ như sắp lộn cổ ra ngoài, gọi toáng lên.
Thằng đó chẳng biết giữ ý gì hết. Chẳng bao giờ!
Trong một khoảnh khắc, Yamashita thoáng lộ ra vẻ ngỡ
ngàng, nhưng liền ngay sau đó, nó hét to đáp lại “Ừ, thế đấy!”
với vẻ rất bình thường. Tôi hoàn toàn không hiểu nổi cảm xúc
của Yamashita. Thằng Wakabe không biết suy nghĩ gì thì tao
hiểu nhưng còn mày, Yamashita, người mất là bà mày cơ mà.
Đừng đáp lời thản nhiên như thế chứ!
Nhưng có lẽ chính tôi cũng chẳng hiểu gì thật. Tôi chưa
từng đến đám tang bao giờ. Ông tôi mất từ trước khi tôi ra đời.
Đại loại là tôi chẳng biết chút gì về cảm xúc khi có người thân
nào đó chết đi.
***
Can cái tội vươn người ra quá mức, Wakabe đánh rơi cặp
kính quý giá đứng thứ hai chỉ sau mạng sống của nó xuống
đất, cặp kính vỡ tan. Nó mà không có kính thì chả đi được lấy
một bước. Nó dò dẫm lần tìm cửa lớp liền bị hai thằng Sugita
và Matsushita vây quanh trêu chọc, cuối cùng khóc òa lên.
Wakabe được mẹ đến đón về sớm nên cũng đành thôi không
hỏi Yamashita về vụ đám ma. Tôi thì chẳng biết nên bắt đầu
câu chuyện như thế nào. Còn Yamashita vẫn như thường ngày,
tức là đến hết giờ tập thể dục nó vẫn chẳng lộn xà được, vẫn
không đọc được chữ Hán trong giờ quốc ngữ và đánh vỡ tiêu
bản lúc làm thực nghiệm trong giờ tự nhiên.
Nhưng cũng có lúc nó thần người ra, cứ chăm chăm nhìn
vào một điểm trên tường, đến giờ ăn còn không xin thêm dù
có món yakisoba mà nó thích nhất.
***
Chuyện xảy ra khi kết thúc giờ học thêm hôm đó.
Ba đứa chúng tôi như thường lệ, vừa ngồi xuống ghế đợi
ở trạm xe buýt vừa cắm ống hút vào cốc sữa chua mua từ cửa
hàng hamburger gần đó. Wakabe vẫn đến lớp học thêm dù tôi
đã tưởng là nó không đến nổi. Nó đeo tạm một cặp kính được
bác sĩ chỉnh lại cho vừa: một cặp kính bự màu bạc, tròn xoe.
Trông mặt nó thật kinh khủng, cứ như người ngoài hành tinh
có mắt khổng lồ vậy.
“Đám tang ra sao hả mày?” Wakabe hỏi. Chắc chắn vì
muốn hỏi chuyện này nên nó mới đến lớp học thêm.
“Sao là sao?”
“Có thú vị không?”
“Thú vị làm sao được,” tôi nói. “Dù tao cũng không biết
nó như thế nào.”
“Ừ.” Yamashita trả lời. “Chẳng có gì thú vị đâu. Mọi
người mặc toàn áo đen. Kinh cầu hồn thì chán ngắt! Các chú
các bác chỉ biết uống rượu trong khi các cô bận cuống lên. Lũ
nhóc thì cứ gọi tao là mập này nọ.”
“Bọn tao cũng toàn gọi mày thế còn gì?” Wakabe nhe
răng cười hì hì, khoe hết cả lợi trông đến kỳ cục. Một kẻ đeo
kính cận màu bạc dày cộm cười hà hà trong bóng tối. Điềm gở
rồi! Sẽ có chuyện đáng sợ xảy ra mất thôi!
“Vậy mày đột nhiên bị mấy đứa lạ hoắc gọi vậy thử
xem!”
“Thế thì khó chịu thật.” Wakabe cũng thôi cười.
“Đám tang như vậy cũng chẳng có gì đáng nói cả. Nhưng
mà…” Yamashita nuốt nước bọt đánh ực một cái.
“Người chết bị đem đi thiêu. Quan tài được đem đến một
chỗ gọi là bãi hỏa táng, rồi được đẩy vào một cái lò rất to. Rồi
rầm một cái. Cửa lò đóng lại. Và một tiếng đồng hồ sau đó…”
Đến đoạn “Và một tiếng đồng hồ sau đó…” tôi nhoài hẳn
người lên nghe. Tại tiếng của Yamashita cứ nhỏ dần đi.
“Chỉ còn lại xương. Tất cả cháy hết, chỉ mỗi xương còn
sót lại. Trắng, lụn vụn. Toàn những mảnh bé xíu.”
“Thiêu những một tiếng cơ à?”
“Ừ.”
“Chắc phải nóng lắm nhỉ? Thế có cháy bùng lên không?”
Yamashita nghĩ ngợi một chút.
“Chỉ có một chút khói trắng bay ra từ cái ống khói rất to
thôi. Bố tao bảo ngày xưa khói nhiều hơn. Hình như là cháy
âm ỉ chứ không phải kiểu cháy bùng lên.”
Wakabe bắt đầu rung đùi. Đấy là tật xấu của nó. Trò rung
đùi của nó hoạt động như bom hẹn giờ mà người ta không biết
lúc nào sẽ phát nổ. Mẹ tôi từng bảo “Wakabe kỳ quái quá”. Mà
“kỳ quái” nghĩa là gì nhỉ? Có lẽ là hơi hâm hâm hay đại loại
thế.
“Tất cả những mẩu xương ấy được gắp bằng đũa, bỏ vào
một cái tiểu.”
“Dùng đũa để gắp á?”
“Ừ. Đến đấy là kết thúc.”
“Đến đấy là kết thúc đám tang à? Nhưng mà…”
“Mày có khóc không?” Tôi hỏi.
“Không.”
“Đấy là bà mày mà. Mày không buồn à?”
“Vì suốt từ hồi còn ẵm ngửa đến giờ tao đâu có gặp bà.
Như thế thì có khác gì người dưng đâu đúng không?”
“Vậy à?”
“Tao cũng chưa từng về quê bao giờ. Xa lắm.”
Nói mới nhớ, tôi cũng lâu lắm rồi không gặp bà nội. Bà là
người như thế nào nhỉ?
“Mà này,” giọng Yamashita khe khẽ. “Chúng mày đã nhìn
thấy người chết bao giờ chưa?”
“Hả? Thấy làm sao được.” Wakabe nói xong liền khịt khịt
mũi rồi im lặng.
Tôi nhận ra rằng, kể cả lúc biết chuyện Yamashita đi dự
đám tang, cả lúc nghe chuyện về hài cốt vừa nãy, có trong mơ
tôi cũng không thể tưởng tượng ra chuyện nó đã nhìn thấy
“người chết thực sự”.
“Mọi người thả hoa vào trong quan tài. Lúc đó…”
“Lúc đó sao?” Đằng sau cặp kính, mắt của Wakabe sáng
rực lên.
“Mày thấy gì? Hả? Hả? Kể nhanh nhanh lên!”
Wakabe giậm gót giày bành bạch xuống đất, ra điều sốt
ruột lắm.
“Cũng không có gì đâu…” Yamashita ngập ngừng nói.
“Tao nhìn thấy trong lỗ tai và mũi bà tao có nhét gì đó như là
bông ấy.”
“Trong mũi có bông? Tại sao thế nhỉ?” Tật rung đùi của
Wakabe lại tái diễn.
“Trong mũi và tai có bông… Trong mũi và tai có bông…”
“Wakabe, yên lặng di!”
Wakabe im miệng. Thay vào đó, nó rung đùi mạnh hơn,
cái ghế băng mà chúng tôi đang ngồi phát ra những tiếng lạch
cạch.
“Tao cũng thả hoa cúc vào trong quan tài với mọi người.
Thế rồi…”
Bà lão ngồi chờ xe buýt ở ghế bên cạnh ngờ vực nhìn về
phía chúng tôi.
Tôi túm chặt lấy vai Wakabe.
“Các cánh hoa bay lả tả trong không trung. Có một cánh
hoa rơi xuống mặt bà tao.”
“Rơi ngay trên mũi.”
Không hiểu sao tôi cứ nghĩ cánh hoa ấy phải có màu
vàng.
“Tao đã nghĩ là phải phủi cánh hoa. Nhưng tao sợ không
dám đưa tay ra. Thế rồi có người đậy mất nắp quan tài lại. Rồi
người ta đóng đinh vào. Dùng đá nhé. Cứ kêu côm cốp ấy.”
“Tưởng gì. Có vậy thôi à?” Wakabe nói, rồi yếu ớt thêm
vào, “Chả có gì hay.”
Nó nói “Có vậy thôi à?” nhưng giọng lại run run.
“Wakabe, im đi!” Tôi sẵng giọng mắng nó.
“Tối hôm đấy, tao nằm mơ.” Yamashita nói xong rồi im
bặt.
“Giấc mơ đáng sợ lắm à?”
“Ừ… Chúng mày biết ở nhà tao có con hổ bông to đùng
đúng không?”
“Ừ.”
“Hồi nhỏ tao toàn dùng nó để làm đối thủ vật nhau thôi.”
Tôi rất muốn nói là “Bây giờ mày vẫn làm vậy mà” nhưng
lại thôi.
“Trong mơ, tao thấy mình đang vật nhau với nó. Nhưng
lúc sau tao để ý, đó lại không phải là con hổ bông ấy nữa…
mà là xác của bà tao.”
“U oa ha ha ha ha!”
Wakabe cắt ngang. Nó cười phá lên như bị ai cù.
Yamashita lườm nó một cái rồi lại tiếp tục câu chuyện, vờ
không để ý.
“Thứ đó… giống hệt như thú nhồi bông. Hoàn toàn chẳng
có phản ứng gì cả. Tao đá một cái thì chỉ thấy lún vào thôi. Nó
cũng chẳng kêu đau gì hết. Thứ đó là đồ vật. Là vỏ thôi.”
“Là vỏ thôi ?”
Yamashita gật gù. “Thứ đó đáng sợ lắm!”
Đúng là khi nghe câu ấy, tôi rợn hết cả tóc gáy. Dù đã xem
rất nhiều cảnh giết người lẫn xác người chết trên ti vi và
truyện tranh, tôi vẫn chưa từng cảm thấy như thế bao giờ.
“Chết rồi thì sẽ ra sao nhỉ? Chẳng phải như thế là hết sao?
Hay là…”
“Có ma đấy.” Yamashita mím môi nói. “Chỉ có điều là…
ma ấy… từ trước đến giờ tao vẫn nghĩ chỉ giống một thứ nhẹ
bỗng thôi. Nhưng mà…”
“Nhưng mà gì?”
“Chắc chắn là nặng lắm. Rất nặng. Cứ như bao cát ấy.”
Nếu người chết chỉ là một cái vỏ đúng như Yamashita nói
thì ma cũng chỉ như đồ vật mà thôi. Không giống như linh hồn
hay ma trơi mà là thứ có thể tính được cân nặng như muối, đài
cát xét hay túi rác… Mình chẳng muốn nhìn thấy số đo trên
cái cân mà một con ma leo lên chút nào, tôi nghĩ. Tôi cảm thấy
thật khó chấp nhận việc một con ma lại có cân nặng.
“Giá tao không phải đi dự đám tang thì tốt quá.”
Yamashita nói cụt lủn, đoạn đá mũi giày xuống mặt đất.
Đột nhiên, Wakabe nhảy dựng lên, đứng giạng chân trên
ghế băng. Bà cụ ngồi ở ghế bên cạnh liền ôm ghì cái xắc tay
vào lòng, tỏ vẻ dè chừng. Wakabe vừa cười vừa gào lên như bị
dở hơi.
“Ta là người bất tử đây!”
***
Rất lâu sau đó chúng tôi không nhắc đến chuyện bà của
Yamashita nữa và lại tiếp tục những ngày bình thường.
Yamashita đã hoàn toàn trở lại như trước. Còn Wakabe, đứa có
ít nói hơn một chút thì cũng không có gì khác biệt, ngoại trừ
vụ “phát tác” ở bến xe buýt kia ra, nó có vẻ như đã quên
chuyện đám tang.
Nhưng vào hôm Wakabe thay cặp kính mới… Sau giờ tan
học, tôi và Yamashita bị gọi tới bãi đậu xe của chung cư nhà
nó.
“Chuyện quan trọng là chuyện gì thế?”
Tôi có dự cảm chẳng lành vì Wakabe tỏ ra phấn khích quá
độ.
“Này, thẳng từ bến xe rẽ vào có một lớp thư pháp đúng
không?”
“À, hội quán Negishi ấy hả?”
Thay cho những ngôi nhà cổ còn sót lại trong lãng quên,
nơi đó lại lộn xộn hàng đống những căn nhà gỗ tạm bợ mái
ngang ọp ẹp đến độ có muốn nịnh cũng không thể khen đẹp.
“Trong ngôi nhà ở bên cạnh chỗ đó có một ông cụ sống
một mình đấy.”
“Ồ!”
Wakabe hết nhìn Yamashita lại nhìn sang tôi bằng ánh mắt
chứa chan hy vọng. Nhắc tới Yamashita, dường như nó cũng
có dự cảm xấu giống tôi, suốt từ nãy đến giờ chẳng nói câu
nào.
“Thế thì sao?” Tôi hỏi.
“Thế thì sao cái gì? Tao có nghe mẹ tao nói chuyện với bà
bác hàng xóm. Họ nói là 'ông cụ ấy nghe đâu đã chết rồi cơ
mà?' ”
Tôi không hiểu nổi chuyện mà Wakabe định nói.
“Kiyama, mày chưa từng thấy người chết mà.”
“À… à…”
“Tao cũng vậy.”
“Mà thế thì sao chứ?”
“Tức là…” Mắt kính của Wakabe lóe lên lấp lánh. Trông
vô cùng dễ sợ! “Mày nghĩ một người già sống một mình, một
ngày nọ đột nhiên chết thì sẽ thế nào?”
“Thế nào thì… nếu chết cô độc thì…”
Sẽ như thế nào nhỉ. Không có bạn bè cũng không có gia
đình, nếu muốn nói lời trăng trối cũng chẳng có ai nghe. Có lẽ
những lời đó sẽ hòa vào không khí trong căn phòng và nhanh
chóng tan biến. Giống như chẳng nói gì. Cả những lời như
“Tôi không muốn chết”, “Khó chịu quá”, “Đau quá”, “Khổ
quá” hay “Tôi đã rất hạnh phúc” cũng không thể chia sẻ.
“Mình sẽ khám phá việc ấy.”
“Hả?”
“Vụ ông cụ chết một mình ấy!”
“Ai làm?”
“Bọn mình chứ ai!”
“Tao á? Tao đi về!” Yamashita đột nhiên hét lên. Nhưng
Wakabe đã nhanh chóng túm lấy cổ áo nó, nhất mực không
buông.
“Mày mà không đi thì gay cho tụi tao lắm. Vì chỉ có mình
mày là đứa từng thấy người chết thôi.”
“Không chịu đâu! Không chịu đâu! Không chịu đâu!”
“Được rồi. Tụi tao sẽ theo dõi ông cụ ấy. Còn việc ông ấy
còn sống hay không thì, Yamashita, chắc mày là người hiểu rõ
nhất.”
Yamashita đáng thương trông như sắp òa khóc. Wakabe
đúng là hâm mất rồi.
“Mày đang nghĩ cái gì vậy hả?” Tôi chán nản nói. “Lũ
kền kền ăn xác động vật chết. Hễ tìm thấy động vật sắp chết là
chúng đến đợi sẵn, bay vòng vòng phía trên hí hửng chờ kiếm
một bữa. Mày là kền kền hả? Đồ ngớ ngẩn kia!”
Nghe tôi nói vậy, Wakabe gục đầu xuống, tiu nghỉu hẳn.
Yamashita đuợc thả cổ áo ra liền ho khù khụ.
“Tao…” Wakabe nói, giọng yếu ớt. “Suốt từ đó đến giờ
tao toàn nằm mơ thấy bà của Yamashita. Tao chưa từng gặp bà
ấy bao giờ, vậy mà trong mơ bà ấy cứ đổ lên người tao! Nặng
lắm, tao không cử động nổi. Hoặc có khi tao choàng tỉnh, xung
quanh toàn là lửa. Tao thấy mình bị thiêu trong một đường
hầm chật chội. Tao hét lên 'Cứu tôi với, tôi còn sống' thì tỉnh
giấc!”
“À à!” Tôi bất giác thở dài. Về đoạn này thì, tối nào tôi
chẳng nằm mơ giống như vậy.
“Gần đây, tao toàn nghĩ đến chuyện về người chết, rồi
chuyện khi nào mình sẽ chết, lúc chết rồi thì sẽ thành thế nào?
Nhưng mà con người dẫu có biết khi nào mình chết thì cũng
chẳng chịu tin đâu.”
“Tao cũng nghĩ vậy.” Tôi và Yamashita đồng thanh nói.
“Thấy chưa?” Wakabe đột nhiên trông tươi tỉnh hẳn, nhìn
chúng tôi.
“Cứ quanh quẩn nghĩ tới những việc mà dù mình có biết
cũng không thể tin nổi, lại chẳng phát khùng lên ấy chứ.
Giống như việc nhịn đi tiểu ấy.”
“Ờ thì…!” Tôi nói.
“Tao chịu hết nổi rồi! Hồi trước lúc mới nghe câu 'con
người tiến bộ là nhờ vào khao khát tìm hiểu', nói thật là tao
chẳng hiểu cái quái gì cả. Nhưng ở cái tuổi mười hai này, cuối
cùng tao nhận ra rằng ngay cả tao cũng có khao khát tìm hiểu.
Hôm qua, lúc đi qua cầu… tao đã trèo thử lên lan can.”
“Ực,” tiếng Yamashita nuốt nước bọt.
“Xe điện đang rầm rập lao đến từ hướng ngược lại, tao
nghĩ nếu mình nhảy xuống thì chắc chắn sẽ bị xe điện đâm
chết ngay tức khắc. Thế rồi tao cảm thấy như có gì thôi thúc
mình nhảy xuống.'”
Trong đầu tôi, tiếng còi hiệu của đoàn tàu rúc lên gay gắt.
“Nhưng lúc đó tao lại nhớ đến tụi mày. Làm vậy thì dù có
biết chết là như thế nào cũng chẳng kể cho chúng mày nghe
được.”
Wakabe lại chìm trong một cơn cười sặc sụa như mọi khi.
“Lúc xuống khỏi lan can, nói thật tao cũng vãi cả ra
quần!”
Tôi bỗng cảm thấy có đôi chút kính nể Wakabe. Nó đúng
là hơi hâm thật, nhung cừ hơn một đứa nhát gan như tôi rất rất
nhiều. Muốn biết thì cũng phải có gan tìm hiểu.
“Cũng được!”
“Nghĩa là…” Yamashita run rẩy hỏi.
“Nhưng tóm lại…” Tôi tránh né ánh mắt như sẵn sàng ăn
tươi nuốt sống bất kỳ ai của Yamashita. “…là tuyệt đối không
gây phiền hà cho ông cụ ấy.”
“Hả?”
“Tuyệt vời! Hai thắng một rồi nhé!” Wakabe nhảy cẫng
lên.
2
Ngôi nhà trông cứ như nhà hoang không người. Tấm biển treo
ngoài cửa rời ra một nửa, rung lên cành cạch trong gió. Cửa
kính đã vỡ chỉ được dán giấy báo với băng dính. Một đống lộn
xộn không nhìn rõ thứ gì ra là gì, những thùng gỗ muối dưa
nhiều năm không dùng đọng đầy nước mưa, những bó báo và
túi rác được xếp quanh ngôi nhà. Hành lang nhà quay ra
hướng Nam của khu vườn, nơi có một cây gạo rất to. Một cánh
cửa có nửa dưới bằng kính mờ ngăn cách mọi thứ trong nhà
với bên ngoài.
Nhìn từ con đường nằm phía Đông ngôi nhà thì không thể
thấy hết mọi thứ bên trong, dù vậy tôi vẫn đoán được khối ánh
sáng màu xanh nhấp nhoáng phía bên kia cửa kính là một
chiếc ti vi đang bật. Sắp đến tháng Bảy rồi mà ông cụ vẫn
dùng bàn sưởi. Có lẽ vì trời cứ mưa suốt, chẳng chịu ấm lên.
Nhưng tấm chăn đỏ phủ chiếc bàn sưởi đang tì vào cửa kính
kia không hiểu sao lại làm tôi cảm thấy khó chịu.
“Ông ấy còn sống!” Wakabe bám vào bức tường rêu, vừa
rướn người lên nhìn vừa nói.
“Mày đó,” tôi núp sau bức tường nói. “Mày có biết là theo
dõi là một việc rất cần có sự kiên nhẫn không hả?”
“Đúng, đúng, cái đó tao biết.” Yamashita nói. “Giống như
thám tử, cảnh sát hình sự mà mình thấy trên ti vi ấy, việc này
vất vả lắm.”
“Cái đó tao biết rồi!” Wakabe nói. “Bố tao là thám tử mà.
Tao cũng được nghe chán rồi ấy chứ.”
“Hả?” Ngay lập tức Yamashita nhìn Wakabe bằng ánh mắt
kính nể.
“Bố tao còn phá được vụ giết người mà ngay cả cảnh sát
cũng bó tay nhé.”
“Giỏi thế!”
“Là vụ cắt người ra từng mảnh tại tiệm cắt tóc. Cái gã
dùng kéo đâm người ấy.”
“Chẳng nhớ!”
“Thôi, không sao! Người phá được vụ đó là bố tao đây.
Chìa khóa của vụ án chính là một chiếc đĩa nhạc. Tên thủ
phạm đã bật một bản waltz tại nơi gây án. Bố tao một mình
quay lại hiện trường vào ban đêm. Trong cửa hiệu cắt tóc
không một bóng người, mùi máu vẫn còn vương vất. Khi bố
tao đặt kim lên chiếc đĩa…”
Yamashita lộ vẻ khâm phục thấy rõ, mê mẩn lắng nghe
câu chuyện của Wakabe. Những hạt mưa nhỏ lại bắt đầu rơi
xuống. Nhưng ô của ba đứa vẫn gập nguyên.
Wakabe không có bố. Nghe nói ông ấy chết khi nó vẫn
còn là một đứa trẻ. Nó kể rất nhiều chuyện về bố mình. Khi thì
nó nói bố nó là tuyển thủ bóng chày, lúc khác lại là tiểu thuyết
gia, có lúc là phi công lái máy bay. Một năm đến vài ba lần
như vậy nên những người nghe chỉ ồ lên lúc đó rồi quên ngay.
Một đứa hễ thấy trong lớp có gì phiền phức là tránh ngay như
tôi không hiểu sao lại học chung với nó từ mẫu giáo đến tận
bây giờ. Thế nên mới có kiểu phản ứng “Thằng Wakabe lại
điêu nữa rồi”. Đã thế, trên đời này lại có những đứa vừa nhớ
dai lại vừa đáng ghét.
Đó là chuyện hồi năm ngoái, lúc cả lớp tập diễn kịch.
Wakabe rất muốn diễn vai chính trong vở “Cậu bé thổi kèn”,
thế mà lại bị Sugita cướp mất. Vai chính là do thầy giáo quyết
định nhưng Sugita lại tự ứng cử, nói là “Tao rất muốn diễn vai
đấy” rồi còn ép buộc mọi người chọn nó. Wakabe đã rất tức tối
vụ đó. Khi ấy nó nói bố nó từng là diễn viên.
“Bố tao được đánh giá là diễn viên phụ có tiếng đấy. Ông
ấy không thèm lên ti vi đâu. Ông chỉ chuyên diễn trên sân
khấu thôi.”
Thế là Sugita mắt sáng rực, đốp lại ngay:
“Wakabe, bố mày không phải là phi công à?”
Nó giễu cợt Wakabe, lúc này đang há miệng mắc quai.
“Đồ bịa đặt!”
“Bố mày chắc cũng làm việc đáng xấu hổ thế này thôi.”
Đến giờ tôi vẫn không quên được khuôn mặt tức giận của
Wakabe lúc đó. Nó nghiến chặt răng, mặt tái mét, hằm hè nhìn
Sugita đến mức tưởng chừng ánh mắt nó đẩy văng được cả cái
kính. Đến cả chuyện rung đùi thường ngày nó cũng không
làm.
Hễ nhớ lại chuyện đó, tôi lại thấy đôi chút hối hận. Lần đó
chính tôi đã ôm Wakabe từ đằng sau hòng ngăn nó túm lấy
Sugita, rồi ấn nó ngồi xuống.
Nó giết thằng Sugita mất! Nghĩ vậy thôi cũng đủ khiến tôi
sợ đến độ lông tóc trên người dựng hết cả lên. Nhưng thực ra,
thay vì ngăn Wakabe, đáng lẽ tôi phải giáng cho thằng Sugita
một đấm. Tôi đúng là đồ nhát gan.
Wakabe và tôi thực sự trở thành bạn kể từ lần đó. Ngay
sau đó Yamashita nhập hội, không hiểu sao lại thành được bộ
ba. Wakabe bốn mắt, Yamashita mập, và tôi. Có một lần, hai
đứa đã đến nhà tôi cùng làm bài tập về nhà. Wakabe bị mẹ tôi
hỏi chuyện thì chỉ biết ngồi rung đùi, còn Yamashita làm nước
quả văng vung vãi khắp ghế sofa, thật tệ hại. Sau khi hai đứa
ra về, mẹ tôi bảo, “Lần sau con làm ơn đưa đứa bạn nào tốt
hơn về nhé.” Kể từ đó, tôi chẳng đưa đứa nào về nhà nữa.
“Thám tử à? Hay nhỉ!”
Yamashita mỉm cười với cặp mắt lim dim, bắt đầu đi vào
cõi mộng. Có vẻ nó đang mơ được biến thành một thám tử tư
mặc áo khoác dài, đầu đội mũ che khuất mặt.
“Nào, mình bàn kế hoạch đi thôi!” Tôi giơ cái dù vẫn
đang gập lên, Wakabe và Yamashita liền tiến tới. Trời mưa to
hơn. “Từ thứ Hai đến thứ Sáu trước khi học thêm. Sau giờ tan
học, về nhà lấy cặp đi học thêm và tập trung ở đây.”
“Thế còn bóng chày thì sao?” Yamashita hỏi.
“Mình là thám tử cơ mà.” Wakabe nói. “Với lại, chẳng
phải mày toàn ngồi làm dự bị hay sao? Giữa làm thám tử với
chơi bóng chày, mày chọn bên nào?”
“Bên nào…”
“Mày chọn bên nào?”
“Thám tử!”
“Thấy chưa?”
“Ừ.” Yamashita hơi nghiêng đầu, gật gù.
“Thế thứ Bảy thì sao?” Tôi hỏi.
“Tao… ” Yamashita lại nói.
“Chuyện gì thế?”
“Thứ Bảy tao mà không giúp trông cửa hàng là bố mẹ tao
cáu đấy.”
Nhà Yamashita có cửa hàng bán cá.
“Nói mới nhớ…” Wakabe nói.
“Kiyama, thứ Bảy tụi mình cũng phải đi bơi mà!”
“Vậy thứ Bảy, Yamashita nghỉ. Tao với mày đi bơi từ 2
giờ, thôi thì để sau đó nhé?”
“Ok!”
“Chủ nhật thì thế nào?”
“Có giờ kiểm tra ở lớp học thêm và giờ học bóng đá đấy,
làm thế nào đây?”
“Mỗi tuần giờ kiểm tra lại khác nhau nên mình sẽ quyết
định tùy theo từng ngày.”
“Được đấy.” Wakabe hỉnh mũi, gật đầu. “Nghĩ mới thấy,
Yamashita không đi học bơi, còn lại là chúng mình chung hết.
Bọn mày không thấy lạ à?”
Wakabe vừa nói xong liền kêu “A!” và chỉ tay vào tôi.
“Mày còn giờ học piano.”
“Tao bỏ rồi. Mỗi môn này thôi.” Tôi muốn tránh chủ đề
này. Mặc dù tôi học là do bị mẹ ép buộc, nhưng có một chiếc
đàn piano đặt lù lù trong nhà mà chẳng ai biết chơi thì quả
cũng ức chế thật. “Cô giáo piano của tao có em bé rồi. Từ đó
cô thay đổi tâm lý, biến thành một người khác hẳn.”
“Nếu vậy thì người chồng có lỗi.” Wakabe nói cứ như một
bà bác.
“Thế à ?”
“Chứ còn gì! Việc giáo dục con cái là việc của cả hai.
Nhưng mà…”
“Gì vậy?”
“Nói vậy tức là cô giáo đã kết hôn rồi.”
“Thế thì sao?”
“Mày chẳng từng bảo là mày sẽ cưới cô giáo dạy piano
còn gì?”
“Đồ nhiều chuyện!”
Wakabe nhớ rất dai cả những chuyện chẳng ra sao.
Chuyện đó tôi nói từ hồi còn học mẫu giáo mà nó vẫn nhớ.
“Ta ra ta ta ra ta tan…” Wakabe vừa ngân nga đoạn mở
đầu của ca khúc “Lời nguyện cầu thiếu nữ” vừa nhảy ra ngoài
trời mưa. “Cô ơi, hãy kết hôn với em!” Nó gào lên. Yamashita
ngoác miệng cười như đồ ngốc. Còn tôi nóng bừng cả tai. Tôi
chẳng đánh nổi cái bài hát “Lời nguyện cầu thiếu nữ” ấy.
***
Nhóm hai đứa chúng nó, một tên cao gầy còn một tên lại
béo lùn. Một cặp trái ngược điển hình y hệt các cặp diễn tấu
hài. Cả hai tóc đều dựng bờm xờm lên như chổi, mắt láo liên.
Không hiểu sao những con ma của tôi thường mang dáng
dấp như vậy. Hồi nhỏ, tôi rất hay nằm mơ thấy mình bị cặp ma
trái ngược nhau đó đuổi bắt. Tôi đi trong một hành lang tối
tăm không một bóng người, và chúng đã chờ sẵn ở đấy, bóng
đổ dài trên mặt đất, dưới bầu trời mịt mùng, tiến ra từ một con
đường rộng hơn, vừa cười hăng hắc vừa chạy về phía tôi. Tên
cao hơn liên tục lắc người hòng đẩy tấm thân dài như mái chèo
về phía trước, tên béo lùn thì nhảy tưng tưng như một con lật
đật. Dù bộ dạng trông rất giống các nhân vật trong truyện
tranh, chúng vẫn rất đáng sợ. Tiếng cười của chúng khiến tôi
hãi đến độ có lần tè dầm.
Sau bận tôi nghe chuyện về bà của Yamashita, hai con ma
đó lại xuất hiện trong giấc mơ của tôi. Trong bóng tối, chúng
cầm bó đuốc, bộ dạng vẫn như trước đây, vừa cười hăng hắc
vừa đảo mắt đuổi theo tôi. Bọn chúng định dùng lửa của ngọn
đuốc để thiêu chết tôi.
Chỉ vì một giấc mơ trẻ con như thế, đêm nào tôi cũng giật
mình tỉnh dậy, mồ hôi toát ra như tắm. Tự tôi cũng thấy mình
chẳng ra làm sao.
Nhưng cũng có một điểm khác với hồi trước, đó là tôi đã
hơi hơi hiểu ra tại sao mình lại thấy bọn chúng đáng sợ như
vậy. Đó là bởi bọn chúng không hề quan tâm đến tôi. Chúng
cũng không có vẻ muốn hiểu tôi, tôi thì chẳng thể nào hiểu
được chúng. Dù tôi cô nói thế nào đi nữa, kiểu như “Tôi chưa
muốn chết, đừng giết tôi!” thì hai kẻ chỉ biết cười hăng hắc đó
cũng chẳng hiểu gì. Bọn chúng là người của thế giới khác.
Chúng thuộc một thế giới khác hẳn thế giới mà tôi đang sống.
Có lẽ, đó là thế giới của “cái chết”.
Bọn chúng chỉ đơn giản là sấn tới mà thôi. Chỉ có như
vậy. Chúng thậm chí còn không hiểu nỗi sợ hãi của tôi. Tôi
cảm thấy điều đó thực sự rất đáng sợ.
***
Suốt mấy ngày kể từ hôm đó, ông cụ chỉ toàn ngồi bên
bàn sưởi và xem ti vi.
“Thích nhỉ! Có thể ngồi xem ti vi suốt ngày thế kia. Mỗi
ngày tao chỉ được cho xem có mỗi tiếng rưỡi thôi.” Yamashita
ngồi dưới bức tường, ỉ ôi nói. “Nhưng mà cứ chỉ toàn xem ti vi
như vậy thì đời cũng chán phèo!”
“Lại chẳng thế.” Tôi nói.
“Đúng thế. Nếu là tao thì tao còn muốn chơi game nữa.”
“Yamashita!”
“Gì?”
“Chả trách mà mày béo ú.”
“'Mày bảo là mày muốn vận động nhiều hơn cơ mà?”
“Không phải! Tao bảo là tao thích nghỉ ngơi mà.”
“Chả lẽ…” Wakabe cứ rướn người lên, nhìn về phía bên
kia của bức tường. Nó quyết không chịu ngồi xuống đất như
tôi và Yamashita. “Chả lẽ ông cụ lại chết lúc vẫn đang xem ti
vi. Rồi ngồi nguyên bên bàn sưởi. Có thể thế lắm chứ.”
Tôi và Yamashita liền đứng phắt dậy, nhòm vào phía
trong bức tường. Tôi thì không cần rướn người lên, nhưng
Yamashita thấp hơn cả Wakabe nên dù có vươn người hết cỡ
cũng chỉ suýt soát vừa tầm.
“Không lẽ lại như thế?” Yamashita vừa nói vừa nhảy tưng
tưng.
“Có thể lắm chứ!” Wakabe lần đầu tiên rời người khỏi
bức tường bê tông, đoạn nói. “Nóng thế này mà ngồi bàn sưởi,
có nghĩ thế nào thì…”
Yamashita đã thôi nhảy. Hôm nay vừa tạnh mưa xong, trời
đã bắt đầu trở nên oi bức. Tôi chăm chú nhìn từ phía chếch
đằng sau lưng ông cụ lúc này vẫn đang hướng về ti vi như mọi
khi. Phía bên kia cánh cửa kính mờ, cái đầu đã hói một nửa và
cả lưng áo màu xanh trà đều không mảy may cử động. Chỉ có
ánh sáng từ ti vi nhấp nhoáng chuyển động.
“Kiyama!”
Bị gọi giật giọng, tôi quay lại thấy Wakabe đang nhìn
mình với ánh mắt nghiêm trọng.
“Này, kính tuột ra rồi kìa.” Nghe tôi nói, Wakabe liền sửa
lại kính. Nhưng ánh mắt của nó thì chẳng sửa được.
“Mình vào đi.”
“Đợi chút.”
“Có khi ông ấy chết mất rồi. Không, chắc chắn là chết rồi.
Tao cảm thấy thế.”
“Nếu ông ấy còn sống thì làm thế nào?”
“Thế nếu ông ấy chết rồi thì làm thế nào? Cứ để nguyên
vậy thì cũng dở. Đúng không nào?”
“Yamashita!” Nghe tôi gọi, Yamashita cứng cả...
Yamashita và Wakabe đều không ngờ chúng đang đứng trước
ngưỡng cửa cuộc đời. Cuộc gặp gỡ với “ông cụ”, người suốt
câu chuyện không hề được nêu tên, đã đem đến cho ba đứa trẻ
một tình bạn kỳ lạ. Có lẽ, đó là lần đầu tiên chúng kết bạn với
người lớn, và đó là lần đầu tiên chúng kết bạn với người lớn,
và đó là một mối quan hệ bình đẳng theo đúng nghĩa. Ba đứa
giúp ông cụ sửa nhà, chăm sóc vườn hoa, giặt và phơi quần
áo… bù lại chúng được ông dạy gọt lê, dạy học chữ Hán, và
trên hết, chúng học được rằng việc già đi, lưng còng xuống,
mặt nhiều nếp nhăn cũng mang nhiều ý nghĩa. Từ đây, ba đứa
trẻ dần phải tự đối mặt với những thắc mắc của chính bản thân
chúng về cuộc sống, những điều mà, có khi sống gần trọn cuộc
đời người ta vẫn chưa hiểu nổi.
“Cuốn sách kể về sự ra đi nhưng cùng lúc khơi gợi niềm
khao khát nắm bắt cái đẹp thuần tuý khi được sống.”
— School Library Journal.
“Sự khác biệt của thời gian không làm hao mòn tính bất
định của cuộc sống, đó là điều mà Kazumi Yumoto truyền tải
cho độc giả qua giọng văn nên thơ đan xen những tình tiết
thâm trầm hài hước.”
— Publishers Weekly
“Giọng kể sâu lắng và trong trẻo giúp ta cảm nhận rõ nét
về một nền văn hóa lạ kỳ. Qua những dòng ngẫm nghĩ thơ trẻ
nhưng chẳng hề ngây ngô, suy tư của dân tộc ấy [Nhật Bản]
như đang đến gần hơn với độc giả.”
— www.literaturfestival.com
Kazumi Yumoto sinh năm 1959 tại Tokyo và theo học khoa
sáng tác tại Đại học Âm nhạc Tokyo. Trong khoảng thời gian
đó, cô từng viết lời cho các vở opera, kịch nói trên sóng phát
thanh và truyền hình. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của của
Kazumi - Khu vườn mùa hạ (Natsu no niwa) xuất bản lần đầu
năm 1992 đã nhanh chóng giành được thành công ở trong và
ngoài nước. Năm 1996, Khu vườn mùa hạ được đề cử Giải
thưởng văn học thiếu nhi Đức (German Juvenile's Literature
Prize), và năm 1997 giành giải văn học thiếu niên danh giá
hàng đầu của Mỹ là Boston Globe Horn Award. Cuốn tiểu
thuyết từng được dựng thành phim năm 1996. Kazumi Yumoto
hiện đang sống và sáng tác tại Tokyo.
Dịch từ nguyên bản tiếng Nhật, NATSU NO NIWA của
Kazumi YUMOTO
Xuất bản theo hợp đồng nhượng quyền giữa tác giả Kazumi YUMOTO và Nhã
Nam, thông qua Japan Foreign-Rights Centre, 2008
Bản quyền tiếng Việt © Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam, 2010.
Chế bản này được thực hiện bởi những thành viên nhóm Romance Book Project:
Minh Đức - Nini Quynh - Bui Nguyen Quynh Nhu
*
Bản quyền ebook © Romance Book, 2013.
Dự án: 25 | fb.com/romanbook
1
Từ đầu tháng Sáu đến giờ, trời cứ mưa suốt. Hôm nay cũng là
một ngày mưa rả rích. Ngày mở cửa bể bơi phải dời sang ngày
mai. Tôi lơ đễnh nhìn con ma lá ngoài cửa sổ. Con ma lá là
một cái cây có lá hình lòng bàn tay, to cỡ bằng quả bí ngô,
cành vươn dài đến tận phòng học trên tầng hai. Cứ mỗi đợt
mưa nó lại dài thêm. Mùa đông thì khô quắt queo ra đấy,
nhưng đến độ xuân nó liền hồi sinh. Và khi mùa hè đến gần,
nó đã kịp dài ngoằn ngoèo ra như một con yêu quái thực sự.
Hai năm trước, tôi đã bí mật đặt cho nó cái tên là “con ma
lá”. Lúc đó, tôi vẫn còn là một đứa thấp tì chứ chưa bị trêu là
“cao kều”, răng cửa cũng chưa thay hết, chẳng hề khấp khểnh
và to quá cỡ như bây giờ. Tóm lại, hai năm trước tôi vẫn còn
là một cậu bé dễ thương, khổ sở với những suất ăn dở không
thể nuốt nổi ở trường. Trong mắt tôi khi ấy, các anh học sinh
lớp Sáu chơi bóng chày trông thật mạnh mẽ, to lớn và cả đáng
sợ nữa.
Thằng nhóc dễ thương là tôi hai năm trước ấy đã vô cùng
say mê cái sinh vật mới mẻ mà mình phát hiện ra. Phòng học
của tôi hồi đó nằm ngay dưới phòng học hiện giờ. Mỗi sáng,
hễ bước vào lớp tôi liền chạy đến kiểm tra con ma lá. Tôi
tưởng tượng vào ban đêm, lúc không bị ai nhìn, cái cây sẽ to
dần lên, nó sẽ mở ra hai hốc mắt như mắt của mấy quả bí
Halloween trong bóng tối. Còn tôi, cái đứa của hai năm trước
vừa rướn người ngước nhìn vừa hồi hộp tự hỏi “không biết sẽ
thế nào khi cái cây này chạm được tới tầng hai?”, giờ đang
ngồi trong chính phòng học trên tầng hai này rồi. Dù không trở
nên mạnh mẽ đáng sợ như mình từng mường tượng trước kia,
tôi cũng đã thành học sinh lớp Sáu.
Đã chán con ma lá, tôi chuyển hướng nhìn vào trong lớp.
Thằng Yamashita mập nghỉ học đã được ba hôm rồi. Nó cũng
không xuất hiện ở buổi kiểm tra của lớp học thêm hôm Chủ
nhật, thế là đúng bốn hôm tôi chưa gặp nó. Hôm thứ Bảy gặp
nhau, nó trông chẳng có vẻ gì là bị cảm cúm, rốt cuộc nó bị
làm sao nhỉ?
Chỗ của Yamashita nằm chéo ngay trước mặt tôi. Có thể
thấy rất rõ trong ngăn bàn nó vẫn còn một cuốn truyện tranh.
Thầy giáo mà thấy thì thể nào cũng tịch thu ngay. Nó lúc nào
cũng phải để quên thứ gì đó.
“Này, Kiyama!”
Nguy rồi, tôi bị thầy gọi. Tôi nhấc mình lên chậm hết
mức.
“Nói thử xem nào.”
“Ơ!”
“Không phải 'ơ' đâu.”
Wakabe ngồi đằng sau, vừa chọc chọc vào mông tôi vừa
khẽ nhắc câu trả lời: “Tròn.”
“Tròn ạ.”
“Ừ. Rồi gì nữa?”
“Không góc cạnh.” Wakabe lại nhắc.
“Không góc cạnh ạ.”
“Ờ, tròn, không góc cạnh. Giống như tôi ấy nhỉ?” Thầy
vừa hỏi vừa nhìn tôi. Bị hỏi vặn như thế tôi biết phải làm sao?
“Thế sao nữa?”
Sao nữa đây? Không có câu trả lời nào từ Wakabe ngồi
đằng sau. Tôi cuống hết cả lên. Tròn mà không có góc cạnh là
gì cơ chứ? Là người nào đó chăng?
“Là tướng quân Tokugawa Ieyasu ạ.”
Trong lớp rộ lên tiếng cười.
“Đồ ngốc! Cậu tưởng đây là giờ học gì?”
“Dạ?”
“Tròn và không góc cạnh là đặc điểm của đá cuội trong
lòng đất. Đừng có mơ màng nữa!”
Chết tiệt thật, mình bị mê sảng à? Tôi rón rén ngồi xuống
trước ánh mắt của lũ bạn đang cười rúc rích.
Chậc, nói chung là Yamashita không ổn lắm. Tôi thò
chân, khẽ đẩy ghế của Yamashita để không ai thấy được cuốn
truyện tranh trong ngăn bàn. Wakabe chọc vào lưng tôi.
“Mày có biết tại sao Yamashita nghỉ học không?”
“Tại sao thế?”
“Bà nó mất rồi. Bà ở quê ấy.”
“Hả?”
Tôi hoàn toàn không biết Yamashita có bà. Thực ra thì ai
mà chẳng có bà, nhưng nó chưa bao giờ kể chuyện về bà nó,
mà tôi cũng chưa từng nghe rằng nó có bà sống ở quê.
“Mẹ tao kể là đám tang của bà nó đang được tổ chức.”
“Vậy à.”
“Mày đến đám tang bao giờ chưa?”
“Chưa.”
“Tao cũng chưa. Ở khu tập thể nhà tao, hễ có ai mất thì
chỉ có mẹ tao qua viếng buổi tối thôi.”
“Tức là mày muốn đi hả?”
“Tao đâu có bảo là tao muốn đi đâu. Ái đau!”
“Wakabe! Kiyama!” Giọng nói giận dữ của thầy giáo vút
lên.
Vừa chỉnh lại gọng kính bị lệch, Wakabe vừa xoa trán.
Viên phấn của thầy đã trúng mục tiêu.
“Hai cậu vừa nói chuyện. Đứng lên!”
***
Ngày hôm sau Yamashita đến lớp. Tôi bắt gặp dáng lưng
của nó ở cổng trường.
“Này, mập!” Tôi gọi nó rồi mới ngớ ra là đã lỡ mồm.
Yamashita quay lại, đúng như tôi nghĩ, khuôn mặt nó
trông rất mệt mỏi. Đôi mắt bé xíu luôn hấp háy của nó đờ đẫn.
Tôi gọi là mập mà nó cũng chẳng cãi lại và chạy đến như
thường ngày. Tôi thấy hối hận, dù sao nó cũng vừa mới từ đám
tang quay về mà.
Hai đứa cùng im lặng đi vào trường. Có lẽ nên nói gì đó
an ủi nó, nhưng mà biết nói gì bây giờ?
“Này, mập! Bà mày mất rồi hả?”
Đồ ngốc ạ! Wakabe đúng là thằng ngốc. Nó đu người lên
cửa sổ tầng hai trông cứ như sắp lộn cổ ra ngoài, gọi toáng lên.
Thằng đó chẳng biết giữ ý gì hết. Chẳng bao giờ!
Trong một khoảnh khắc, Yamashita thoáng lộ ra vẻ ngỡ
ngàng, nhưng liền ngay sau đó, nó hét to đáp lại “Ừ, thế đấy!”
với vẻ rất bình thường. Tôi hoàn toàn không hiểu nổi cảm xúc
của Yamashita. Thằng Wakabe không biết suy nghĩ gì thì tao
hiểu nhưng còn mày, Yamashita, người mất là bà mày cơ mà.
Đừng đáp lời thản nhiên như thế chứ!
Nhưng có lẽ chính tôi cũng chẳng hiểu gì thật. Tôi chưa
từng đến đám tang bao giờ. Ông tôi mất từ trước khi tôi ra đời.
Đại loại là tôi chẳng biết chút gì về cảm xúc khi có người thân
nào đó chết đi.
***
Can cái tội vươn người ra quá mức, Wakabe đánh rơi cặp
kính quý giá đứng thứ hai chỉ sau mạng sống của nó xuống
đất, cặp kính vỡ tan. Nó mà không có kính thì chả đi được lấy
một bước. Nó dò dẫm lần tìm cửa lớp liền bị hai thằng Sugita
và Matsushita vây quanh trêu chọc, cuối cùng khóc òa lên.
Wakabe được mẹ đến đón về sớm nên cũng đành thôi không
hỏi Yamashita về vụ đám ma. Tôi thì chẳng biết nên bắt đầu
câu chuyện như thế nào. Còn Yamashita vẫn như thường ngày,
tức là đến hết giờ tập thể dục nó vẫn chẳng lộn xà được, vẫn
không đọc được chữ Hán trong giờ quốc ngữ và đánh vỡ tiêu
bản lúc làm thực nghiệm trong giờ tự nhiên.
Nhưng cũng có lúc nó thần người ra, cứ chăm chăm nhìn
vào một điểm trên tường, đến giờ ăn còn không xin thêm dù
có món yakisoba mà nó thích nhất.
***
Chuyện xảy ra khi kết thúc giờ học thêm hôm đó.
Ba đứa chúng tôi như thường lệ, vừa ngồi xuống ghế đợi
ở trạm xe buýt vừa cắm ống hút vào cốc sữa chua mua từ cửa
hàng hamburger gần đó. Wakabe vẫn đến lớp học thêm dù tôi
đã tưởng là nó không đến nổi. Nó đeo tạm một cặp kính được
bác sĩ chỉnh lại cho vừa: một cặp kính bự màu bạc, tròn xoe.
Trông mặt nó thật kinh khủng, cứ như người ngoài hành tinh
có mắt khổng lồ vậy.
“Đám tang ra sao hả mày?” Wakabe hỏi. Chắc chắn vì
muốn hỏi chuyện này nên nó mới đến lớp học thêm.
“Sao là sao?”
“Có thú vị không?”
“Thú vị làm sao được,” tôi nói. “Dù tao cũng không biết
nó như thế nào.”
“Ừ.” Yamashita trả lời. “Chẳng có gì thú vị đâu. Mọi
người mặc toàn áo đen. Kinh cầu hồn thì chán ngắt! Các chú
các bác chỉ biết uống rượu trong khi các cô bận cuống lên. Lũ
nhóc thì cứ gọi tao là mập này nọ.”
“Bọn tao cũng toàn gọi mày thế còn gì?” Wakabe nhe
răng cười hì hì, khoe hết cả lợi trông đến kỳ cục. Một kẻ đeo
kính cận màu bạc dày cộm cười hà hà trong bóng tối. Điềm gở
rồi! Sẽ có chuyện đáng sợ xảy ra mất thôi!
“Vậy mày đột nhiên bị mấy đứa lạ hoắc gọi vậy thử
xem!”
“Thế thì khó chịu thật.” Wakabe cũng thôi cười.
“Đám tang như vậy cũng chẳng có gì đáng nói cả. Nhưng
mà…” Yamashita nuốt nước bọt đánh ực một cái.
“Người chết bị đem đi thiêu. Quan tài được đem đến một
chỗ gọi là bãi hỏa táng, rồi được đẩy vào một cái lò rất to. Rồi
rầm một cái. Cửa lò đóng lại. Và một tiếng đồng hồ sau đó…”
Đến đoạn “Và một tiếng đồng hồ sau đó…” tôi nhoài hẳn
người lên nghe. Tại tiếng của Yamashita cứ nhỏ dần đi.
“Chỉ còn lại xương. Tất cả cháy hết, chỉ mỗi xương còn
sót lại. Trắng, lụn vụn. Toàn những mảnh bé xíu.”
“Thiêu những một tiếng cơ à?”
“Ừ.”
“Chắc phải nóng lắm nhỉ? Thế có cháy bùng lên không?”
Yamashita nghĩ ngợi một chút.
“Chỉ có một chút khói trắng bay ra từ cái ống khói rất to
thôi. Bố tao bảo ngày xưa khói nhiều hơn. Hình như là cháy
âm ỉ chứ không phải kiểu cháy bùng lên.”
Wakabe bắt đầu rung đùi. Đấy là tật xấu của nó. Trò rung
đùi của nó hoạt động như bom hẹn giờ mà người ta không biết
lúc nào sẽ phát nổ. Mẹ tôi từng bảo “Wakabe kỳ quái quá”. Mà
“kỳ quái” nghĩa là gì nhỉ? Có lẽ là hơi hâm hâm hay đại loại
thế.
“Tất cả những mẩu xương ấy được gắp bằng đũa, bỏ vào
một cái tiểu.”
“Dùng đũa để gắp á?”
“Ừ. Đến đấy là kết thúc.”
“Đến đấy là kết thúc đám tang à? Nhưng mà…”
“Mày có khóc không?” Tôi hỏi.
“Không.”
“Đấy là bà mày mà. Mày không buồn à?”
“Vì suốt từ hồi còn ẵm ngửa đến giờ tao đâu có gặp bà.
Như thế thì có khác gì người dưng đâu đúng không?”
“Vậy à?”
“Tao cũng chưa từng về quê bao giờ. Xa lắm.”
Nói mới nhớ, tôi cũng lâu lắm rồi không gặp bà nội. Bà là
người như thế nào nhỉ?
“Mà này,” giọng Yamashita khe khẽ. “Chúng mày đã nhìn
thấy người chết bao giờ chưa?”
“Hả? Thấy làm sao được.” Wakabe nói xong liền khịt khịt
mũi rồi im lặng.
Tôi nhận ra rằng, kể cả lúc biết chuyện Yamashita đi dự
đám tang, cả lúc nghe chuyện về hài cốt vừa nãy, có trong mơ
tôi cũng không thể tưởng tượng ra chuyện nó đã nhìn thấy
“người chết thực sự”.
“Mọi người thả hoa vào trong quan tài. Lúc đó…”
“Lúc đó sao?” Đằng sau cặp kính, mắt của Wakabe sáng
rực lên.
“Mày thấy gì? Hả? Hả? Kể nhanh nhanh lên!”
Wakabe giậm gót giày bành bạch xuống đất, ra điều sốt
ruột lắm.
“Cũng không có gì đâu…” Yamashita ngập ngừng nói.
“Tao nhìn thấy trong lỗ tai và mũi bà tao có nhét gì đó như là
bông ấy.”
“Trong mũi có bông? Tại sao thế nhỉ?” Tật rung đùi của
Wakabe lại tái diễn.
“Trong mũi và tai có bông… Trong mũi và tai có bông…”
“Wakabe, yên lặng di!”
Wakabe im miệng. Thay vào đó, nó rung đùi mạnh hơn,
cái ghế băng mà chúng tôi đang ngồi phát ra những tiếng lạch
cạch.
“Tao cũng thả hoa cúc vào trong quan tài với mọi người.
Thế rồi…”
Bà lão ngồi chờ xe buýt ở ghế bên cạnh ngờ vực nhìn về
phía chúng tôi.
Tôi túm chặt lấy vai Wakabe.
“Các cánh hoa bay lả tả trong không trung. Có một cánh
hoa rơi xuống mặt bà tao.”
“Rơi ngay trên mũi.”
Không hiểu sao tôi cứ nghĩ cánh hoa ấy phải có màu
vàng.
“Tao đã nghĩ là phải phủi cánh hoa. Nhưng tao sợ không
dám đưa tay ra. Thế rồi có người đậy mất nắp quan tài lại. Rồi
người ta đóng đinh vào. Dùng đá nhé. Cứ kêu côm cốp ấy.”
“Tưởng gì. Có vậy thôi à?” Wakabe nói, rồi yếu ớt thêm
vào, “Chả có gì hay.”
Nó nói “Có vậy thôi à?” nhưng giọng lại run run.
“Wakabe, im đi!” Tôi sẵng giọng mắng nó.
“Tối hôm đấy, tao nằm mơ.” Yamashita nói xong rồi im
bặt.
“Giấc mơ đáng sợ lắm à?”
“Ừ… Chúng mày biết ở nhà tao có con hổ bông to đùng
đúng không?”
“Ừ.”
“Hồi nhỏ tao toàn dùng nó để làm đối thủ vật nhau thôi.”
Tôi rất muốn nói là “Bây giờ mày vẫn làm vậy mà” nhưng
lại thôi.
“Trong mơ, tao thấy mình đang vật nhau với nó. Nhưng
lúc sau tao để ý, đó lại không phải là con hổ bông ấy nữa…
mà là xác của bà tao.”
“U oa ha ha ha ha!”
Wakabe cắt ngang. Nó cười phá lên như bị ai cù.
Yamashita lườm nó một cái rồi lại tiếp tục câu chuyện, vờ
không để ý.
“Thứ đó… giống hệt như thú nhồi bông. Hoàn toàn chẳng
có phản ứng gì cả. Tao đá một cái thì chỉ thấy lún vào thôi. Nó
cũng chẳng kêu đau gì hết. Thứ đó là đồ vật. Là vỏ thôi.”
“Là vỏ thôi ?”
Yamashita gật gù. “Thứ đó đáng sợ lắm!”
Đúng là khi nghe câu ấy, tôi rợn hết cả tóc gáy. Dù đã xem
rất nhiều cảnh giết người lẫn xác người chết trên ti vi và
truyện tranh, tôi vẫn chưa từng cảm thấy như thế bao giờ.
“Chết rồi thì sẽ ra sao nhỉ? Chẳng phải như thế là hết sao?
Hay là…”
“Có ma đấy.” Yamashita mím môi nói. “Chỉ có điều là…
ma ấy… từ trước đến giờ tao vẫn nghĩ chỉ giống một thứ nhẹ
bỗng thôi. Nhưng mà…”
“Nhưng mà gì?”
“Chắc chắn là nặng lắm. Rất nặng. Cứ như bao cát ấy.”
Nếu người chết chỉ là một cái vỏ đúng như Yamashita nói
thì ma cũng chỉ như đồ vật mà thôi. Không giống như linh hồn
hay ma trơi mà là thứ có thể tính được cân nặng như muối, đài
cát xét hay túi rác… Mình chẳng muốn nhìn thấy số đo trên
cái cân mà một con ma leo lên chút nào, tôi nghĩ. Tôi cảm thấy
thật khó chấp nhận việc một con ma lại có cân nặng.
“Giá tao không phải đi dự đám tang thì tốt quá.”
Yamashita nói cụt lủn, đoạn đá mũi giày xuống mặt đất.
Đột nhiên, Wakabe nhảy dựng lên, đứng giạng chân trên
ghế băng. Bà cụ ngồi ở ghế bên cạnh liền ôm ghì cái xắc tay
vào lòng, tỏ vẻ dè chừng. Wakabe vừa cười vừa gào lên như bị
dở hơi.
“Ta là người bất tử đây!”
***
Rất lâu sau đó chúng tôi không nhắc đến chuyện bà của
Yamashita nữa và lại tiếp tục những ngày bình thường.
Yamashita đã hoàn toàn trở lại như trước. Còn Wakabe, đứa có
ít nói hơn một chút thì cũng không có gì khác biệt, ngoại trừ
vụ “phát tác” ở bến xe buýt kia ra, nó có vẻ như đã quên
chuyện đám tang.
Nhưng vào hôm Wakabe thay cặp kính mới… Sau giờ tan
học, tôi và Yamashita bị gọi tới bãi đậu xe của chung cư nhà
nó.
“Chuyện quan trọng là chuyện gì thế?”
Tôi có dự cảm chẳng lành vì Wakabe tỏ ra phấn khích quá
độ.
“Này, thẳng từ bến xe rẽ vào có một lớp thư pháp đúng
không?”
“À, hội quán Negishi ấy hả?”
Thay cho những ngôi nhà cổ còn sót lại trong lãng quên,
nơi đó lại lộn xộn hàng đống những căn nhà gỗ tạm bợ mái
ngang ọp ẹp đến độ có muốn nịnh cũng không thể khen đẹp.
“Trong ngôi nhà ở bên cạnh chỗ đó có một ông cụ sống
một mình đấy.”
“Ồ!”
Wakabe hết nhìn Yamashita lại nhìn sang tôi bằng ánh mắt
chứa chan hy vọng. Nhắc tới Yamashita, dường như nó cũng
có dự cảm xấu giống tôi, suốt từ nãy đến giờ chẳng nói câu
nào.
“Thế thì sao?” Tôi hỏi.
“Thế thì sao cái gì? Tao có nghe mẹ tao nói chuyện với bà
bác hàng xóm. Họ nói là 'ông cụ ấy nghe đâu đã chết rồi cơ
mà?' ”
Tôi không hiểu nổi chuyện mà Wakabe định nói.
“Kiyama, mày chưa từng thấy người chết mà.”
“À… à…”
“Tao cũng vậy.”
“Mà thế thì sao chứ?”
“Tức là…” Mắt kính của Wakabe lóe lên lấp lánh. Trông
vô cùng dễ sợ! “Mày nghĩ một người già sống một mình, một
ngày nọ đột nhiên chết thì sẽ thế nào?”
“Thế nào thì… nếu chết cô độc thì…”
Sẽ như thế nào nhỉ. Không có bạn bè cũng không có gia
đình, nếu muốn nói lời trăng trối cũng chẳng có ai nghe. Có lẽ
những lời đó sẽ hòa vào không khí trong căn phòng và nhanh
chóng tan biến. Giống như chẳng nói gì. Cả những lời như
“Tôi không muốn chết”, “Khó chịu quá”, “Đau quá”, “Khổ
quá” hay “Tôi đã rất hạnh phúc” cũng không thể chia sẻ.
“Mình sẽ khám phá việc ấy.”
“Hả?”
“Vụ ông cụ chết một mình ấy!”
“Ai làm?”
“Bọn mình chứ ai!”
“Tao á? Tao đi về!” Yamashita đột nhiên hét lên. Nhưng
Wakabe đã nhanh chóng túm lấy cổ áo nó, nhất mực không
buông.
“Mày mà không đi thì gay cho tụi tao lắm. Vì chỉ có mình
mày là đứa từng thấy người chết thôi.”
“Không chịu đâu! Không chịu đâu! Không chịu đâu!”
“Được rồi. Tụi tao sẽ theo dõi ông cụ ấy. Còn việc ông ấy
còn sống hay không thì, Yamashita, chắc mày là người hiểu rõ
nhất.”
Yamashita đáng thương trông như sắp òa khóc. Wakabe
đúng là hâm mất rồi.
“Mày đang nghĩ cái gì vậy hả?” Tôi chán nản nói. “Lũ
kền kền ăn xác động vật chết. Hễ tìm thấy động vật sắp chết là
chúng đến đợi sẵn, bay vòng vòng phía trên hí hửng chờ kiếm
một bữa. Mày là kền kền hả? Đồ ngớ ngẩn kia!”
Nghe tôi nói vậy, Wakabe gục đầu xuống, tiu nghỉu hẳn.
Yamashita đuợc thả cổ áo ra liền ho khù khụ.
“Tao…” Wakabe nói, giọng yếu ớt. “Suốt từ đó đến giờ
tao toàn nằm mơ thấy bà của Yamashita. Tao chưa từng gặp bà
ấy bao giờ, vậy mà trong mơ bà ấy cứ đổ lên người tao! Nặng
lắm, tao không cử động nổi. Hoặc có khi tao choàng tỉnh, xung
quanh toàn là lửa. Tao thấy mình bị thiêu trong một đường
hầm chật chội. Tao hét lên 'Cứu tôi với, tôi còn sống' thì tỉnh
giấc!”
“À à!” Tôi bất giác thở dài. Về đoạn này thì, tối nào tôi
chẳng nằm mơ giống như vậy.
“Gần đây, tao toàn nghĩ đến chuyện về người chết, rồi
chuyện khi nào mình sẽ chết, lúc chết rồi thì sẽ thành thế nào?
Nhưng mà con người dẫu có biết khi nào mình chết thì cũng
chẳng chịu tin đâu.”
“Tao cũng nghĩ vậy.” Tôi và Yamashita đồng thanh nói.
“Thấy chưa?” Wakabe đột nhiên trông tươi tỉnh hẳn, nhìn
chúng tôi.
“Cứ quanh quẩn nghĩ tới những việc mà dù mình có biết
cũng không thể tin nổi, lại chẳng phát khùng lên ấy chứ.
Giống như việc nhịn đi tiểu ấy.”
“Ờ thì…!” Tôi nói.
“Tao chịu hết nổi rồi! Hồi trước lúc mới nghe câu 'con
người tiến bộ là nhờ vào khao khát tìm hiểu', nói thật là tao
chẳng hiểu cái quái gì cả. Nhưng ở cái tuổi mười hai này, cuối
cùng tao nhận ra rằng ngay cả tao cũng có khao khát tìm hiểu.
Hôm qua, lúc đi qua cầu… tao đã trèo thử lên lan can.”
“Ực,” tiếng Yamashita nuốt nước bọt.
“Xe điện đang rầm rập lao đến từ hướng ngược lại, tao
nghĩ nếu mình nhảy xuống thì chắc chắn sẽ bị xe điện đâm
chết ngay tức khắc. Thế rồi tao cảm thấy như có gì thôi thúc
mình nhảy xuống.'”
Trong đầu tôi, tiếng còi hiệu của đoàn tàu rúc lên gay gắt.
“Nhưng lúc đó tao lại nhớ đến tụi mày. Làm vậy thì dù có
biết chết là như thế nào cũng chẳng kể cho chúng mày nghe
được.”
Wakabe lại chìm trong một cơn cười sặc sụa như mọi khi.
“Lúc xuống khỏi lan can, nói thật tao cũng vãi cả ra
quần!”
Tôi bỗng cảm thấy có đôi chút kính nể Wakabe. Nó đúng
là hơi hâm thật, nhung cừ hơn một đứa nhát gan như tôi rất rất
nhiều. Muốn biết thì cũng phải có gan tìm hiểu.
“Cũng được!”
“Nghĩa là…” Yamashita run rẩy hỏi.
“Nhưng tóm lại…” Tôi tránh né ánh mắt như sẵn sàng ăn
tươi nuốt sống bất kỳ ai của Yamashita. “…là tuyệt đối không
gây phiền hà cho ông cụ ấy.”
“Hả?”
“Tuyệt vời! Hai thắng một rồi nhé!” Wakabe nhảy cẫng
lên.
2
Ngôi nhà trông cứ như nhà hoang không người. Tấm biển treo
ngoài cửa rời ra một nửa, rung lên cành cạch trong gió. Cửa
kính đã vỡ chỉ được dán giấy báo với băng dính. Một đống lộn
xộn không nhìn rõ thứ gì ra là gì, những thùng gỗ muối dưa
nhiều năm không dùng đọng đầy nước mưa, những bó báo và
túi rác được xếp quanh ngôi nhà. Hành lang nhà quay ra
hướng Nam của khu vườn, nơi có một cây gạo rất to. Một cánh
cửa có nửa dưới bằng kính mờ ngăn cách mọi thứ trong nhà
với bên ngoài.
Nhìn từ con đường nằm phía Đông ngôi nhà thì không thể
thấy hết mọi thứ bên trong, dù vậy tôi vẫn đoán được khối ánh
sáng màu xanh nhấp nhoáng phía bên kia cửa kính là một
chiếc ti vi đang bật. Sắp đến tháng Bảy rồi mà ông cụ vẫn
dùng bàn sưởi. Có lẽ vì trời cứ mưa suốt, chẳng chịu ấm lên.
Nhưng tấm chăn đỏ phủ chiếc bàn sưởi đang tì vào cửa kính
kia không hiểu sao lại làm tôi cảm thấy khó chịu.
“Ông ấy còn sống!” Wakabe bám vào bức tường rêu, vừa
rướn người lên nhìn vừa nói.
“Mày đó,” tôi núp sau bức tường nói. “Mày có biết là theo
dõi là một việc rất cần có sự kiên nhẫn không hả?”
“Đúng, đúng, cái đó tao biết.” Yamashita nói. “Giống như
thám tử, cảnh sát hình sự mà mình thấy trên ti vi ấy, việc này
vất vả lắm.”
“Cái đó tao biết rồi!” Wakabe nói. “Bố tao là thám tử mà.
Tao cũng được nghe chán rồi ấy chứ.”
“Hả?” Ngay lập tức Yamashita nhìn Wakabe bằng ánh mắt
kính nể.
“Bố tao còn phá được vụ giết người mà ngay cả cảnh sát
cũng bó tay nhé.”
“Giỏi thế!”
“Là vụ cắt người ra từng mảnh tại tiệm cắt tóc. Cái gã
dùng kéo đâm người ấy.”
“Chẳng nhớ!”
“Thôi, không sao! Người phá được vụ đó là bố tao đây.
Chìa khóa của vụ án chính là một chiếc đĩa nhạc. Tên thủ
phạm đã bật một bản waltz tại nơi gây án. Bố tao một mình
quay lại hiện trường vào ban đêm. Trong cửa hiệu cắt tóc
không một bóng người, mùi máu vẫn còn vương vất. Khi bố
tao đặt kim lên chiếc đĩa…”
Yamashita lộ vẻ khâm phục thấy rõ, mê mẩn lắng nghe
câu chuyện của Wakabe. Những hạt mưa nhỏ lại bắt đầu rơi
xuống. Nhưng ô của ba đứa vẫn gập nguyên.
Wakabe không có bố. Nghe nói ông ấy chết khi nó vẫn
còn là một đứa trẻ. Nó kể rất nhiều chuyện về bố mình. Khi thì
nó nói bố nó là tuyển thủ bóng chày, lúc khác lại là tiểu thuyết
gia, có lúc là phi công lái máy bay. Một năm đến vài ba lần
như vậy nên những người nghe chỉ ồ lên lúc đó rồi quên ngay.
Một đứa hễ thấy trong lớp có gì phiền phức là tránh ngay như
tôi không hiểu sao lại học chung với nó từ mẫu giáo đến tận
bây giờ. Thế nên mới có kiểu phản ứng “Thằng Wakabe lại
điêu nữa rồi”. Đã thế, trên đời này lại có những đứa vừa nhớ
dai lại vừa đáng ghét.
Đó là chuyện hồi năm ngoái, lúc cả lớp tập diễn kịch.
Wakabe rất muốn diễn vai chính trong vở “Cậu bé thổi kèn”,
thế mà lại bị Sugita cướp mất. Vai chính là do thầy giáo quyết
định nhưng Sugita lại tự ứng cử, nói là “Tao rất muốn diễn vai
đấy” rồi còn ép buộc mọi người chọn nó. Wakabe đã rất tức tối
vụ đó. Khi ấy nó nói bố nó từng là diễn viên.
“Bố tao được đánh giá là diễn viên phụ có tiếng đấy. Ông
ấy không thèm lên ti vi đâu. Ông chỉ chuyên diễn trên sân
khấu thôi.”
Thế là Sugita mắt sáng rực, đốp lại ngay:
“Wakabe, bố mày không phải là phi công à?”
Nó giễu cợt Wakabe, lúc này đang há miệng mắc quai.
“Đồ bịa đặt!”
“Bố mày chắc cũng làm việc đáng xấu hổ thế này thôi.”
Đến giờ tôi vẫn không quên được khuôn mặt tức giận của
Wakabe lúc đó. Nó nghiến chặt răng, mặt tái mét, hằm hè nhìn
Sugita đến mức tưởng chừng ánh mắt nó đẩy văng được cả cái
kính. Đến cả chuyện rung đùi thường ngày nó cũng không
làm.
Hễ nhớ lại chuyện đó, tôi lại thấy đôi chút hối hận. Lần đó
chính tôi đã ôm Wakabe từ đằng sau hòng ngăn nó túm lấy
Sugita, rồi ấn nó ngồi xuống.
Nó giết thằng Sugita mất! Nghĩ vậy thôi cũng đủ khiến tôi
sợ đến độ lông tóc trên người dựng hết cả lên. Nhưng thực ra,
thay vì ngăn Wakabe, đáng lẽ tôi phải giáng cho thằng Sugita
một đấm. Tôi đúng là đồ nhát gan.
Wakabe và tôi thực sự trở thành bạn kể từ lần đó. Ngay
sau đó Yamashita nhập hội, không hiểu sao lại thành được bộ
ba. Wakabe bốn mắt, Yamashita mập, và tôi. Có một lần, hai
đứa đã đến nhà tôi cùng làm bài tập về nhà. Wakabe bị mẹ tôi
hỏi chuyện thì chỉ biết ngồi rung đùi, còn Yamashita làm nước
quả văng vung vãi khắp ghế sofa, thật tệ hại. Sau khi hai đứa
ra về, mẹ tôi bảo, “Lần sau con làm ơn đưa đứa bạn nào tốt
hơn về nhé.” Kể từ đó, tôi chẳng đưa đứa nào về nhà nữa.
“Thám tử à? Hay nhỉ!”
Yamashita mỉm cười với cặp mắt lim dim, bắt đầu đi vào
cõi mộng. Có vẻ nó đang mơ được biến thành một thám tử tư
mặc áo khoác dài, đầu đội mũ che khuất mặt.
“Nào, mình bàn kế hoạch đi thôi!” Tôi giơ cái dù vẫn
đang gập lên, Wakabe và Yamashita liền tiến tới. Trời mưa to
hơn. “Từ thứ Hai đến thứ Sáu trước khi học thêm. Sau giờ tan
học, về nhà lấy cặp đi học thêm và tập trung ở đây.”
“Thế còn bóng chày thì sao?” Yamashita hỏi.
“Mình là thám tử cơ mà.” Wakabe nói. “Với lại, chẳng
phải mày toàn ngồi làm dự bị hay sao? Giữa làm thám tử với
chơi bóng chày, mày chọn bên nào?”
“Bên nào…”
“Mày chọn bên nào?”
“Thám tử!”
“Thấy chưa?”
“Ừ.” Yamashita hơi nghiêng đầu, gật gù.
“Thế thứ Bảy thì sao?” Tôi hỏi.
“Tao… ” Yamashita lại nói.
“Chuyện gì thế?”
“Thứ Bảy tao mà không giúp trông cửa hàng là bố mẹ tao
cáu đấy.”
Nhà Yamashita có cửa hàng bán cá.
“Nói mới nhớ…” Wakabe nói.
“Kiyama, thứ Bảy tụi mình cũng phải đi bơi mà!”
“Vậy thứ Bảy, Yamashita nghỉ. Tao với mày đi bơi từ 2
giờ, thôi thì để sau đó nhé?”
“Ok!”
“Chủ nhật thì thế nào?”
“Có giờ kiểm tra ở lớp học thêm và giờ học bóng đá đấy,
làm thế nào đây?”
“Mỗi tuần giờ kiểm tra lại khác nhau nên mình sẽ quyết
định tùy theo từng ngày.”
“Được đấy.” Wakabe hỉnh mũi, gật đầu. “Nghĩ mới thấy,
Yamashita không đi học bơi, còn lại là chúng mình chung hết.
Bọn mày không thấy lạ à?”
Wakabe vừa nói xong liền kêu “A!” và chỉ tay vào tôi.
“Mày còn giờ học piano.”
“Tao bỏ rồi. Mỗi môn này thôi.” Tôi muốn tránh chủ đề
này. Mặc dù tôi học là do bị mẹ ép buộc, nhưng có một chiếc
đàn piano đặt lù lù trong nhà mà chẳng ai biết chơi thì quả
cũng ức chế thật. “Cô giáo piano của tao có em bé rồi. Từ đó
cô thay đổi tâm lý, biến thành một người khác hẳn.”
“Nếu vậy thì người chồng có lỗi.” Wakabe nói cứ như một
bà bác.
“Thế à ?”
“Chứ còn gì! Việc giáo dục con cái là việc của cả hai.
Nhưng mà…”
“Gì vậy?”
“Nói vậy tức là cô giáo đã kết hôn rồi.”
“Thế thì sao?”
“Mày chẳng từng bảo là mày sẽ cưới cô giáo dạy piano
còn gì?”
“Đồ nhiều chuyện!”
Wakabe nhớ rất dai cả những chuyện chẳng ra sao.
Chuyện đó tôi nói từ hồi còn học mẫu giáo mà nó vẫn nhớ.
“Ta ra ta ta ra ta tan…” Wakabe vừa ngân nga đoạn mở
đầu của ca khúc “Lời nguyện cầu thiếu nữ” vừa nhảy ra ngoài
trời mưa. “Cô ơi, hãy kết hôn với em!” Nó gào lên. Yamashita
ngoác miệng cười như đồ ngốc. Còn tôi nóng bừng cả tai. Tôi
chẳng đánh nổi cái bài hát “Lời nguyện cầu thiếu nữ” ấy.
***
Nhóm hai đứa chúng nó, một tên cao gầy còn một tên lại
béo lùn. Một cặp trái ngược điển hình y hệt các cặp diễn tấu
hài. Cả hai tóc đều dựng bờm xờm lên như chổi, mắt láo liên.
Không hiểu sao những con ma của tôi thường mang dáng
dấp như vậy. Hồi nhỏ, tôi rất hay nằm mơ thấy mình bị cặp ma
trái ngược nhau đó đuổi bắt. Tôi đi trong một hành lang tối
tăm không một bóng người, và chúng đã chờ sẵn ở đấy, bóng
đổ dài trên mặt đất, dưới bầu trời mịt mùng, tiến ra từ một con
đường rộng hơn, vừa cười hăng hắc vừa chạy về phía tôi. Tên
cao hơn liên tục lắc người hòng đẩy tấm thân dài như mái chèo
về phía trước, tên béo lùn thì nhảy tưng tưng như một con lật
đật. Dù bộ dạng trông rất giống các nhân vật trong truyện
tranh, chúng vẫn rất đáng sợ. Tiếng cười của chúng khiến tôi
hãi đến độ có lần tè dầm.
Sau bận tôi nghe chuyện về bà của Yamashita, hai con ma
đó lại xuất hiện trong giấc mơ của tôi. Trong bóng tối, chúng
cầm bó đuốc, bộ dạng vẫn như trước đây, vừa cười hăng hắc
vừa đảo mắt đuổi theo tôi. Bọn chúng định dùng lửa của ngọn
đuốc để thiêu chết tôi.
Chỉ vì một giấc mơ trẻ con như thế, đêm nào tôi cũng giật
mình tỉnh dậy, mồ hôi toát ra như tắm. Tự tôi cũng thấy mình
chẳng ra làm sao.
Nhưng cũng có một điểm khác với hồi trước, đó là tôi đã
hơi hơi hiểu ra tại sao mình lại thấy bọn chúng đáng sợ như
vậy. Đó là bởi bọn chúng không hề quan tâm đến tôi. Chúng
cũng không có vẻ muốn hiểu tôi, tôi thì chẳng thể nào hiểu
được chúng. Dù tôi cô nói thế nào đi nữa, kiểu như “Tôi chưa
muốn chết, đừng giết tôi!” thì hai kẻ chỉ biết cười hăng hắc đó
cũng chẳng hiểu gì. Bọn chúng là người của thế giới khác.
Chúng thuộc một thế giới khác hẳn thế giới mà tôi đang sống.
Có lẽ, đó là thế giới của “cái chết”.
Bọn chúng chỉ đơn giản là sấn tới mà thôi. Chỉ có như
vậy. Chúng thậm chí còn không hiểu nỗi sợ hãi của tôi. Tôi
cảm thấy điều đó thực sự rất đáng sợ.
***
Suốt mấy ngày kể từ hôm đó, ông cụ chỉ toàn ngồi bên
bàn sưởi và xem ti vi.
“Thích nhỉ! Có thể ngồi xem ti vi suốt ngày thế kia. Mỗi
ngày tao chỉ được cho xem có mỗi tiếng rưỡi thôi.” Yamashita
ngồi dưới bức tường, ỉ ôi nói. “Nhưng mà cứ chỉ toàn xem ti vi
như vậy thì đời cũng chán phèo!”
“Lại chẳng thế.” Tôi nói.
“Đúng thế. Nếu là tao thì tao còn muốn chơi game nữa.”
“Yamashita!”
“Gì?”
“Chả trách mà mày béo ú.”
“'Mày bảo là mày muốn vận động nhiều hơn cơ mà?”
“Không phải! Tao bảo là tao thích nghỉ ngơi mà.”
“Chả lẽ…” Wakabe cứ rướn người lên, nhìn về phía bên
kia của bức tường. Nó quyết không chịu ngồi xuống đất như
tôi và Yamashita. “Chả lẽ ông cụ lại chết lúc vẫn đang xem ti
vi. Rồi ngồi nguyên bên bàn sưởi. Có thể thế lắm chứ.”
Tôi và Yamashita liền đứng phắt dậy, nhòm vào phía
trong bức tường. Tôi thì không cần rướn người lên, nhưng
Yamashita thấp hơn cả Wakabe nên dù có vươn người hết cỡ
cũng chỉ suýt soát vừa tầm.
“Không lẽ lại như thế?” Yamashita vừa nói vừa nhảy tưng
tưng.
“Có thể lắm chứ!” Wakabe lần đầu tiên rời người khỏi
bức tường bê tông, đoạn nói. “Nóng thế này mà ngồi bàn sưởi,
có nghĩ thế nào thì…”
Yamashita đã thôi nhảy. Hôm nay vừa tạnh mưa xong, trời
đã bắt đầu trở nên oi bức. Tôi chăm chú nhìn từ phía chếch
đằng sau lưng ông cụ lúc này vẫn đang hướng về ti vi như mọi
khi. Phía bên kia cánh cửa kính mờ, cái đầu đã hói một nửa và
cả lưng áo màu xanh trà đều không mảy may cử động. Chỉ có
ánh sáng từ ti vi nhấp nhoáng chuyển động.
“Kiyama!”
Bị gọi giật giọng, tôi quay lại thấy Wakabe đang nhìn
mình với ánh mắt nghiêm trọng.
“Này, kính tuột ra rồi kìa.” Nghe tôi nói, Wakabe liền sửa
lại kính. Nhưng ánh mắt của nó thì chẳng sửa được.
“Mình vào đi.”
“Đợi chút.”
“Có khi ông ấy chết mất rồi. Không, chắc chắn là chết rồi.
Tao cảm thấy thế.”
“Nếu ông ấy còn sống thì làm thế nào?”
“Thế nếu ông ấy chết rồi thì làm thế nào? Cứ để nguyên
vậy thì cũng dở. Đúng không nào?”
“Yamashita!” Nghe tôi gọi, Yamashita cứng cả...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





