CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Khong gia dinh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 02h:47' 16-03-2024
    Dung lượng: 1.9 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Tựa sách
    Lời giới thiệu
    Phần I
    i. Ở làng
    ii. Người bố nuôi
    iii. Gánh xiếc của ông cụ Vitalis
    iv. Nhà mẹ
    v. Lên đường
    vi. Bước đầu trong nghề
    vii. Tôi tập đọc
    viii. Vượt ngàn băng nội
    ix. Tôi gặp một người khổng lồ đi hài bảy dặm
    x. Ra trước công lý
    xi. Trên thuyền
    xii. Người bạn đầu tiên của tôi
    xiii. Đứa trẻ nhặt được
    xiv. Tuyết và sói
    xv. Ngài Joli-cœur
    xvi. Vào Paris
    xvii. Một ông “bầu gánh” trẻ con ở phố Lourcine
    xviii. Mỏ đá Gentilly
    xix. Lise
    xx. Tôi làm vườn
    xxi. Gia đình tan tác
    Phần II
    i. Tiến lên
    ii. Một thành phố đen
    iii. Thợ đun xe
    iv. Lụt mỏ
    v. Trong ngách ngược
    vi. Công cuộc cứu nạn
    vii. Một bài học nhạc
    viii. Con bò của hoàng tử
    ix. Má Barberin
    x. Gia đình cũ và gia đình mới
    xi. Lão Barberin
    xii. Tìm kiếm
    xiii. Gia đình Driscoll

    xiv. Thờ cha kính mẹ
    xv. Capi hư nết
    xvi. Tã đẹp nói dối
    xvii. Chú Arthur: – Ông James Milligan
    xviii. Những đêm Noël
    xix. Mối lo sợ của Mattia
    xx. Anh Bob
    xxii. Tã đẹp nói thật
    xxiii. Giữa gia đình

    KHÔNG GIA ĐÌNH
    Nguyên tác: Sans Famille
    Tác giả: Hector Malot
    Dịch giả: Huỳnh Lý
    Nguồn: vput2006
    Làm lại ebook: Nguyễn Tuấn Linh
    Ngày hoàn thành: 26/4/2016
    Tất cả tên người và địa danh trong bản dịch được chuyển về tên gốc tiếng
    Pháp,
    Chia lại các chương và thêm một số chú thích dựa trên đối chiếu với
    nguyên tác tiếng Pháp,
    Ebook này không giống với bất cứ bản in giấy nào của dịch giả Huỳnh Lý.
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    LỜI GIỚI THIỆU
    Hector Malot, sinh năm 1830 ở miền tây Bắc nước Pháp, là một nhà văn
    chuyên viết tiểu thuyết, được bạn đọc người Pháp yêu mến. Những tiểu
    thuyết của ông, như Không gia đình, Trong gia đình, Pompon, Romain
    Kalbris v.v… đều lành mạnh và hấp dẫn.
    Ông mất năm 1890.
    Trong tiểu thuyết của Malot, Không gia đình nổi tiếng hơn cả. Nó đã được
    giải thưởng của Viện Hàn lâm văn học Pháp. Nhiều nước trên thế giới đã
    dịch lại và xuất bản nhiều lần.[1] Từ một trăm năm nay nó đã trở thành
    người bạn thân yêu của thiếu nhi Pháp và châu Âu. Không những thiếu nhi,
    mà cả những bậc cha mẹ, anh chị, thầy giáo và tất cả những ai yêu mến trẻ
    em, chú ý đến trẻ em đều đọc nó say sưa, vì qua mỗi một câu chuyện lý thú,
    nó giải đáp cho người ta nhiều câu hỏi luôn mới mẻ về việc nuôi dạy thiếu
    nhi.
    Không gia đình kể chuyện một em bé không cha mẹ, không họ hàng thân
    thích, đi theo một đoàn xiếc chó, khỉ, rồi cầm đầu đoàn ấy đi lưu lạc khắp
    nước Pháp, sau đó bị tù ở Anh, cuối cùng tìm thấy mẹ và em. Em bé Rémi ấy
    đã lớn lên trong gian khổ. Em đã chung đụng với mọi hạng người, sống khắp
    mọi nơi, “nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương”. Em đã lao động mà sống, lúc
    đầu dưới quyền điều khiển của một ông già từng trải và đạo đức, cụ Vitalis,
    về sau thì tự lập và không những lo cho mình mà còn bảo đảm việc biểu diễn
    và sinh sống cho cả một gánh hát rong. Đã có khi em và cả đoàn lang thang
    mấy hôm liền không có chút gì trong bụng. Đã có khi em suýt chết rét. Đã có
    khi em bị lụt ngầm chôn trong giếng mỏ mười mấy ngày đêm. Đã có khi em
    mắc oan bị giải ra trước tòa án và bị bỏ tù. Và cũng có khi em được nuôi
    nấng đàng hoàng, no ấm. Nhưng dù ở đâu, trong cảnh ngộ nào, em vẫn noi
    theo nếp rèn dạy của ông già Vitalis giữ phẩm chất làm người, nghĩa là ngay
    thẳng, gan dạ, tự trọng, thương người, ham lao động, không ngửa tay xin xỏ,
    không dối trá, gian giảo, nhớ ơn nghĩa, luôn luôn muốn làm người có ích.
    Bên cạnh Rémi có chú bé nghệ sĩ Mattia khôn ngoan, linh lợi, tháo vát,
    tận tình với bạn, một tài hoa nghệ thuật nở sớm cộng với một tấm lòng vàng;
    con chó Capi khôn như người và rất có nghĩa; con khỉ Joli-Cœur liến láu và
    đáng thương… Những con người và con vật ở đây được dựng lên linh hoạt
    sống động, gây nhiều hứng thú cho bạn đọc nhỏ của chúng ta.
    Qua câu chuyện phiêu lưu hết sức hấp dẫn của chú bé Rémi, người ta thấy
    quyển sách ca ngợi lao động, ca ngợi tinh thần tự lập tự tin của tuổi trẻ,
    phát huy ý thức chịu đựng gian khổ và tập quán xoay sở tháo vát, đề cao
    nghệ thuật, khuyến khích tình bạn chân chính. Nó phản ánh cảnh lao động

    và sinh hoạt bấp bênh, nguy hiểm, đầy đe dọa của những người thợ mỏ và
    của nhân dân lao động thành phố trong xã hội tư sản. Đồng thời nó thể hiện
    cái thực tế là tình thương người, lòng biết ơn, tình hữu ái giai cấp ở về phía
    những người lao động. Quyển sách lại diễn tả nhiều cảnh đẹp thiên nhiên,
    nhiều cảnh sinh hoạt hấp dẫn ở nông thôn và thành thị, giúp bạn đọc thêm
    phần hứng thú trong khi theo dõi câu chuyện, lại có thể mở rộng hiểu biết.
    Nhưng Không gia đình dưới con mắt chúng ta không phải là một viên
    ngọc không vết. Do một nhà văn tư sản viết – dù là nhà văn tiến bộ – cuốn
    sách vẫn không khỏi mang những sai lầm của tư tưởng và quan niệm xã hội
    của ông ta. Tác giả tôn sùng những người giàu sang, có danh vọng, lịch sự.
    Ông đã dành cho Rémi một bà mẹ đại tư sản với một gia tài kếch sù, để cho
    khi nhận ra mẹ, Rémi có sẵn của cải đó mà đền ơn trả nghĩa. Làm như
    không có tiền muôn bạc triệu thì người ta không có cách gì tỏ lòng biết ơn!
    Dưới ngòi bút của tác giả Rémi quí trọng người lao động, những người có
    tấm lòng tốt, nhưng đối với những người có địa vị xã hội, có cử chỉ lịch sự,
    nghĩa là có cái vỏ đẹp đẽ, cao sang, Rémi mới thật trố mắt khâm phục. Ước
    mơ của Rémi – mà đấy là một mặt hạn chế của tác phẩm – là được hưởng
    một cuộc sống vàng lụa như họ, được trở thành những con người sang trọng
    như họ. Đó là điều mà chắc chắn là các bạn đọc thiếu nhi chúng ta ngày nay
    không tán thành, càng không để cho bị tiêm nhiễm.
    Người dịch tập truyện không mong muốn gì hơn là khi đọc sách, các bạn
    vừa thấy hứng thú, vừa học tập được nhiều, được thưởng thức một tác phẩm
    văn học có giá trị đồng thời cũng rút ra được những điều tốt nên theo, những
    điều hạn chế nên tránh trong việc tu dưỡng, rèn luyện của mình, hoặc trong
    việc nuôi dạy con em sau này.
    HUỲNH LÝ

    PHẦN THỨ NHẤT
    I. Ở LÀNG
    Tôi là một đứa trẻ người ta nhặt được.
    Tuy vậy, cho đến năm lên tám, tôi vẫn tưởng tôi có mẹ cũng như mọi đứa
    trẻ khác, vì mỗi khi tôi khóc thì luôn luôn có một người đàn bà dịu dàng ôm
    tôi vào lòng, âu yếm ru, khiến cho nước mắt tôi ngừng chảy.
    Mỗi khi tôi lên giường ngủ, cũng có một người đàn bà đến hôn tôi. Và khi
    gió rét tháng chạp trát những bông hoa tuyết vào cửa kính trắng xóa, bà ấy
    vừa ấp ủ chân tôi trong đôi bàn tay trìu mến của bà, vừa hát cho tôi nghe một
    bài hát mà giờ đây tôi vẫn còn nhớ điệu và lõm bõm vài lời ca.
    Khi tôi chăn con bò sữa ở ven đường đầy cỏ, hoặc ở những đám cây
    hoang, lá dại mà gặp một trận mưa dông bất ngờ đổ xuống, thì bà chạy đến
    đón tôi, bắt tôi núp trong chiếc váy len của bà và túm váy lên che đầu che vai
    cho tôi cẩn thận.
    Mỗi lần có chuyện gây gổ với bạn bè thì bà dỗ tôi, bảo tôi kể cho bà nghe
    những nỗi bực bội chất chứa trong lòng và hầu như lúc nào bà cũng tìm được
    những lời thích hợp để an ủi tôi, hoặc tỏ ra đồng tình với tôi.
    Qua những việc ấy, và bao nhiêu việc khác nữa, từ giọng nói, cách nhìn,
    cái vuốt ve cho đến những lời trách mắng ôn tồn, tôi yên trí bà là mẹ tôi.
    Tôi được biết bà không phải là mẹ đẻ, mà chỉ là mẹ nuôi, như thế này đây.
    Làng tôi gọi là làng Chavanon. Nói cho đúng thì đó là cái làng ở đó tôi lớn
    lên, tôi sống thời thơ ấu, chứ tôi làm gì có quê hương, có nơi chôn rau cắt
    rốn, cũng như tôi đã không có cha có mẹ gì cả. Làng Chavanon là một trong
    những làng nghèo nàn nhất ở miền Trung nước Pháp.
    Không nghèo vì dân làng chây lười, mà chính vì nó ở vào một vùng đất
    đai cằn cỗi. Đất mặt rất mỏng, muốn mùa màng tốt, phải có phân, vôi, mà
    những thứ này trong vùng quá hiếm. Vì thế, người ta thấy ít những cánh
    đồng trồng trọt mà nhan nhản những đám cỏ hôi, cây dại. Hết những đám ấy
    thì là địa hạt của những lăngdơ.[2]
    Trên các lăngdơ cao ấy, gió lạnh thổi rát làm táp những lùm cây thưa thớt
    cành nhánh vặn vẹo quay cuồng.
    Muốn thấy cây cối xanh tốt thì phải rời bỏ cao nguyên, xuống các thung
    lũng cạnh sông, ở đấy có những cây dẻ cao to và những cây sồi vạm vỡ.
    Cái nhà tôi sống những năm đầu của tuổi thơ ấu dựng trong một thung
    lũng như thế, trên bờ con suối nước chảy xiết đổ vào một phụ lưu của sông
    Loire.

    Cho đến năm lên tám, tôi chưa hề thấy đàn ông trong nhà, tuy má tôi
    không phải là góa bụa. Chồng bà vốn là thợ đá đi làm ăn ở Paris như phần
    đông những người thợ khác trong vùng. Từ ngày tôi bắt đầu hiểu biết sự việc
    chung quanh mình thì tôi chưa thấy ông ta về làng lần nào. Thỉnh thoảng có
    bạn bè về quê, ông ta mới nhắn tin về:
    “Này, bác Barberin, bác giai vẫn được mạnh khỏe đấy! Bác ấy nhờ tôi tin
    cho bác biết là công việc làm ăn khá lắm và bác ấy gửi cho bác số tiền này
    đây. Bác đếm đi chứ!”
    Chỉ có thế thôi. Chừng ấy tin tức, má Barberin cũng cho là đủ rồi: ông
    chồng mạnh khỏe; ông làm ra tiền, kiếm ăn được, còn gì nữa! Đừng tưởng
    ông Barberin ở Paris lâu thế là vì có điều bất hòa với vợ. Không hề có
    chuyện như thế. Ông ta ở lại Paris là do công việc làm ăn bắt buộc, thế thôi.
    Lúc già, ông sẽ trở về ở với vợ. Với số tiền dành dụm được, đến ngày tuổi
    già sức yếu, vợ chồng không lo lâm vào cảnh cơ hàn.
    Một chiều tháng mười một, có một người lạ mặt dừng lại trước cổng vườn
    nhà. Tôi đang bẻ củi chà là ở bục cửa. Người ấy không mở cổng mà chỉ
    nghểnh đầu nhòm vào, nhìn tôi mà hỏi có phải nhà bà Barberin ở đây không.
    Tôi mời ông ta vào. Ông ta đẩy cửa, làm cho sợi dây buộc kêu cót két, rồi
    bước chậm rãi qua sân.
    Tôi chưa bao giờ thấy ai lấm bùn bê bết như ông này. Những mảng bùn,
    mảng còn ướt, mảng đã khô, trát khắp người từ đầu tới chân. Chỉ nhìn nhưng
    cũng đủ biết ông ta đã đi rất lâu trên những con đường lầy lội. Nghe tiếng
    chúng tôi, má Barberin chạy ra. Khi khách bước qua bậc cửa thì má cũng
    vừa tới, hai người gặp nhau. Khách nói:
    - Tôi đem tin từ Paris về đây!
    Đó là những lời giản dị tai chúng tôi nghe đã quen. Nhưng mà giọng nói
    lần này không giống như mọi bận, không giống như những khi người khách
    nói: “Bác giai bình yên. Công việc làm ăn tốt”. Má Barberin chập hai tay vào
    nhau, kêu:
    - Ôi trời ơi! Chắc có tai họa gì xảy đến cho ông Jérôme nhà tôi rồi!
    - Vâng, quả có thế. Nhưng bà cũng không nên quá hoảng hốt! Ông nhà bị
    thương, đúng đấy, nhưng ông ấy không chết. Có điều chắc chắn sẽ bị què.
    Hiện giờ ông ấy còn nằm ở bệnh viện. Tôi nằm giường bên cạnh, nên nhân
    tôi về quê, ông ấy nhờ tôi tạt qua đưa tin cho bà biết. Tôi không dừng lại đây
    lâu vì còn phải đi ba dặm đường nữa, mà trời sắp tối rồi.
    Má Barberin muốn biết tường tận hơn, nên mời khách ở lại ăn cơm tối.
    Má nói đường xấu lắm và người ta đồn ở trong rừng có chó sói, chi bằng để
    sáng mai hãy đi.

    Khách ngồi vào bên cạnh bếp lò, vừa ăn vừa kể cho chúng tôi nghe tai nạn
    xảy ra như thế nào: ông Barberin bị một giàn giáo đổ xuống đè suýt bẹp
    người. Người chủ thầu viện lẽ ông ta không có nhiệm vụ gì phải đứng ở chỗ
    ấy, nên không trả cho ông ta một khoản bồi thường nào cả. Ông khách nói:
    - Thật không may cho ông Barberin, tội nghiệp ông ấy! Thật không may!
    Có những tên láu cá, nhân cơ hội tương tự đã vớ được một khoản thực lợi
    đồng niên.[3] Còn ông nhà thì chẳng được gì sất!
    Ông khách vừa hơ đôi ống quần cứng cồm cộp bùn khô, vừa luôn mồm
    nhắc đi nhắc lại mấy tiếng “thật không may” với một vẻ thương cảm chân
    thành. Sự xuýt xoa của ông chứng tỏ ông sẵn lòng chịu tàn tật để vớ được
    một món thực lợi. Ông kết thúc câu chuyện:
    - Tuy thế, tôi cũng khuyên ông nhà cứ đệ đơn kiện lão chủ thầu.
    - Kiện tụng thì tốn kém chết đi!
    - Tốn đấy, nhưng được kiện thì cũng bõ chứ!
    Má Barberin muốn đi Paris nhưng chuyện đó đâu có phải dễ: đường sá xa
    xôi tốn kém quá.
    Sáng sớm hôm sau má con tôi xuống làng dưới tìm cha xứ để hỏi ý kiến.
    Cha xứ chưa muốn để cho má đi, trước khi biết chắc đi như thế có giúp ích
    gì cho chồng không. Cha viết thư cho ông giáo sĩ ở bệnh viện nơi ông
    Barberin đương nằm điều trị. Vài ngày sau, có thư trả lời nói rằng má
    Barberin không cần đi, chỉ cần gửi một số tiền lên Paris để cho chồng kiện
    người chủ thầu.
    Ngày tháng trôi qua. Thỉnh thoảng lại có thư về, thư nào cũng thúc giục
    gửi thêm tiền lên. Bức thư cuối cùng thúc bách hơn cả, nhắn rằng nếu hết
    tiền thì bán con bò sữa đi mà gửi.
    Những ai đã sống ở nông thôn cùng với bà con nông dân đều hiểu nỗi đau
    khổ hãi hùng chứa trong mấy tiếng: bán con bò sữa. Đối với nhà sinh vật
    học, con bò là một con vật thuộc loài nhai lại. Dưới con mắt của khách du
    ngoạn, nó là con vật làm cho phong cảnh tăng thêm vẻ đẹp khi trên thảm cỏ
    nó ngẩng cái mõm đen nhánh đẫm hơi sương của nó lên. Với trẻ em thành
    thị, đó là nguồn cung cấp cà phê sữa và phó mát đánh kem. Nhưng đối với
    người nông dân, nó còn quí báu hơn nhiều. Dù cho nghèo xác nghèo xơ, dù
    gia đình con cái có đông đến đâu, có một con bò sữa trong chuồng cũng
    không sợ đói. Chỉ một cái thừng hay một sợi dây quấn trên sừng thôi cũng
    đủ để cho một em bé chăn dắt nó ăn dọc các con đường phủ đầy cỏ, ở những
    nơi không thuộc về ai. Và thế là chiều đến, cả nhà có bơ nấu xúp, có sữa để
    ăn với khoai tây. Bố mẹ, con cái, lớn nhỏ đều sống nhờ vào con bò sữa.
    Cũng nhờ có con bò sữa mà má con tôi sống đầy đủ đến nỗi hầu như

    không cần ăn thịt. Không những nó là vú nuôi của chúng tôi, nó còn là bầu
    bạn, là chỗ chân tình.
    Thật vậy, đừng tưởng bò là một con vật ngu ngốc. Trái lại, nó rất thông
    minh, nó có những đức tính mà biết cách rèn luyện thì còn phát triển nhiều.
    Chúng tôi vỗ về nó, nói chuyện với nó và nó hiểu chúng tôi. Về phần nó, với
    đôi mắt to, tròn, hiền dịu, nó biết cách làm cho chúng tôi hiểu nó muốn gì,
    nó cảm thấy thế nào. Nói tóm lại, chúng tôi rất yêu thương nó và nó cũng
    yêu thương chúng tôi.
    Ấy thế mà phải lìa bỏ nó đấy! Vì rằng chỉ có cách “bán con bò sữa đi” thì
    mới làm cho ông Barberin thỏa dạ.
    Một bác lái tới nhà chúng tôi. Bác ta xem xét con Roussette rất kỹ, sờ nắn
    nó mãi, vừa sờ vừa lắc đầu ra vẻ không ưng ý. Bác ta nhắc đi nhắc lại hàng
    trăm lần rằng con bò không vừa ý bác ta chút nào. Bác chê nó là bò nhà
    nghèo, khó bán lại lắm. Không có sữa, bơ lại kém chất. Chê nhún chán, rút
    cục bác cũng đồng ý mua, nhưng bảo mua là vì lòng tốt, muốn giúp má
    Barberin thôi, và cũng vì thấy má là người trung hậu.
    Tội nghiệp cho con Roussette. Hình như nó hiểu cả nên nó nhất định
    không chịu ra khỏi chuồng và kêu rống lên. Bác lái đưa chiếc roi da quấn ở
    cổ bác cho tôi và bảo:
    - Này chú bé, luồn ra phía sau mà đuổi nó ra.
    - Ấy chớ, cái đó không được.
    Má Barberin nói thế rồi cầm lấy chiếc dây dắt và dịu dàng dỗ nó: “Nào cô
    gái, đi đây, đi đây nào!” Thế là con Roussette nghe theo không cưỡng lại
    nữa. Ra tới đường, bác lái cột nó vào sau xe. Nó đành phải bước líu ríu theo
    con ngựa. Chúng tôi trở vào nhà rồi, nhưng mãi một lúc lâu vẫn còn nghe
    thấy tiếng nó rống.
    Thế là chẳng còn sữa, chẳng còn bơ nữa. Buổi sáng một mẩu bánh mì
    suông, buổi chiều khoai tây chấm muối.
    Bán con Roussette được ít hôm thì tới ngày thứ ba ngả mặn sau tuần chay.
    [4] Năm trước, nhân dịp này má Barberin đã thết tôi một bữa bánh kẹp và
    bánh rán ra trò. Tôi ăn nhiều, rất nhiều, khiến má hết sức vui thích. Nhưng
    mà hồi đó còn con Roussette nên còn sữa để nhào bột và có bơ để rán. Bây
    giờ không còn con Roussette thì cũng chẳng có sữa, chẳng có bơ, chẳng có
    ngày thứ ba ngả mặn nữa rồi! Tôi buồn rầu nghĩ bụng thế. Nhưng má
    Barberin đã dành cho tôi một sự bất ngờ. Xưa nay má vốn không quen vay
    mượn, nhưng lần này má cũng cố vay của bà hàng xóm này một chén sữa,
    của bà kia một miếng bơ. Vì thế, đến trưa tôi về nhà thì thấy má đang trút bột
    vào một nồi đất lớn.

    - Ơ này, bột mì!
    Tôi vừa nói thế, vừa lại gần má. Má mỉm cười trả lời:
    - Phải rồi, đúng là bột mì đấy, Rémi ạ! Bột mì trắng hảo hạng. Này con
    xem, mùi thơm phức!
    Tôi không có gan hỏi má lấy bột ra làm gì. Chính vì tôi nóng lòng muốn
    biết quá nên tôi lại càng không dám hỏi. Vả lại tôi đã định giả vờ như không
    biết hôm nay là ngày thứ ba ăn mặn để khỏi tủi lòng má. Má nhìn tôi, hỏi:
    - Người ta dùng bột mì làm gì nào?
    - Làm bánh mì.
    - Còn làm gì nữa?
    - Khuấy cháo.
    - Rồi còn làm gì nữa?
    - Chà! Con không biết.
    - Có, con biết đấy. Nhưng con là một đứa trẻ ngoan, nên con không nói ra
    đấy thôi. Con biết hôm nay là ngày thứ ba ăn mặn, tức là ngày bánh kẹp,
    bánh rán. Nhưng con thấy nhà không có sữa, có bơ nên con không nỡ nhắc
    đến, có phải không con?
    - Ôi, má ơi!
    - Má đã đoán trước nên má xoay xở để cho ngày thứ ba ăn mặn của con
    không đến nỗi xám ngắt. Này con nhìn vào trong cái thùng gỗ kia mà xem.
    Tôi nhanh nhảu mở nắp thùng lên thì quả thấy nào bơ, nào sữa, nào trứng,
    có cả ba quả táo nữa. Má nói:
    - Đưa trứng đây cho má. Trong lúc má đập trứng, con gọt táo đi.
    Tôi cắt táo ra từng khoanh. Má đập trứng vào bột và đánh lên, thỉnh
    thoảng lại đổ vào một thìa sữa. Khi bột đã khuấy đều, má Barberin vần cái
    nồi lên trên tro nóng. Thế là chỉ còn đợi đến chiều thôi, vì đến buổi tối chúng
    tôi mới ăn bánh kẹp và bánh rán.
    Thú thật, cái ngày hôm đó, tôi thấy nó dài làm sao và đã đôi ba lần tôi
    chạy đến nhấc chiếc khăn phủ trên nồi bột để dòm thử. Má bảo:
    - Con làm thế lạnh bột mất, rồi nó không dậy men tốt đâu!
    Nhưng bột dậy rất tốt. Trên mặt bột, có những bong bóng phồng lên, vỡ lỗ
    chỗ. Từ cái nồi bột lên men ấy tỏa ra một mùi trứng và sữa ngon lành. Má
    bảo:
    - Con bẻ cho má một mớ củi vụn. Phải đốt lửa cho đượm, đừng có khói.
    Rồi má thắp nến lên:

    - Con cho thêm củi vào lò đi.
    Tôi làm ngay không đợi nói hai lần, và ngay sau đó, một ngọn lửa cao bốc
    cháy trong lò, ánh sáng ấy chập chờn tỏa ra khắp bếp. Má Barberin lấy cái
    chảo treo ở tường đặt lên bếp lò.
    - Đưa bơ đây cho má!
    Má lấy mũi dao xén một cục bơ bằng quả hồ đào cho vào chảo. Bơ chảy
    ra, reo xèo xèo. Ôi! Cái mùi thơm làm nhỏ dãi, cái mùi thơm vì đã vắng lâu
    ngày nên càng kích thích miệng lưỡi ta! Ôi! Khúc nhạc vui vẻ của chảo bơ
    liu diu tí tách trên lò!
    Tôi chăm chú theo dõi bản nhạc ấy, nhưng vẫn nghe như ở ngoài sân có
    tiếng chân người. Ai đến ám chúng tôi giờ này nhỉ? Hẳn lại là một bà hàng
    xóm sang xin lửa đây.
    Tôi không thèm chú ý, vì má Barberin vừa vục môi vào trong nồi đất, múc
    đổ vào lòng chảo một mẻ bột trắng tinh. Quả không phải là lúc nghĩ vơ vẩn
    đến chuyện khác!
    Nhưng chính vào lúc bấy giờ thì có tiếng gậy lạch cạch trên bục cửa, rồi
    cánh cửa thình lình mở toang. Không ngoảnh cổ ra, má Barberin hỏi:
    - Ai đấy?
    Một người đàn ông bước vào. Dưới ánh lửa chiếu táp vào người ông ta, tôi
    thấy ông mặc áo bờlu trắng, tay cầm cái gậy lớn. Ông nói, giọng cục cằn:
    - Ở đây người ta tiệc tùng gì đấy à? Xin cứ tự nhiên.
    Má Barberin vội vàng đặt chảo xuống đất kêu lên:
    - Chao, trời ơi! Ông Jérôme đấy ư?
    Rồi má cầm tay tôi, đẩy tôi ra trước mặt người đó. Ông ta vẫn đứng ở bục
    cửa. Má nói:
    - Ba con đấy!

    II. NGƯỜI BỐ NUÔI
    Tôi tiến lại gần ông ta, định ôm ông ta, nhưng ông ta lấy đầu gậy cản tôi
    lại:
    - Cái thằng này là thằng nào?
    - Thằng Rémi đấy!
    - Má nó có nói với tôi là…
    - Ờ… vâng, nhưng mà… không phải, bởi vì rằng…
    - À, không phải, không phải!…
    Ông ta giơ cao chiếc gậy, đi lại chỗ tôi. Tự nhiên tôi lùi lại.
    Nào tôi đã làm gì sai trái? Tôi có tội tình gì? Tại sao lại đối xử với tôi như
    thế khi tôi chạy đến định ôm hôn ông? Tôi chưa kịp suy nghĩ về những câu
    hỏi như vậy đang dồn dập trong đầu óc rối beng của tôi thì đã nghe ông ta
    nói:
    - Các người đang chuẩn bị ăn mặn ngày thứ ba đây. Thật là đúng lúc vì tớ
    đang đói ngấu. Ăn tối có gì?
    - Tôi đang làm bánh kẹp.
    - Tôi biết. Nhưng mà má nó định cho một người mang mười dặm đường
    trên đôi chân ăn bánh kẹp à?
    - Nhà chẳng còn gì cả, tôi có biết ông về đâu?
    - Sao? Không còn gì à? Không có gì ăn tối à?
    Ông ta đưa mắt nhìn quanh nhà:
    - Có bơ đây này.
    Ông lại đưa mắt lên trần nhà nhìn vào chỗ xưa kia vẫn treo mỡ lợn. Nhưng
    đã từ lâu các nóc treo trống trơ không có gì cả, chỉ có mấy túm hành và tỏi
    lủng lẳng ở xà nhà. Ông ta lấy gậy chọc cho một túm hành rơi xuống và nói:
    - Hành đây! Bốn năm củ hành, một miếng bơ, thế là có một nồi xúp ngon.
    Má nó hãy bỏ bánh kẹp ra và cho hành vào chảo phi đi.
    Bỏ bánh kẹp ở chảo ra! Má Barberin không cãi lại. Chẳng những thế, bà
    còn vội vã làm theo lời chồng trong lúc ông ta ngồi trên chiếc ghế dài ở cạnh
    lò sưởi.
    Tôi không dám rời khỏi chỗ mà cái gậy của ông ta đã đẩy tôi lùi đến. Tôi
    đứng tựa vào chiếc bàn, để ý ngắm con người ông. Ông ta tuổi độ năm mươi,
    vẻ mặt cục mịch, dáng người nghiệt ngã. Thương tích đã làm cho đầu ông
    lệch về bên phải và cái tật đó càng khiến cho người ta thấy chờn chợn khi

    nhìn thấy ông. Má tôi lại bắc chảo lên bếp. Ông Barberin nói:
    - Thế má nó định nấu xúp với chút xíu bơ thế kia à.
    Rồi tự tay ông cầm đĩa bơ chút sạch vào chảo.
    Thế là đi đời bơ, và cố nhiên cũng đi đời bánh kẹp!
    Giá như vào lúc khác thì chắc chắn cái tai họa ấy đã làm cho tôi xúc động
    lắm. Nhưng khi đó tôi chẳng còn bụng dạ nào mà nghĩ đến bánh kẹp và bánh
    rán nữa. Tôi chỉ còn băn khoăn về mỗi một việc: chính cái con người nghiệt
    ngã ấy lại là ba tôi.
    “Ba tôi! Ba tôi!” Đó là mấy tiếng mà tự nhiên tôi lặp đi lặp lại như cái
    máy.
    Chưa bao giờ tôi hình dung rõ rệt như thế nào là một người cha. Tôi tưởng
    tượng lờ mờ rằng người cha chẳng qua chỉ là một người mẹ có giọng nói ồ ồ
    mà thôi.
    Đến nay, khi nhìn thấy người cha ở đâu trên trời rơi xuống cho tôi đó, tôi
    cảm thấy đau đớn hãi hùng. Vừa rồi tôi muốn ôm hôn cha tôi, nhưng cha tôi
    đã lấy đầu gậy đẩy tôi ra. Tại sao vậy? Khi tôi hôn má Barberin chẳng bao
    giờ má đẩy tôi ra cả, trái lại má còn bế xốc tôi lên, ôm chặt tôi vào lòng.
    Ông ta bảo tôi:
    - Đừng cứ sừng sững như trời trồng ấy, mau mà dọn bát đĩa ra bàn đi chứ!
    Tôi vội vàng tuân lệnh. Xúp đã chín, má Barberin múc ra đĩa. Thế là từ
    bên lò sưởi, ông ta đứng dậy đi lại bàn ngồi xuống và bắt đầu ăn. Thỉnh
    thoảng ông chỉ ngừng lại để nhìn tôi. Tôi không tài nào nuốt được, vì bối rối,
    lo ngại. Tôi cũng nhìn ông ta nhưng chỉ đám nhìn trộm. Khi gặp đôi mắt ông
    ta thì tôi lại cúi mặt xuống. Đột nhiên ông cầm thìa chỉ vào tôi:
    - Thường ngày thằng này nó ăn có khỏe hơn bữa nay không?
    - Ồ, nó ăn được lắm chứ!
    - Mặc xác nó! Ít ăn, ít uống thì còn được!
    Tất nhiên là tôi chẳng muốn nói gì và cả má Barberin cũng không muốn
    bắt chuyện. Má đi đi lại lại quanh bàn, chăm chú phục dịch ông chồng. Ông
    ta lại hỏi tôi:
    - Mày không đói à?
    - Không.
    - Thế thì đi ngủ đi, và cố ngủ ngay nhé, không thì tao nổi giận lên đấy!
    Má Barberin đưa mắt nhìn tôi, ý muốn bảo tôi vâng lời đi, đừng có cãi lại.
    Nhưng lời dặn dò đó cũng thừa vì tôi không hề có ý chống đối.

    Như ở phần lớn nhà nông dân, nhà bếp của chúng tôi cũng dùng làm
    buồng ngủ. Cái bàn, cái thùng gỗ, cái tủ đựng bát đĩa, nói chung những đồ
    đạc được dùng cho việc dọn ăn đều kê cạnh lò sưởi. Ở phía bên kia là giường
    ngủ. Giường của tôi ở xung quanh có chăng diềm vải đỏ.
    Tôi vội vàng cởi áo lên nằm. Nhưng không sao ngủ được.
    Người ta không ngủ theo mệnh lệnh. Người ta chỉ ngủ khi buồn ngủ và
    khi trong lòng yên tĩnh. Vậy mà tôi lại không buồn ngủ và trong lòng tôi
    cũng không yên tĩnh. Trái lại tôi rất băn khoăn, hơn nữa còn đau khổ.
    Cái người ấy mà là cha mình ư? Là cha thì tại sao ông ta lại đối xử với
    mình tàn nhẫn thế?
    Úp mặt vào tường, tôi cố gắng xua đuổi những ý nghĩ ấy và mong ngủ
    thiếp đi theo lệnh của ông ta. Nhưng không tài nào nhắm mắt được. Giấc ngủ
    không đến và chưa bao giờ tôi lại thấy tỉnh táo như lần này.
    Một lúc sau, không biết chừng bao nhiêu lâu, tôi nghe thấy có người lại
    gần giường tôi. Nghe bước chân đó chậm chạp, nặng nề, kéo lê chân, tôi biết
    ngay không phải là má Barberin. Một hơi thở nóng hổi bay qua trên tóc tôi.
    Có tiếng thầm thì hỏi:
    - Mày ngủ chưa?
    Tôi nhất định không trả lời vì mấy tiếng: “tao nổi giận lên” vẫn còn văng
    vẳng bên tai tôi.
    - Nó ngủ rồi đấy! – Má Barberin nói – Hễ nằm xuống là ngủ ngay, nó
    quen thế rồi. Ông cứ nói, không sợ nó nghe thấy đâu.
    Đáng lẽ tôi phải nói tôi chưa ngủ, nhưng tôi không dám. Người ta đã ra
    lệnh cho tôi ngủ, tôi không ngủ là có lỗi.
    Má Barberin hỏi:
    - Việc kiện tụng của ông đến đâu rồi?
    - Thua rồi! Quan tòa xử tôi bị nạn là lỗi tại tôi tự dưng đứng dưới giàn
    giáo, chủ thầu không phải đền đồng nào cả.
    Đến đấy, ông ta đấm bàn đánh thình một cái rồi lầu bầu chửi rủa, không
    nói được một câu tử tế. Ngay sau đó, ông ta lại tiếp:
    - Thua kiện, tiền mất, tật mang, nghèo đói, thế đấy! Thế mà còn chưa đủ
    đâu! Bước chân về đến nhà lại còn thấy người ta cưu mang một đứa trẻ. Má
    nó hãy nói rõ tôi nghe tại sao má nó không làm theo lời tôi dặn?
    - Vì tôi không làm được!
    - Không mang nó đi trại trẻ rơi nổi à?
    - Một đứa bé nuôi bằng sữa mình và mình thương yêu thì sao đành lòng

    vứt bỏ đi như thế được?
    - Có phải con đẻ của má nó đâu!
    - Ấy, tôi cũng muốn làm theo lời ông bảo nhưng chính lúc đó nó lại ốm.
    - Ốm à?
    - Phải, nó ốm, mang nó đến trại trẻ rơi như thế là không phải lúc, phải
    không ông? Mang đến thì cũng bằng giết nó đi ấy.
    - Thế khi nó đã khỏi ốm rồi thì sao?
    - Nào nó có khỏi ngay cho đâu! Hết trận ốm này lại đến trận ốm khác: nó
    ho, tội nghiệp thằng bé, nó ho nghe mà xót ruột. Ấy thằng Nicolas nhà ta mất
    đi cũng vì thế. Tôi cảm thấy đưa thằng này ra tỉnh thì nó cũng đến chết như
    thằng bé ấy thôi.
    - Thế còn sau đó?
    - Ngày tháng qua đi. Tôi đã cố công lần nữa đến lúc đó thì tôi tưởng tốn ít
    nữa chẳng sao.
    - Hiện giờ nó bao nhiêu tuổi rồi?
    - Lên tám.
    - Thế thì năm nay lên tám, nó sẽ về cái chỗ mà đáng lẽ xưa kia nó phải về,
    và như thế nó lại càng cảm thấy khó chịu hơn. Ấy làm như bà ngày trước chỉ
    tổ hại nó thôi.
    - Ôi, ông Jérôme ơi, ông đừng làm thế!
    - Đừng làm thế! Ai cấm đoán tôi? Má nó tưởng nhà ta giữ nó mãi được
    đấy à?
    Một lúc im lặng, Từ nãy tôi xúc động quá, cứ thấy nghẹn tắc ở cổ, bây giờ
    mới thở được. Giây lát sau má Barberin nói tiếp:
    - Chao ôi! Thành phố Paris đã làm cho tính tình ông thay đổi đi nhiều quá!
    Trước kia chưa lên Paris ông không ăn nói như thế.
    - Cũng có lẽ. Có điều này chắc chắn: Paris có làm cho tôi đổi tính thì nó
    cũng làm cho tôi què quặt nữa. Bây giờ làm thế nào nuôi được miệng bà,
    miệng tôi? Hết sạch cả tiền! Con bò sữa bán mất rồi. Mình đã chẳng có cái gì
    bỏ vào mồm, lại còn đi nuôi báo cô một thằng bé không phải là con mình
    nữa hay sao?
    - Nó là con tôi!
    - Chẳng phải là con bà mà cũng không phải là con tôi. Nó không phải cái
    hạng con nông dân. Trong lúc ăn tối tôi ngắm nó mãi: nó là một thằng bé ẻo
    lả, gầy còm, tay chân lẻo khẻo.

    - Nó xinh nhất vùng đấy!
    - Tôi có nói chuyện xấu đẹp đâu! Xinh mà làm quái gì! Chỉ cần khỏe thôi!
    Người ta có bẻ cái xinh ra mà ăn đâu! Cứ nhìn đôi vai nó mà xem, có phải là
    con nhà lao động không? Nó là con nhà thành thị, ở đây chúng ta không cần
    cái ngữ ấy.
    - Tôi cam đoan với ông nó là một đứa trẻ ngoan, nó tinh khôn như một
    con mèo, và lại tốt bụng nữa. Nó sẽ làm lụng cho mình.
    - Trong lúc chờ đợi nó làm cho mình thì mình hãy làm cho nó đã! Mà tôi
    thì tôi không làm được nữa.
    - Thế đến khi bố mẹ nó đòi nó về thì ông nói sao?
    - Bố mẹ nó à! Nó có bố mẹ không đã chứ? Nếu có thì từ tám năm nay, tất
    bố mẹ nó đã đi tìm nó và gặp nó rồi! Ôi chao! Tôi thật là ngu xuẩn, cứ tin
    chắc là nó có bố mẹ, một ngày kia bố mẹ nó sẽ đến xin nó và đền công bấy
    lâu mình nuôi nấng nó. Chẳng qua mình là một thằng ngây, một thằng ngốc.
    Đừng tưởng rằng tã nó sang, có viền ren, thì tất bố mẹ nó sẽ đi tìm nó… Có
    lẽ bố mẹ nó chết cả rồi cũng nên.
    - Nếu bố mẹ nó chưa chết, và một ngày kia họ đến hỏi chúng ta thì thế
    nào? Tôi thì tôi tin chắc là họ sẽ đến.
    - Đàn bà thật là khó nói, đã muốn cái gì thì cứ giữ khư khư!
    - Nhưng mà nếu họ đến thì thế nào cơ chứ?
    - Thì mình bảo họ lại trại trẻ rơi mà hỏi. Thôi nói thế đủ rồi. Câu chuyện
    này làm tôi bực mình lắm. Ngày mai tôi sẽ dẫn nó đến ông xã trưởng. Bây
    giờ tôi lại thăm bác François một chút, chừng một tiếng tôi về.
    Cánh cửa mở ra rồi đóng lại. Ông ta đi rồi. Tôi vùng dậy và gọi má
    Barberin:
    - Ôi! Má ơi!
    Má chạy đến bên giường tôi.
    - Má không để con đi trại trẻ rơi, phải không hả má?
    - Không Rémi của má ạ, không đâu!
    Và má ôm chặt tôi vào lòng, hôn tôi âu yếm. Sự vuốt ve của má làm tôi
    hởi dạ, nước mắt ngừng chảy. Má dịu ngọt hỏi:
    - Thế con không ngủ à?
    - Nào phải tại con!
    - Má không mắng con đâu. Thế ông Jérôme nói gì, con nghe hết cả chứ?
    - Vâng, con nghe nói má không phải là mẹ đẻ của con, mà ông ấy cũng

    không phải là cha đẻ của con.
    Tôi nói câu ấy với hai giọng khác nhau: tôi đau buồn nhận thấy má không
    phải là mẹ đẻ tôi, nhưng tôi lại thấy sung sướng, gần như tự hào vì ông ta
    không phải là cha tôi. Hai tình cảm trái ngược nhau bộc lộ qua giọng nói.
    Nhưng má Barberin hình như không chú ý gì đến cái đó. Má nói:
    - Đáng lẽ ra má phải nói thật với con từ trước kia. Nhưng con ăn ở với má,
    con đẻ cũng không bằng, cho nên má không đành lòng bỗng dưng nói cho
    con biết má không phải là mẹ đẻ của con! Con ơi! Con đã nghe thấy đấy,
    không ai biết mẹ đẻ của con cả. Bà ấy còn sống hay đã chết rồi, nào ai hay?
    Vào một buổi sáng Paris, ông Jérôme đi làm, qua một phố rộng rãi có trồng
    cây, phố Breteuil, thì bỗng nghe có tiếng trẻ con khóc. Tiếng khóc hình như
    từ trong hốc cổng khu vườn vọng ra. Hôm đó vào tháng hai, lúc trời tang
    tảng sáng. Ông bèn đi lại gần cửa và trông thấy một đứa trẻ nhỏ nằm ở trên
    bục cửa. Ông nhìn ra chung quanh xem có ai không để gọi thì chợt thấy một
    người đàn ông ở đằng sau một gốc cây to chạy ra rồi biến mất. Chắc hẳn là
    người đó đã giấu đứa trẻ ở khung cửa và đứng rình xem có ai nhặt nó không.
    Thế là ông Jérôme đâm ra lúng túng vì đứa nhỏ la hét ầm lên. Hình như nó
    hiểu là có người đến cứu nó, nên nó không muốn bỏ lỡ dịp này. Trong lúc
    ông Jérôme còn chưa biết xử trí ra sao thì nhiều người thợ khác cũng vừa
    đến và mọi người bàn là phải đem đến trình ông cảnh sát trưởng. Thằng bé
    thì vẫn cứ la hét. Người ta tưởng nó rét. Nhưng khi vào phòng giấy của ông
    cảnh sát trưởng, phòng nóng ấm thế mà nó vẫn cứ kêu, thì người ta đoán là
    nó đói. Người ta chạy đi tìm một bà hàng xóm cho nó bú. Nó vồ ngay lấy v...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML