CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Hai So Phan Jeffrey Archer.pdf

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hoài An
    Ngày gửi: 15h:50' 05-07-2025
    Dung lượng: 3.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Hai người đã giúp cho cuốn sách này hình thành được, và
    cả hai người đều muốn giấu tên. Một người đang soạn cuốn
    Hồi ký của đời mình, còn một người đang là nhân vật quan
    trọng ở Hoa Kỳ.
    “Với cuốn Kane And Abel này, Jeffrey Archer đứng vào
    hàng mười nhà văn đầu bảng của thế giới hiện nay”
    • The Lost Angeles Times
    “Tôi thách bất cứ ai không thích cuốn sách này, vì nó là
    một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi được đọc từ
    trước đến nay.”
    • Otto Preminger
    “Một cuốn tiểu thuyết có sức mạnh phi thường”
    • The Evening News
    “Jeffrey Archer là một thiên tài về kể chuyện”
    • Susan Howatch

    PHẦN MỘT

    CHƯƠNG 1

    Ngày 18 tháng 4, 1906
    Slonim, Ba Lan
    Chỉ sau khi đã chết rồi cô ta mới không kêu hét nữa. Và
    cũng chính vào lúc đó đứa bé mới bắt đầu gào khóc.
    Chú nhỏ đang đi săn thỏ trong rừng gần đó nghe thấy lạ
    nhưng không phân biệt được đó là tiếng hét cuối cùng của
    người đàn bà hay tiếng khóc đầu tiên của đứa bé. Đột nhiên
    chú quay người lại, cảm thấy có chuyện gì nguy hiểm, đôi mắt
    chú dò tìm xem có con thú nào bị đau. Chú chưa bao giờ nghe
    một con thú nào kêu lên như vậy. Chú cẩn thận đi từng bước
    đến gần nơi phát ra tiếng kêu. Lúc này tiếng kêu đã thành rên
    rỉ nhưng vẫn không giống với tiếng của bất cứ con thú nào chú
    được biết. Chú chỉ mong con thú này nhỏ để chú đủ sức giết
    được và để có cái gì mới cho món thịt thỏ bữa tối.
    Chú thợ săn nhỏ rón rén phía bờ sông, nơi có tiếng kêu lạ
    vẳng đến. Chú nấp sau từng gốc cây để có chỗ dựa nếu xảy ra
    chuyện gì. Chú nhớ lời bố dặn là chớ bao giờ đứng ra ngoài
    chỗ trống. Ra đến bìa rừng, chú đã có thể nhìn rõ cả một
    khoảng thung lũng kéo dài xuống đến sông, và lúc này chú
    mới nhận ra tiếng kêu quái lạ ấy không phải phát ra từ một con
    thú bình thường. Chú bò dần về phía có tiếng rên. Đến đây,
    chú đã hoàn toàn ra chỗ trống. Bỗng chú trông thấy người đàn
    bà nằm đó, áo váy vén lên ngang ngực còn hai chân thì giang
    rộng. Chú chưa hề thấy người đàn bà nào như thế bao giờ. Chú
    chạy vội đến bên cạnh, nhìn xuống bụng người đàn bà và chú
    hoảng sợ. Giữa hai chân người đàn bà có một vật nhỏ đỏ hỏn

    và ướt đẫm, dính vào người bằng một cái gì đó như sợi dây
    thừng. Chú bé thợ săn bỏ mấy con thỏ mới lột da xuống rồi
    quỳ bên cạnh vật nhỏ bé ấy.
    Chú ngỡ ngàng nhìn một lúc rồi lại quay ra nhìn người đàn
    bà. Chú chưa biết mình phải làm thế nào. Thân thể người đàn
    bà đã tái xanh vì rét lạnh. Cô ta chỉ ngoài hai mươi nhưng
    khuôn mặt đã già cỗi khiến chú bé tưởng cô đã đến tuổi trung
    niên. Chú biết là cô ta đã chết rồi. Chú bỗng nhấc cái cơ thể
    nhỏ bé lên. Chú cũng không biết tại sao mình làm như vậy. Có
    lẽ vì chú thấy đứa bé đưa mấy ngón tay nhỏ xíu lên cào vào bộ
    mặt nhăn nhúm của nó nên chú sợ chăng. Nhấc lên rồi chú
    mới biết là giữa người mẹ với đứa con vẫn còn dính vào nhau
    bằng một sợi dây nhầy nhụa.
    Trước đó ít ngày chú đã được xem một con cừu đẻ. Bây giờ
    chú cố nhớ lại. Chú biết người chăn cừu đã làm như thế nào,
    nhưng chú không biết là với một đứa bé thì có thể làm như vậy
    được không? Đứa bé đã thôi không rên rỉ nữa. Chú cảm thấy
    mình phải gấp rút quyết định. Chú rút con dao ra, con dao chú
    vừa dùng để lột da thỏ, lau vào tay áo rồi, ngập ngừng một
    chút, chú cắt đứt sợi dây ở chỗ gần bụng đứa bé. Máu tuôn ra
    ở hai đầu dây. Chú thử nhớ lại xem người chăn cừu đã làm
    như thế nào. Ông ta thắt một cái nút để máu khỏi chảy. À,
    đúng thế rồi. Chú bứt một cọng cỏ dài ở dưới đất và thắt vội
    vào đầu dây rồi bế đứa bé lên. Chú từ từ đứng dậy và bỏ lại đó
    ba con thỏ với người đàn bà đã chết. Trước lúc đi, chú khép
    hai chân lại cho người mẹ và kéo chiếc váy xuống đến đầu gối.
    Chú chỉ biết làm như vậy được thôi.
    “Ôi, lạy Chúa!” Mỗi khi làm điều gì hoặc rất tốt hoặc rất
    xấu, chú vẫn thường thốt lên như vậy. Trong trường hợp này,
    chú chưa thể biết là xấu tốt như thế nào.

    Chú bé thợ săn cứ thế chạy vội về nhà. Chú biết là mẹ chú
    chỉ chờ chú mang thỏ về là sửa soạn bữa ăn tối. Bà mẹ sẽ hỏi
    hôm nay chú săn được mấy con. Nhà có những tám miệng ăn,
    phải có ít nhất là ba con thỏ mới đủ. Đôi khi chú kiếm một con
    vịt hoặc con ngỗng, có lúc được cả một con chim trĩ bay lạc từ
    trong trại của Nam tước ra đây. Bố chú bé làm ở trang trại ấy.
    Nhưng hôm nay chú không dám rời tay khỏi đứa bé chú đang
    bế, chú lấy chân đá vào cửa để mẹ nghe thấy và ra mở. Chú
    lặng lẽ giơ đứa bé lên cho mẹ xem. Người mẹ không đỡ ngay
    đứa bé mà còn đưa tay lên ngực và nhìn nó một lát.
    “Ôi, lạy Chúa!” Người mẹ nói và làm dấu thánh giá.
    Chú ngước lên nhìn mẹ xem bà vui hay buồn. Nhưng đôi
    mắt người mẹ cúi xuống nhìn một cách rất hiền dịu chú chưa
    từng thấy. Chú biết ngay rằng điều mình làm là tốt.
    “Em bé, hả mẹ?”
    “Con trai,” mẹ chú gật đầu khẽ nói. “Con tìm thấy ở đâu
    thế?”
    “Ở gần bờ sông, mẹ ạ.” chú đáp.
    “Còn mẹ đứa bé đâu?”
    “Chết rồi.”
    Người mẹ làm dấu thánh giá.
    “Con mau chạy đi nói với bố. Bố sẽ tìm bà Urszula Wojnak
    trên trại. Rồi con phải dẫn cả hai người đến chỗ có người mẹ
    của đứa bé này. Sau đó mọi người về đây ngay nhé.”
    Chú thợ săn nhỏ trao đứa bé cho mẹ. Chú mừng thầm trong
    bụng là mình đã không bỏ mặc đứa bé. Trao được cho mẹ rồi,
    chú lau hai tay vào quần và chạy đi tìm bố.
    Người mẹ lấy vai đẩy cửa vào trong và gọi đứa con gái lớn
    ra đặt nồi nước lên bếp lò. Rồi bà ngồi xuống một chiếc ghế

    gỗ, cởi khuy áo và ấn đầu vú vào cái miệng nhăn nhúm của
    đứa bé. Thế là, Sophia, đứa con gái mới được sáu tháng, tối
    nay sẽ phải nhịn không còn sữa ăn nữa. Người mẹ lấy làm lo
    buồn.
    “Nhưng sao lại thế nhỉ?” Người mẹ bỗng thốt lên và kéo
    chiếc khăn choàng lên cánh tay mình cùng với đứa bé. “Ôi,
    chú bé tội nghiệp này, để đến sáng mai thì chú cũng chết mất
    thôi.”
    Lúc bà đỡ già Urszula Wojnak tắm rửa và thắt lại rốn cho
    đứa bé thì người mẹ không nhắc lại những ý nghĩ vừa rồi nữa.
    Còn ông chồng chỉ đứng lặng yên mà nhìn.
    “Có khách vào nhà tức là có Chúa vào nhà.” người mẹ chợt
    nhắc đến một câu tục ngữ Ba Lan.
    Ông chồng nhổ toẹt một cái.
    “Đồ chết dịch ở đâu. Nhà này có thiếu gì trẻ con nữa chứ!”
    Người mẹ làm như không nghe thấy ông ta nói gì, chỉ đưa
    tay vuốt mấy sợi tóc đen trên đầu đứa bé.
    “Ta đặt tên nó là gì nhỉ?” Người đàn bà nói và ngước mắt
    nhìn chồng.
    “Ai mà biết được? Cứ để cho nó chết mà không có tên tuổi
    gì hết là xong.” Ông nhún vai.

    CHƯƠNG 2

    Ngày 18 tháng 4, 1906
    Boston, Massachusetts
    Bác sĩ nắm lấy cổ chân đứa bé mới đẻ nhấc cao lên và phát
    cho nó một cái vào đít. Đứa bé bật khóc.
    Ở Boston, bang Massachusetts, có một bệnh viện chuyên
    phục vụ cho những ai mắc các chứng bệnh của người giàu có,
    và vào một số trường hợp đặc biệt nào đó bệnh viện cũng kiêm
    cả việc đỡ đẻ cho những trẻ sơ sinh giàu có được ra đời. Ở
    bệnh viện đa khoa Massachusetts này, các bà mẹ không phải
    kêu hét và cũng không phải mặc quần áo bình thường như khi
    sinh đẻ. Lệ là như thế rồi.
    Một người đàn ông trẻ tuổi đi đi lại lại bên ngoài phòng đẻ.
    Bên trong có hai bác sĩ khoa nhi cùng với một bác sĩ riêng của
    gia đình làm nhiệm vụ. Người cha này không dám để xảy ra
    chuyện gì cho đứa con đầu lòng của mình. Hai bác sĩ khoa nhi
    sẽ được trả một món tiền lớn với mỗi một việc là đứng đó để
    chứng kiến chuyện sinh đẻ thôi. Một trong hai bác sĩ ấy đã
    mặc sẵn bộ lễ phục bên dưới chiếc áo choàng trắng của bệnh
    viện, để hễ xong ở đây ra là ông đi dự tiệc ở đâu đó. Ông ta
    không thể nào vắng mặt trong ca sinh đẻ đặc biệt này được.
    Trước đó, cả ba bác sĩ đã rút thăm với nhau xem ai trong số họ
    sẽ trực tiếp đỡ đẻ.
    Cuối cùng, người rút trúng là bác sĩ đa khoa MacKenzie.
    Người cha vừa đi lại ngoài hành lang vừa nghĩ xem sẽ đặt tên
    gì cho hay và gặp nhiều may mắn. Thực ra, anh cũng không lo

    đến chuyện ấy lắm. Sáng hôm đó, Richard đã chở Anne, vợ
    anh, đến bệnh viện bằng cỗ xe ngựa hai bánh. Vợ anh đã tính
    đến hôm đó là ngày thứ hai mươi tám của tháng thứ chín rồi.
    Cô ta bắt đầu đau đẻ ngay từ sau lúc ăn sáng, nhưng người ta
    bảo anh là nếu có đẻ cũng phải đến chiều sau giờ ngân hàng
    anh đóng cửa. Anh là một người rất có kỷ luật, không muốn
    việc vợ mình đẻ ảnh hưởng gì đến giờ giấc của người khác.
    Anh vẫn cứ đi đi lại lại trong hành lang như vậy. Mấy cô y tá
    và bác sĩ trẻ tất tả ra vào đều biết anh đang có mặt ở đây. Đi
    qua gần chỗ anh, họ thì thầm với nhau nhưng ra xa họ lại nói
    bình thường. Anh không để ý chuyện đó, vì đã quen với mọi
    người vẫn đối xử với mình như vậy. Phần lớn những người ở
    đây chưa gặp anh bao giờ, nhưng mọi người đều biết anh là ai.
    Nếu đứa bé sinh ra hôm nay là con trai, có lẽ anh sẽ xây
    tặng cho bệnh viện một khu mới mà bệnh viện đang rất cần.
    Anh đã tặng họ một thư viện và một trường tiểu học rồi. Anh
    chàng sắp làm bố ấy giở tờ báo buổi chiều ra xem nhưng
    chẳng đọc chữ nào ra chữ nào. Anh bứt rứt lo lắng. Chắc là họ
    (anh gọi mọi người là “họ” hết) chẳng bao giờ có thể hiểu
    được là anh dứt khoát phải có con trai, để một ngày kia nó sẽ
    thay anh làm thống đốc và chủ tịch ngân hàng. Anh lật mấy
    trang báo buổi chiều: Đội Tất Đỏ Boston đấu với đội Cao
    Nguyên New York. Xong trận này chắc họ sẽ khao to. Anh chợt
    nhớ đến mấy dòng chữ to ở trang đầu, bèn lật ra xem. Báo đưa
    tin một vụ động đất tệ hại nhất trong lịch sử nước Mỹ. San
    Francisco bị tàn phá ghê gớm. Ít nhất có bốn trăm người chết.
    Ôi, bao nhiêu là tang tóc. Anh bỗng thấy bực dọc trong người.
    Chuyện động đất làm mất cả ý nghĩa việc đứa con anh sắp ra
    đời. Đáng lẽ người ta phải nhớ rằng trong những ngày này còn
    có sự kiện gì khác nữa chứ.
    Anh chưa hề có lúc nào nghĩ rằng đứa bé có thể là con gái.
    Anh lật tờ báo sang trang tài chính và xem lại mục thị trường

    chứng khoán: Chỉ số đã tụt xuống mấy điểm. Thế là vụ động
    đất chết tiệt kia đã làm giảm mất giá trị cổ phần của anh trong
    ngân hàng tới một trăm ngàn đôla. Tuy nhiên, với tài sản riêng
    của anh hiện vẫn còn trên 16 triệu đôla thì đến mấy vụ động
    đất như ở California cũng chưa làm gì anh được. Anh vẫn còn
    có thể hưởng tiền lãi suất, còn cả cái vốn 16 triệu kia vẫn sẽ
    nguyên đó để con trai anh sau này thừa kế. Anh tiếp tục đi lại
    trong hành lang và làm như vẫn đọc tờ báo buổi chiều.
    Ông bác sĩ khoa nhi đã mặc sẵn lễ phục khi nãy bước ra
    khỏi phòng đẻ để báo tin. Ông ta cảm thấy mình phải làm cái
    gì đó cho xứng với món tiền to sắp được lĩnh, và ông nghĩ
    mình cũng đang là người ăn mặc chỉnh tề nhất thông báo tin
    này. Hai người nhìn nhau một lúc. Ông bác sĩ thấy hơi xúc
    động nhưng không muốn biểu lộ gì trước mặt người mới làm
    bố.
    “Xin chúc mừng ông, ông đã có con trai, một chú bé nhỏ tí
    và rất xinh đẹp.”
    Người cha nghĩ bụng ông bác sĩ nói thế là dở quá, vì đứa
    nào mới sinh ra mà chả nhỏ tí? Nhưng cái tin con trai ông ta
    vừa nói đến giờ mới ngấm vào người anh. Suýt nữa anh bật
    lên nói tạ ơn Chúa. Ông bác sĩ hỏi thêm một câu nữa để phá
    tan cái im lặng lúc đó.
    “Ông đã định đặt tên cháu là gì chưa?”
    Người cha trả lời ngay, không ngập ngừng:
    “Cháu tên là William Lowell Kane.”

    CHƯƠNG 3

    Sau khi cả nhà đã hết nhộn nhịp với việc đứa bé mới về nhà
    này và mọi người đã đi ngủ từ lâu rồi, người mẹ vẫn còn thức
    với đứa bé trong tay. Helena Koskiewicz là một người rất tin ở
    cuộc sống. Bằng chứng là chị đã đẻ và nuôi được sáu đứa con.
    Trước đó chị đã để mất đi ba đứa từ lúc chúng còn nhỏ, nhưng
    chị cũng chưa để cho đứa nào chết một cách dễ dàng được.
    Chị chỉ mới ba mươi lăm tuổi nhưng biết là anh chồng
    Jasio của mình, trước đây vốn là một người rất khỏe mạnh, sẽ
    chẳng cho chị thêm đứa con nào nữa. Bây giờ Chúa đã đem
    đứa bé này đến cho chị, chắc chắn là nó phải sống. Helena
    cũng là con người có đức tin đơn giản, và điều đó cũng phải
    thôi, vì số phận chả bao giờ cho chị có được cuộc sống nào
    khác hơn cuộc sống đơn giản hiện nay. Người chị xanh xao
    gầy mòn, không phải do chị muốn như vậy mà do chị được ăn
    quá ít, lại làm lụng vất vả và không có tiền để dành. Chị chẳng
    bao giờ phàn nàn điều gì, nhưng các nếp nhăn trên mặt chị
    khiến chị chẳng khác gì một người đã có cháu gọi bằng bà chứ
    không phải người mẹ ở thế giới ngày nay. Đời chị chưa một
    lần nào được mặc quần áo mới.
    Helena bóp thật mạnh vào hai bên vú đến hằn đỏ cả lên.
    Mấy giọt sữa tuôn ra. Ở cái tuổi ba mươi lăm, tức là đã nửa
    đời người, ai nấy đều đã ít nhiều có kinh nghiệm thành thạo,
    và Helena chính đang ở thời kỳ như vậy.
    “Chú nhỏ của mẹ nào,” chị khẽ nói với đứa bé và ấn đầu vú
    vào miệng nó đang chum cong lên chờ sữa. Đôi mắt xanh của

    nó hé mở. Vài giọt mồ hôi lấm tấm trên mũi. Cuối cùng người
    mẹ cũng lăn ra ngủ từ lúc nào.
    Jasio Koskiewicz, anh chồng lờ đờ chậm chạp có bộ ria
    mép rất rậm và cũng là thứ quý nhất để anh ta có thể tự khẳng
    định được mình trong cuộc sống đi làm thuê khổ sở này, chợt
    tỉnh dậy vào lúc năm giờ, thấy vợ với đứa bé kia còn đang ngủ
    trên ghế chao. Đêm đó anh ta cũng không chú ý đến việc
    không có mặt vợ trên giường. Anh ta đứng chăm chăm nhìn
    vào đứa bé không cha không mẹ. Anh cảm ơn Chúa vì ít ra
    đứa bé không còn kêu hét nữa. Hay là nó chết rồi? Jasio nghĩ
    bụng thôi mình chả nên dính đến cái của nợ này nữa. Cứ việc
    đi làm như thường, để mặc cho vợ anh lo chuyện sống chết
    của nó, còn anh thì tính làm sao có mặt ở trang trại của Nam
    tước từ sáng sớm là được. Anh tu mấy hớp sữa dê vào bụng rồi
    quệt miệng vào tay áo. Sau đó một tay cầm khoang bánh và
    một tay vớ lấy chiếc bẫy anh ta lặng lẽ chuồn ra ngoài, bụng
    chỉ sợ người đàn bà thức dậy và bảo anh làm gì đó. Anh ta rảo
    bước về phía rừng, không muốn nghĩ gì đến đứa bé nữa và chỉ
    mong đây là lần cuối cùng anh ta trông thấy nó.
    Florentyna, cô con gái lớn, là người thứ hai bước vào bếp.
    Chiếc đồng hồ cổ không biết đã được bao nhiêu năm vừa điểm
    sáu giờ sáng. Nó chẳng qua chỉ để nhắc cho những ai trong
    nhà muốn biết giờ phải dậy hay phải đi ngủ mà thôi. Công việc
    hàng ngày của Florentyna chỉ có mỗi chuyện là chuẩn bị bữa
    ăn sáng, cụ thể là chia bọc sữa dê và miếng bánh mì đen ra cho
    đủ tám người trong gia đình cùng ăn. Việc chỉ có thế thôi
    nhưng nó đòi hỏi cô phải có cái khôn ngoan như của
    Solomon[1] mới làm nổi để không một ai có thể phàn nàn gì
    được là phần của người khác nhiều hơn phần mình.
    Florentyna là một cô gái mảnh khảnh, xinh đẹp, ai mới
    trông thấy cũng quý mến ngay được. Chỉ tội một điều là đã hai
    năm nay cô bé vẫn chỉ có một chiếc áo để mặc. Nhưng cứ

    trông thấy cô bé là người ta hiểu ngay tại sao trước đây anh
    chàng Jasio đã say mê mẹ cô đến thế. Florentyna có mớ tóc
    vàng óng mượt và đôi mắt màu hạt dẻ long lanh, bất chấp tuổi
    nhỏ và ăn uống thiếu thốn.
    Cô rón rén bước đến bên ghế chao nhìn mẹ và đứa bé.
    Florentyna đã thích đứa bé ngay từ lúc đầu. Đã tám tuổi rồi
    nhưng cô bé mới chỉ thấy búp bê có một lần khi gia đình được
    mời đến dự tiệc Giáng sinh ở lâu đài của Nam tước. Cô bé chỉ
    trông thấy thôi chứ chưa được sờ vào búp bê. Bao giờ cô rất
    muốn được bế đứa bé này trong tay mình. Cô cúi xuống gỡ
    đứa bé ra khỏi tay mẹ, nhìn vào đôi mắt xanh nhỏ tí của nó và
    khẽ ru trong miệng. Đang ở chỗ ấm của vú mẹ sang đôi tay
    lạnh của cô, đứa bé tỏ ra khó chịu. Nó bỗng khóc váng lên làm
    người mẹ bừng tỉnh dậy. Chị lấy làm ân hận mình đã ngủ lúc
    nào không biết.
    “Ôi, lạy Chúa, nó hãy còn sống,” chị nói với Florentyna.
    “Con sửa soạn ăn sáng cho các em, để mẹ cho nó bú nữa.”
    Florentyna miễn cưỡng đưa trả đứa bé lại cho mẹ và nhìn
    mẹ lại cố vắt sữa ra nữa. Cô bé đứng đó mê mẩn cả người.
    “Mau lên con, Florcia,” mẹ cô giục “Phải cho cả nhà ăn
    nữa chứ.”
    Florentyna đành bỏ ra ngoài. Các em cô mới ngủ dậy đã từ
    trên gác kho bước xuống chào mẹ và nhìn đứa bé bằng những
    con mắt kinh ngạc. Chúng chỉ biết là đứa bé này không phải từ
    trong bụng mẹ mà ra. Florentyna mải mê với đứa bé nên sáng
    nay bỏ cả ăn sáng. Bọn em cô chia luôn phần của cô ra ăn còn
    để lại phần của mẹ trên bàn. Cả nhà bận rộn với công việc của
    mình nên không một ai để ý rằng từ lúc có đứa bé về nhà đến
    giờ, người mẹ chưa hề ăn tí gì vào bụng.
    Helena Koskiewicz hài lòng thấy các con mình đã sớm học
    được cách tự lo lấy thân mình. Chúng có thể cho gia súc ăn,

    vắt sữa dê sữa bò và chăm sóc rau cỏ ngoài vườn mà không
    cần phải chờ chị sai bảo hay giúp đỡ. Buổi tối, lúc Jasio về
    nhà, chị mới nhớ ra là mình chưa sửa soạn bữa tối cho chồng.
    Nhưng ngay sau đó chị biết là Florentyna đã bắt đầu làm món
    thịt thỏ mà chú em thợ săn Franck đem về cho chị. Florentyna
    lấy làm tự hào được phụ trách bữa ăn tối, một công việc mà
    chỉ khi nào mẹ ốm đau mới giao cho cô, và Helena
    Koskiewicz thì họa hoằn lắm mới để cho con gái phải làm như
    vậy. Chú bé thợ săn mang về được bốn con thỏ, bố mang về
    được sáu cây nấm với ba củ khoai, tối nay cả nhà sẽ được ăn
    tiệc thật sự.
    Ăn tối xong rồi, Jasio Koskiewicz ngồi xuống ghế bên lò
    sưởi và bây giờ mới được dịp nhìn kỹ đứa bé. Nâng đầu đứa
    bé lên bằng mấy ngón tay, anh ta quan sát khắp người thằng bé
    với con mắt của một người đi săn thú. Khuôn mặt nhăn nhúm
    của nó chỉ có mỗi đôi mắt xanh nhỏ tí và chưa biết nhìn là đẹp
    hơn cả. Anh ta nhìn tiếp xuống thân hình mỏng mảnh của nó
    và chợt chú ý ngay đến một cái gì đó. Anh ta bỗng nhăn mặt
    và gạt ngón tay cái vào ngực đứa bé.
    “Em đã thấy cái này chưa, Helena?” anh ta nói và giơ sườn
    đứa bé ra, “Cái thằng khốn này hóa ra chỉ có một bên vú thôi!”
    Chị vợ cũng lấy làm lạ bèn tự mình gại ngón tay vào ngực
    nó xem sao. Chị tưởng làm như thế thì một bên vú nữa sẽ xuất
    hiện. Chồng chị nói đúng: đứa bé chỉ có một đầu vú nhỏ tí bên
    trái, còn cả nửa ngực bên phải thì phẳng lì và không có một
    dấu vết gì khác.
    Đầu óc mê tín của người đàn bà bỗng nổi lên.
    “Thế là Chúa đã cho em thằng bé này.” Chị nói. “Đây là
    dấu vết của Chúa để lại cho nó đây.”
    Người đàn ông tức mình đưa ngay đứa bé cho vợ.

    “Em thật là điên, Helena ạ. Đứa bé này là do một người có
    máu xấu truyền sang cho mẹ nó.” Anh ta nhổ một cái vào lò
    sưởi. “Dù sao, anh cũng đánh cuộc là thằng bé này không sống
    được.”
    Thực ra, Jasio Koskiewicz cũng chẳng cần biết thằng bé
    sống hay chết. Ạnh ta vốn không phải một người nhẫn tâm,
    nhưng đứa bé này không phải là của anh, mà trong nhà thêm
    một miệng ăn nữa chỉ làm cho mọi chuyện rắc rối.
    Giả thử có như vậy đi nữa thì bản thân anh cũng phải là
    người đi cầu Chúa giúp. Rồi không nghĩ ngợi gì về đứa bé
    nữa, anh ta ngủ thiếp đi bên đống lửa lò sưởi.
    Ngày tháng trôi qua, chính Jasio Koskiewicz cũng dần dần
    tin rằng đứa bé có thể sống được. Nếu hôm trước đánh cuộc
    thật thì anh ta đã thua rồi. Đứa con trai lớn nhất, tức là chú thợ
    săn, được các em giúp một tay, đã kiếm gỗ trong rừng của
    Nam tước về làm cho thằng bé một chiếc giường. Florentyna
    cắt những mẩu vải áo cũ của cô khâu lại làm áo cho nó. Những
    mẩu vải ấy khâu lại với nhau trông như áo của anh hề
    Harlequin mà bọn trẻ chưa được biết. Trong nhà, mỗi khi định
    đặt tên cho thằng bé thì chẳng ai đồng ý với nhau được. Riêng
    người bố không có ý kiến gì. Cuối cùng họ gọi nó là Wladek,
    và chủ nhật sau đó, tại nhà thờ trong trang trại của Nam tước,
    thằng bé được mang tên là Wladek Koskiewicz. Người mẹ thì
    cầu Chúa phù hộ cho nó, còn người bố thì mặc kệ, bảo nó
    muốn ra sao thì sao.
    Tối hôm đó có một bữa tiệc nhỏ để chúc mừng gia đình.
    Trang trại của Nam tước cho một con ngỗng để thêm vào bữa
    tiệc. Mọi người ăn uống vui vẻ.
    Từ hôm đó trở đi, Florentyna phải học cách chia bữa ăn
    sáng ra cho chín miệng ăn.

    CHƯƠNG 4

    Anne Kane đã ngủ yên được hết đêm. Sau bữa ăn sáng, chị
    lại sốt ruột đòi cô y tá bệnh viện đưa trả lại cậu bé William cho
    chị bế.
    “Nào, bà Kane,” cô y tá mặc đồng phục trắng nói, “bây giờ
    cũng phải cho em bé ăn sáng nữa chứ?”
    Cô y tá cho Anne ngồi dậy trên giường và hướng dẫn cách
    cho con bú. Anne chợt hiểu ra bộ ngực mình đã căng phồng.
    Chị biết là nếu mình tỏ ra lúng túng lúc này thì người ta sẽ bảo
    mình không biết làm mẹ. Chị chăm chăm nhìn vào đôi mắt
    xanh của William, thấy nó xanh hơn cả mắt bố. Chị cảm thấy
    địa vị của mình đã vững vàng hơn, và rất hài lòng. Ở cái tuổi
    hai mươi mốt, chị không còn thiếu một thứ gì. Chị thuộc họ
    Cabot, đi lấy một người bên gia đình Lowell, và bây giờ lại có
    đứa con đầu lòng mang truyền thống của hai gia đình được
    tóm tắt lại bằng mấy dòng trong tấm thiếp của người bạn cũ
    gửi đến cho chị như sau:
    Đây là quê cũ Boston
    Có đậu, có cá, ai không nhớ về
    Lowell, Cabot đề huề
    Hạnh phúc hai họ tràn trề Boston
    Anne nói chuyện với William đến nửa giờ nhưng đứa bé
    chưa có phản ứng gì.
    Lát sau nó ngủ một cách ngon lành. Anne không đụng gì
    đến hoa quả bánh kẹo đem đến chất đầy ở bên giường. Chị đã

    có ý định đến mùa hè này sẽ trở lại với tất cả những mốt áo
    mới và giành lại chỗ của chị trong những tạp chí về trang
    phục. Chẳng phải chính Hoàng tử Garonne đã ca tụng chị là
    người đẹp duy nhất ở Boston đó sao? Mớ tóc vàng mượt,
    những nét thanh tú và hình dáng thon thả của chị được người
    ta quý chuộng kể cả ở trong thành phố chị chưa đến bao giờ.
    Chị lại ngắm mình trong gương: trên mặt chưa thấy có một nét
    gì khác thường, ít ai có thể tin được rằng chị vừa làm mẹ của
    một đứa trẻ rất bụ bẫm. Cảm ơn Chúa, đúng là nó bụ bẫm thật
    đấy, Anne nghĩ bụng.
    Chị ăn một bữa trưa nhẹ ngon miệng rồi chuẩn bị để tiếp
    những người khách sẽ đến thăm vào buổi chiều do cô thư ký
    riêng đã sắp xếp. Những ai được phép đến thăm trong mấy
    ngày đầu này đều phải là người trong gia đình hoặc là thuộc
    những gia đình quyền quý nhất. Còn những người khác sẽ chỉ
    được trả lời là chị chưa sẵn sàng tiếp. Nhưng Boston lại là một
    trong những thành phố ở Mỹ mà ai nấy đều biết rõ thân phận
    của mình cả rồi, nên cũng không loại trừ trường hợp sẽ có
    người không mời mà đến.
    Căn phòng chị nằm một mình ở đây vẫn còn đủ chỗ để kê
    thêm được đến năm chiếc giường nữa giá như người ta không
    đem hoa đến bầy cắm la liệt khắp nơi. Ai chợt đi qua nhìn vào
    nếu không thấy người đàn bà ngồi trên giường sẽ có thể tưởng
    như đây là một phòng triển lãm nhỏ về nghệ thuật trồng vườn.
    Anne bật đèn điện lên. Với chị, cái đó còn mới lạ. Richard và
    chị vẫn còn chờ cho bên họ nhà Cabot cùng lắp thì mới dùng.
    Với lại, ở Boston, ánh sáng bằng cảm ứng điện từ chưa được
    phổ biến lắm.
    Người đầu tiên đến thăm Anne là bà Thomas Lowell Kane,
    mẹ chồng chị. Từ khi ông chồng chết năm ngoái, bà là người
    chủ đứng đầu cả gia đình. Bà đã có cái tuổi cuối trung niên
    nhưng đi đứng còn rất điệu bộ và thanh thoát. Bà mặc chiếc áo

    thả xuống rất dài khiến không ai có thể trông thấy gót chân bà
    được. Người duy nhất trông thấy gót chân của bà thì nay đã
    chết rồi. Bà luôn luôn có thân hình mỏng mảnh. Theo bà thì tất
    cả những phụ nữ béo mập đều do ăn uống tồi, thậm chí không
    biết ăn uống. Hiện nay bà là người nhiều tuổi nhất của họ nhà
    Lowell còn sống, và cũng là nhiều tuổi nhất cả bên họ nhà
    Kane nữa. Cho nên người đầu tiên đến đây thăm không thể ai
    khác ngoài bà. Vả lại, chính bà là người đã thu xếp Anne với
    Richard gặp nhau, chứ ai vào đó nữa? Đối với bà Kane, tình
    yêu chả có nghĩa gì lắm.
    Bà chỉ ưng có ba thứ trên đời là tiền của, địa vị và uy tín.
    Tất nhiên, tình yêu cũng là tốt, nhưng bà cho rằng nó không
    phải là một thứ hàng hóa lâu bền. Chỉ có ba thứ trên mới lâu
    bền được. Bà hôn vào trán cô con dâu với một vẻ tán thưởng.
    Anne bấm vào một cái nút trên tường và có tiếng vè vè nhỏ
    vang lên. Tiếng đó khiến bà Kane ngạc nhiên. Bà không tin là
    điện lại có thể dùng để gọi như thế được. Cô y tá xuất hiện
    cùng với đứa bé thừa tự. Bà Kane nhìn nó một lúc, tỏ vẻ hài
    lòng rồi bảo bế đi.
    “Khá lắm, Anne,” bà nói, làm như cô con dâu của bà vừa
    được cái giải đi ngựa. “Mọi người đều rất tự hào về con.”
    Mấy phút sau, bà Edward Cabot là mẹ đẻ của Anne cũng
    đến. Cũng như bà Kane, bà góa chồng sớm. Bề ngoài hai bà
    không khác nhau mấy, nhìn từ xa người ta có thể lẫn hai bà với
    nhau. Tuy nhiên bà tỏ ra quan tâm nhiều hơn bà Kane đến đứa
    cháu ngoại của mình và cả với con gái nữa. Lát sau họ mới để
    ý đến những bó hoa gửi đến mừng.
    “Nhà Jackson thật là quý hóa quá,” bà Cabot lẩm bẩm nói.
    Bà Kane thì chỉ nhìn qua loa mấy bông hoa rồi để ý đến
    những tấm thiếp có tên người gửi. Bà khẽ lẩm nhẩm những tên
    đó để nhớ: nhà Adam, nhà Lawrence, nhà Lodge, nhà

    Higginson. Cả hai bà không ai nói năng gì về những tên mà
    mình không biết. Họ đều đã quá cái tuổi muốn biết về bất cứ
    gì mới hay bất cứ ai mới. Hai bà cùng ra về, cùng rất hài lòng:
    vậy là một đứa con thừa tự đã ra đời, và mới trông cũng đã
    thấy thỏa mãn được rồi. Cả hai bà đều cho là nghĩa vụ cuối
    cùng đối với gia đình như thế là đã được thực hiện rất mĩ mãn,
    và từ nay trở đi mọi người có thể yên tâm vui vẻ.
    Nhưng cả hai bà đều nhầm.
    Trong cả buổi chiều, các bạn thân của Anne và Richard kéo
    đến với đủ các quà mừng bằng vàng bằng bạc và những lời
    chúc tụng nhiệt tình.
    Lúc chồng chị đến sau giờ làm việc thì Anne đã có phần rất
    mệt mỏi. Trưa nay, lần đầu tiên trong đời, Richard đã uống
    sâm banh trong bữa ăn. Ông già Amos Kerbes với cả Câu lạc
    bộ Somerset đều ép nên Richard không sau từ chối được. Vợ
    anh thấy như anh đỡ cứng nhắc hơn mọi khi. Bệ vệ trong bộ
    áo đen dài với chiếc quần kẻ sọc, người anh cao hơn với mái
    tóc đen rẽ ngôi giữa bóng mượt dưới ánh đèn điện. Ít người
    đoán đúng được tuổi anh chỉ mới ba mươi ba. Đối với anh, còn
    trẻ tuổi hay không chả bao giờ là chuyện quan trọng, mà cái
    chất của con người mới là đáng kể. Một lần nữa, William
    Lowell Kane lại bị bê ra để xem xét kỹ lưỡng, chẳng khác nào
    như người bố điểm lại việc thu chi cuối ngày ở ngân hàng vậy.
    Mọi thứ có vẻ đâu ra đấy. Đứa bé có đủ hai chân, hai tay, mười
    ngón tay, mười ngón chân. Richard không thấy có gì ở đứa bé
    để sau này khiến anh phải phiền lòng. Thế là William lại được
    bế đi.
    “Đêm qua anh đã điện cho ông hiệu trưởng trường St. Paul.
    William sẽ được nhận vào đó tháng chín năm 1918.”
    Anne không nói gì. Rõ ràng là Richard đã bắt đầu tính đến
    sự nghiệp của William rồi.

    “Thế rồi, em yêu quý, hôm qua em đã bình thường được rồi
    chứ?” anh hỏi. Suốt ba mươi ba tuổi đời, anh chưa hề nằm ở
    bệnh viện một ngày nào.
    “Vâng… không… em nghĩ thế,” vợ anh ngần ngừ trả lời,
    cố nén không tỏ ra muốn khóc vì chị biết chồng sẽ không bằng
    lòng như vậy.
    Nhưng câu trả lời như thế thì Richard cũng không hiểu như
    thế nào được. Anh hôn má vợ rồi bước ra xe ngựa trở về ngôi
    nhà của gia đình ở Quảng trường Louisburg. Bây giờ, với nhân
    viên phục vụ và người làm trong nhà, với đứa bé và cô bảo
    mẫu, thế là trong nhà có tất cả chín miệng ăn. Richard không
    phải nghĩ ngợi gì về chuyện đó.
    William Lowell Kane được ban phước và được mang tên
    bố đã đặt cho tại nhà thờ lớn St. Paul của Tân giáo, với sự có
    mặt của tất cả những ai ở Boston có liên quan và một số ít
    không liên quan. Giám mục William Lawrence làm lễ. J. P.
    Morgan và Alan Lloyd, hai vị chủ ngân hàng có thế lực, cùng
    với Milly Preston, người bạn thân nhất của Anne, được chọn
    làm cha mẹ đỡ đầu. Đức giám mục vẩy nước thánh lên đầu
    William. Thằng bé không có phản ứng gì. Hình như nó đã có
    cái máu của lớp người coi khinh thiên hạ rồi. Anne cảm ơn
    Chúa, coi như Người đã ghi vào sổ những thành tích của đình
    Kane từ đời này sang đời khác, cảm ơn Chúa đã cho anh đứa
    con trai để anh trao lại gia tài cho nó. Tuy nhiên, anh cũng
    nghĩ, có lẽ có thêm đứa con trai nữa thì chắc chắn hơn. Đang
    quỳ làm lễ, anh liếc nhìn sang vợ, và trong bụng lấy làm hài
    lòng.

    PHẦN HAI

    CHƯƠNG 5

    Wladek Koskiewicz lớn rất chậm. Bà mẹ nuôi dần hiểu ra
    rằng sức khỏe của nó có nhiều vấn đề. Nó mắc đủ các chứng
    bệnh của trẻ đang lớn và mắc cả những bệnh mà trẻ khác
    không có, lây lung tung cả sang mọi người trong gia đình
    Koskiewicz. Tuy thế Helena vẫn đối xử với nó như chính mình
    đẻ ra. Chị cũng bênh vực nó rất ghê mỗi khi Jasio bực mình đổ
    tội cho ma quỷ đã đưa thằng bé Wladek vào túp nhà nhỏ bé
    này của họ. Còn Florentyna thì săn sóc nó như ruột thịt. Ngay
    từ lúc đầu mới trông thấy nó cô bé đã rất thích. Cô có một nỗi
    lo sợ kín đáo trong lòng, nghĩ mình là đứa con gái nghèo xác
    của một người chuyên đi bẫy thú, sau này lớn lên sẽ chẳng ai
    thèm lấy, và như thế thì sẽ chẳng có con được. Thế là cô coi
    Wladek như con mình vậy. Chú em trai lớn, tức chú bé thợ săn
    đã đem Wladek về, cũng thích thằng bé nhưng vì sợ bố nên
    không dám tỏ ra mặt. Thằng bé đang chập chững tập đi trông
    rất hay. Dù sao đến tháng Giêng tới chú bé thợ săn sẽ phải bỏ
    học để lên làm việc ở trang trại của Nam tước rồi. Bố chú đã
    bảo trẻ con là chuyện để cho đàn bà lo. Ba đứa em nhỏ, Stefan,
    Josef và Jan, chả đứa nào để ý gì đến Wladek. Còn Sophia là
    nhỏ nhất trong nhà thì chỉ biết cứ ôm lấy thằng bé là thích rồi.
    Có điều cả hai bố mẹ đều không tính đến là về nhiều mặt
    thằng bé rất khác với những đứa con trong nhà. Khác cả về
    hình thức và tính nết. Những đứa con nhà Koskiewicz thì đứa
    nào cũng cao lớn, to xương, tóc vàng và mắt xám, trừ có
    Florentyna không kể. Còn Wladek thì lùn, tóc đen và mắt lại
    rất xanh. Con nhà Koskiewicz thì chả đứa nào thiết đến
    chuyện đi học và nếu có thì cứ lớn lên một chút là thôi. Nhưng

    Wladek thì khác hẳn, tuy nó chậm biết đi nhưng mới mười tám
    tháng nó đã biết nói. Lên ba tuổi nó đã đọc được chữ nhưng
    mặc quần áo thì chưa biết. Lên năm tuổi nó đã biết viết nhưng
    vẫn còn đái dầm. Người bố thì thất vọng, nhưng người mẹ lại
    tự hào. Bốn năm đầu của nó chỉ luôn luôn quặt quẹo, và nếu
    như không được Helena với Florentyna chăm sóc tử tế thì nó
    đã chẳng sống được. Nó mặc chiếc áo vá hàng trăm mảnh, đi
    chân đất, và suốt ngày chỉ biết lủi thủi quấn lấy chân mẹ. Lúc
    Florentyna ở trường về thì nó lại chuyển sang quấn lấy chị cho
    đến tận lúc đi ngủ. Mỗi khi chia thức ăn ra làm chín suất,
    Florentyna thường sẻ một nửa phần của mình cho Wladek. Khi
    nào nó ốm đau cô để cho nó cả phần mình. Wladek mặc những
    quần áo cô khâu cho nó, hát những bài hát cô dạy nó, và cùng
    chơi những đồ chơi người ta cho cô bé.
    Florentyna phải đi học xa gần hết ngày nên từ lúc bé
    Wladek đã muốn cùng đi với chị. Đến khi được phép là chú
    nắm chặt lấy tay chị đi suốt chín dặm đường qua các rừng cây
    và vườn tược để đến Slonim theo học.
    Wladek thích trường học ngay từ ngày đầu. Ở đây, chú coi
    như được thoát khỏi túp nhà lụp xụp đã sống từ bé. Đến
    trường học cũng là lần đầu tiên trong đời chú hiểu được rằng
    phần phía Đông của Ba Lan bị nước Nga chiếm đóng. Chú
    biết được rằng tiếng mẹ đẻ Ba Lan chỉ được nói riêng với nhau
    trong nhà, còn ở trường thì phải dùng tiếng Nga. Chú cảm thấy
    có một niềm tự hào gì đó như các trẻ em khác trong trường về
    tiếng mẹ đẻ của mình. Wladek cũng rất ngạc nhiên thấy thầy
    giáo Kotowski coi chú như người lớn, khác với thái độ của bố
    ở nhà. Mặc dầu là bé nhất trong lớp nhưng chẳng bao lâu chú
    đã học giỏi hơn tất cả về các môn, chỉ trừ có người chú là
    không lớn hơn được mà thôi. Người chú quá nhỏ bé nên mọi
    người không đánh giá được hết những khả năng của chú. Trẻ

    em bao giờ cũng hình dung phải thật to lớn mới là giỏi. Năm...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML