CHÀO XUÂN MỚI
Hai So Phan Jeffrey Archer.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:50' 05-07-2025
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:50' 05-07-2025
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hai người đã giúp cho cuốn sách này hình thành được, và
cả hai người đều muốn giấu tên. Một người đang soạn cuốn
Hồi ký của đời mình, còn một người đang là nhân vật quan
trọng ở Hoa Kỳ.
“Với cuốn Kane And Abel này, Jeffrey Archer đứng vào
hàng mười nhà văn đầu bảng của thế giới hiện nay”
• The Lost Angeles Times
“Tôi thách bất cứ ai không thích cuốn sách này, vì nó là
một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi được đọc từ
trước đến nay.”
• Otto Preminger
“Một cuốn tiểu thuyết có sức mạnh phi thường”
• The Evening News
“Jeffrey Archer là một thiên tài về kể chuyện”
• Susan Howatch
PHẦN MỘT
CHƯƠNG 1
Ngày 18 tháng 4, 1906
Slonim, Ba Lan
Chỉ sau khi đã chết rồi cô ta mới không kêu hét nữa. Và
cũng chính vào lúc đó đứa bé mới bắt đầu gào khóc.
Chú nhỏ đang đi săn thỏ trong rừng gần đó nghe thấy lạ
nhưng không phân biệt được đó là tiếng hét cuối cùng của
người đàn bà hay tiếng khóc đầu tiên của đứa bé. Đột nhiên
chú quay người lại, cảm thấy có chuyện gì nguy hiểm, đôi mắt
chú dò tìm xem có con thú nào bị đau. Chú chưa bao giờ nghe
một con thú nào kêu lên như vậy. Chú cẩn thận đi từng bước
đến gần nơi phát ra tiếng kêu. Lúc này tiếng kêu đã thành rên
rỉ nhưng vẫn không giống với tiếng của bất cứ con thú nào chú
được biết. Chú chỉ mong con thú này nhỏ để chú đủ sức giết
được và để có cái gì mới cho món thịt thỏ bữa tối.
Chú thợ săn nhỏ rón rén phía bờ sông, nơi có tiếng kêu lạ
vẳng đến. Chú nấp sau từng gốc cây để có chỗ dựa nếu xảy ra
chuyện gì. Chú nhớ lời bố dặn là chớ bao giờ đứng ra ngoài
chỗ trống. Ra đến bìa rừng, chú đã có thể nhìn rõ cả một
khoảng thung lũng kéo dài xuống đến sông, và lúc này chú
mới nhận ra tiếng kêu quái lạ ấy không phải phát ra từ một con
thú bình thường. Chú bò dần về phía có tiếng rên. Đến đây,
chú đã hoàn toàn ra chỗ trống. Bỗng chú trông thấy người đàn
bà nằm đó, áo váy vén lên ngang ngực còn hai chân thì giang
rộng. Chú chưa hề thấy người đàn bà nào như thế bao giờ. Chú
chạy vội đến bên cạnh, nhìn xuống bụng người đàn bà và chú
hoảng sợ. Giữa hai chân người đàn bà có một vật nhỏ đỏ hỏn
và ướt đẫm, dính vào người bằng một cái gì đó như sợi dây
thừng. Chú bé thợ săn bỏ mấy con thỏ mới lột da xuống rồi
quỳ bên cạnh vật nhỏ bé ấy.
Chú ngỡ ngàng nhìn một lúc rồi lại quay ra nhìn người đàn
bà. Chú chưa biết mình phải làm thế nào. Thân thể người đàn
bà đã tái xanh vì rét lạnh. Cô ta chỉ ngoài hai mươi nhưng
khuôn mặt đã già cỗi khiến chú bé tưởng cô đã đến tuổi trung
niên. Chú biết là cô ta đã chết rồi. Chú bỗng nhấc cái cơ thể
nhỏ bé lên. Chú cũng không biết tại sao mình làm như vậy. Có
lẽ vì chú thấy đứa bé đưa mấy ngón tay nhỏ xíu lên cào vào bộ
mặt nhăn nhúm của nó nên chú sợ chăng. Nhấc lên rồi chú
mới biết là giữa người mẹ với đứa con vẫn còn dính vào nhau
bằng một sợi dây nhầy nhụa.
Trước đó ít ngày chú đã được xem một con cừu đẻ. Bây giờ
chú cố nhớ lại. Chú biết người chăn cừu đã làm như thế nào,
nhưng chú không biết là với một đứa bé thì có thể làm như vậy
được không? Đứa bé đã thôi không rên rỉ nữa. Chú cảm thấy
mình phải gấp rút quyết định. Chú rút con dao ra, con dao chú
vừa dùng để lột da thỏ, lau vào tay áo rồi, ngập ngừng một
chút, chú cắt đứt sợi dây ở chỗ gần bụng đứa bé. Máu tuôn ra
ở hai đầu dây. Chú thử nhớ lại xem người chăn cừu đã làm
như thế nào. Ông ta thắt một cái nút để máu khỏi chảy. À,
đúng thế rồi. Chú bứt một cọng cỏ dài ở dưới đất và thắt vội
vào đầu dây rồi bế đứa bé lên. Chú từ từ đứng dậy và bỏ lại đó
ba con thỏ với người đàn bà đã chết. Trước lúc đi, chú khép
hai chân lại cho người mẹ và kéo chiếc váy xuống đến đầu gối.
Chú chỉ biết làm như vậy được thôi.
“Ôi, lạy Chúa!” Mỗi khi làm điều gì hoặc rất tốt hoặc rất
xấu, chú vẫn thường thốt lên như vậy. Trong trường hợp này,
chú chưa thể biết là xấu tốt như thế nào.
Chú bé thợ săn cứ thế chạy vội về nhà. Chú biết là mẹ chú
chỉ chờ chú mang thỏ về là sửa soạn bữa ăn tối. Bà mẹ sẽ hỏi
hôm nay chú săn được mấy con. Nhà có những tám miệng ăn,
phải có ít nhất là ba con thỏ mới đủ. Đôi khi chú kiếm một con
vịt hoặc con ngỗng, có lúc được cả một con chim trĩ bay lạc từ
trong trại của Nam tước ra đây. Bố chú bé làm ở trang trại ấy.
Nhưng hôm nay chú không dám rời tay khỏi đứa bé chú đang
bế, chú lấy chân đá vào cửa để mẹ nghe thấy và ra mở. Chú
lặng lẽ giơ đứa bé lên cho mẹ xem. Người mẹ không đỡ ngay
đứa bé mà còn đưa tay lên ngực và nhìn nó một lát.
“Ôi, lạy Chúa!” Người mẹ nói và làm dấu thánh giá.
Chú ngước lên nhìn mẹ xem bà vui hay buồn. Nhưng đôi
mắt người mẹ cúi xuống nhìn một cách rất hiền dịu chú chưa
từng thấy. Chú biết ngay rằng điều mình làm là tốt.
“Em bé, hả mẹ?”
“Con trai,” mẹ chú gật đầu khẽ nói. “Con tìm thấy ở đâu
thế?”
“Ở gần bờ sông, mẹ ạ.” chú đáp.
“Còn mẹ đứa bé đâu?”
“Chết rồi.”
Người mẹ làm dấu thánh giá.
“Con mau chạy đi nói với bố. Bố sẽ tìm bà Urszula Wojnak
trên trại. Rồi con phải dẫn cả hai người đến chỗ có người mẹ
của đứa bé này. Sau đó mọi người về đây ngay nhé.”
Chú thợ săn nhỏ trao đứa bé cho mẹ. Chú mừng thầm trong
bụng là mình đã không bỏ mặc đứa bé. Trao được cho mẹ rồi,
chú lau hai tay vào quần và chạy đi tìm bố.
Người mẹ lấy vai đẩy cửa vào trong và gọi đứa con gái lớn
ra đặt nồi nước lên bếp lò. Rồi bà ngồi xuống một chiếc ghế
gỗ, cởi khuy áo và ấn đầu vú vào cái miệng nhăn nhúm của
đứa bé. Thế là, Sophia, đứa con gái mới được sáu tháng, tối
nay sẽ phải nhịn không còn sữa ăn nữa. Người mẹ lấy làm lo
buồn.
“Nhưng sao lại thế nhỉ?” Người mẹ bỗng thốt lên và kéo
chiếc khăn choàng lên cánh tay mình cùng với đứa bé. “Ôi,
chú bé tội nghiệp này, để đến sáng mai thì chú cũng chết mất
thôi.”
Lúc bà đỡ già Urszula Wojnak tắm rửa và thắt lại rốn cho
đứa bé thì người mẹ không nhắc lại những ý nghĩ vừa rồi nữa.
Còn ông chồng chỉ đứng lặng yên mà nhìn.
“Có khách vào nhà tức là có Chúa vào nhà.” người mẹ chợt
nhắc đến một câu tục ngữ Ba Lan.
Ông chồng nhổ toẹt một cái.
“Đồ chết dịch ở đâu. Nhà này có thiếu gì trẻ con nữa chứ!”
Người mẹ làm như không nghe thấy ông ta nói gì, chỉ đưa
tay vuốt mấy sợi tóc đen trên đầu đứa bé.
“Ta đặt tên nó là gì nhỉ?” Người đàn bà nói và ngước mắt
nhìn chồng.
“Ai mà biết được? Cứ để cho nó chết mà không có tên tuổi
gì hết là xong.” Ông nhún vai.
CHƯƠNG 2
Ngày 18 tháng 4, 1906
Boston, Massachusetts
Bác sĩ nắm lấy cổ chân đứa bé mới đẻ nhấc cao lên và phát
cho nó một cái vào đít. Đứa bé bật khóc.
Ở Boston, bang Massachusetts, có một bệnh viện chuyên
phục vụ cho những ai mắc các chứng bệnh của người giàu có,
và vào một số trường hợp đặc biệt nào đó bệnh viện cũng kiêm
cả việc đỡ đẻ cho những trẻ sơ sinh giàu có được ra đời. Ở
bệnh viện đa khoa Massachusetts này, các bà mẹ không phải
kêu hét và cũng không phải mặc quần áo bình thường như khi
sinh đẻ. Lệ là như thế rồi.
Một người đàn ông trẻ tuổi đi đi lại lại bên ngoài phòng đẻ.
Bên trong có hai bác sĩ khoa nhi cùng với một bác sĩ riêng của
gia đình làm nhiệm vụ. Người cha này không dám để xảy ra
chuyện gì cho đứa con đầu lòng của mình. Hai bác sĩ khoa nhi
sẽ được trả một món tiền lớn với mỗi một việc là đứng đó để
chứng kiến chuyện sinh đẻ thôi. Một trong hai bác sĩ ấy đã
mặc sẵn bộ lễ phục bên dưới chiếc áo choàng trắng của bệnh
viện, để hễ xong ở đây ra là ông đi dự tiệc ở đâu đó. Ông ta
không thể nào vắng mặt trong ca sinh đẻ đặc biệt này được.
Trước đó, cả ba bác sĩ đã rút thăm với nhau xem ai trong số họ
sẽ trực tiếp đỡ đẻ.
Cuối cùng, người rút trúng là bác sĩ đa khoa MacKenzie.
Người cha vừa đi lại ngoài hành lang vừa nghĩ xem sẽ đặt tên
gì cho hay và gặp nhiều may mắn. Thực ra, anh cũng không lo
đến chuyện ấy lắm. Sáng hôm đó, Richard đã chở Anne, vợ
anh, đến bệnh viện bằng cỗ xe ngựa hai bánh. Vợ anh đã tính
đến hôm đó là ngày thứ hai mươi tám của tháng thứ chín rồi.
Cô ta bắt đầu đau đẻ ngay từ sau lúc ăn sáng, nhưng người ta
bảo anh là nếu có đẻ cũng phải đến chiều sau giờ ngân hàng
anh đóng cửa. Anh là một người rất có kỷ luật, không muốn
việc vợ mình đẻ ảnh hưởng gì đến giờ giấc của người khác.
Anh vẫn cứ đi đi lại lại trong hành lang như vậy. Mấy cô y tá
và bác sĩ trẻ tất tả ra vào đều biết anh đang có mặt ở đây. Đi
qua gần chỗ anh, họ thì thầm với nhau nhưng ra xa họ lại nói
bình thường. Anh không để ý chuyện đó, vì đã quen với mọi
người vẫn đối xử với mình như vậy. Phần lớn những người ở
đây chưa gặp anh bao giờ, nhưng mọi người đều biết anh là ai.
Nếu đứa bé sinh ra hôm nay là con trai, có lẽ anh sẽ xây
tặng cho bệnh viện một khu mới mà bệnh viện đang rất cần.
Anh đã tặng họ một thư viện và một trường tiểu học rồi. Anh
chàng sắp làm bố ấy giở tờ báo buổi chiều ra xem nhưng
chẳng đọc chữ nào ra chữ nào. Anh bứt rứt lo lắng. Chắc là họ
(anh gọi mọi người là “họ” hết) chẳng bao giờ có thể hiểu
được là anh dứt khoát phải có con trai, để một ngày kia nó sẽ
thay anh làm thống đốc và chủ tịch ngân hàng. Anh lật mấy
trang báo buổi chiều: Đội Tất Đỏ Boston đấu với đội Cao
Nguyên New York. Xong trận này chắc họ sẽ khao to. Anh chợt
nhớ đến mấy dòng chữ to ở trang đầu, bèn lật ra xem. Báo đưa
tin một vụ động đất tệ hại nhất trong lịch sử nước Mỹ. San
Francisco bị tàn phá ghê gớm. Ít nhất có bốn trăm người chết.
Ôi, bao nhiêu là tang tóc. Anh bỗng thấy bực dọc trong người.
Chuyện động đất làm mất cả ý nghĩa việc đứa con anh sắp ra
đời. Đáng lẽ người ta phải nhớ rằng trong những ngày này còn
có sự kiện gì khác nữa chứ.
Anh chưa hề có lúc nào nghĩ rằng đứa bé có thể là con gái.
Anh lật tờ báo sang trang tài chính và xem lại mục thị trường
chứng khoán: Chỉ số đã tụt xuống mấy điểm. Thế là vụ động
đất chết tiệt kia đã làm giảm mất giá trị cổ phần của anh trong
ngân hàng tới một trăm ngàn đôla. Tuy nhiên, với tài sản riêng
của anh hiện vẫn còn trên 16 triệu đôla thì đến mấy vụ động
đất như ở California cũng chưa làm gì anh được. Anh vẫn còn
có thể hưởng tiền lãi suất, còn cả cái vốn 16 triệu kia vẫn sẽ
nguyên đó để con trai anh sau này thừa kế. Anh tiếp tục đi lại
trong hành lang và làm như vẫn đọc tờ báo buổi chiều.
Ông bác sĩ khoa nhi đã mặc sẵn lễ phục khi nãy bước ra
khỏi phòng đẻ để báo tin. Ông ta cảm thấy mình phải làm cái
gì đó cho xứng với món tiền to sắp được lĩnh, và ông nghĩ
mình cũng đang là người ăn mặc chỉnh tề nhất thông báo tin
này. Hai người nhìn nhau một lúc. Ông bác sĩ thấy hơi xúc
động nhưng không muốn biểu lộ gì trước mặt người mới làm
bố.
“Xin chúc mừng ông, ông đã có con trai, một chú bé nhỏ tí
và rất xinh đẹp.”
Người cha nghĩ bụng ông bác sĩ nói thế là dở quá, vì đứa
nào mới sinh ra mà chả nhỏ tí? Nhưng cái tin con trai ông ta
vừa nói đến giờ mới ngấm vào người anh. Suýt nữa anh bật
lên nói tạ ơn Chúa. Ông bác sĩ hỏi thêm một câu nữa để phá
tan cái im lặng lúc đó.
“Ông đã định đặt tên cháu là gì chưa?”
Người cha trả lời ngay, không ngập ngừng:
“Cháu tên là William Lowell Kane.”
CHƯƠNG 3
Sau khi cả nhà đã hết nhộn nhịp với việc đứa bé mới về nhà
này và mọi người đã đi ngủ từ lâu rồi, người mẹ vẫn còn thức
với đứa bé trong tay. Helena Koskiewicz là một người rất tin ở
cuộc sống. Bằng chứng là chị đã đẻ và nuôi được sáu đứa con.
Trước đó chị đã để mất đi ba đứa từ lúc chúng còn nhỏ, nhưng
chị cũng chưa để cho đứa nào chết một cách dễ dàng được.
Chị chỉ mới ba mươi lăm tuổi nhưng biết là anh chồng
Jasio của mình, trước đây vốn là một người rất khỏe mạnh, sẽ
chẳng cho chị thêm đứa con nào nữa. Bây giờ Chúa đã đem
đứa bé này đến cho chị, chắc chắn là nó phải sống. Helena
cũng là con người có đức tin đơn giản, và điều đó cũng phải
thôi, vì số phận chả bao giờ cho chị có được cuộc sống nào
khác hơn cuộc sống đơn giản hiện nay. Người chị xanh xao
gầy mòn, không phải do chị muốn như vậy mà do chị được ăn
quá ít, lại làm lụng vất vả và không có tiền để dành. Chị chẳng
bao giờ phàn nàn điều gì, nhưng các nếp nhăn trên mặt chị
khiến chị chẳng khác gì một người đã có cháu gọi bằng bà chứ
không phải người mẹ ở thế giới ngày nay. Đời chị chưa một
lần nào được mặc quần áo mới.
Helena bóp thật mạnh vào hai bên vú đến hằn đỏ cả lên.
Mấy giọt sữa tuôn ra. Ở cái tuổi ba mươi lăm, tức là đã nửa
đời người, ai nấy đều đã ít nhiều có kinh nghiệm thành thạo,
và Helena chính đang ở thời kỳ như vậy.
“Chú nhỏ của mẹ nào,” chị khẽ nói với đứa bé và ấn đầu vú
vào miệng nó đang chum cong lên chờ sữa. Đôi mắt xanh của
nó hé mở. Vài giọt mồ hôi lấm tấm trên mũi. Cuối cùng người
mẹ cũng lăn ra ngủ từ lúc nào.
Jasio Koskiewicz, anh chồng lờ đờ chậm chạp có bộ ria
mép rất rậm và cũng là thứ quý nhất để anh ta có thể tự khẳng
định được mình trong cuộc sống đi làm thuê khổ sở này, chợt
tỉnh dậy vào lúc năm giờ, thấy vợ với đứa bé kia còn đang ngủ
trên ghế chao. Đêm đó anh ta cũng không chú ý đến việc
không có mặt vợ trên giường. Anh ta đứng chăm chăm nhìn
vào đứa bé không cha không mẹ. Anh cảm ơn Chúa vì ít ra
đứa bé không còn kêu hét nữa. Hay là nó chết rồi? Jasio nghĩ
bụng thôi mình chả nên dính đến cái của nợ này nữa. Cứ việc
đi làm như thường, để mặc cho vợ anh lo chuyện sống chết
của nó, còn anh thì tính làm sao có mặt ở trang trại của Nam
tước từ sáng sớm là được. Anh tu mấy hớp sữa dê vào bụng rồi
quệt miệng vào tay áo. Sau đó một tay cầm khoang bánh và
một tay vớ lấy chiếc bẫy anh ta lặng lẽ chuồn ra ngoài, bụng
chỉ sợ người đàn bà thức dậy và bảo anh làm gì đó. Anh ta rảo
bước về phía rừng, không muốn nghĩ gì đến đứa bé nữa và chỉ
mong đây là lần cuối cùng anh ta trông thấy nó.
Florentyna, cô con gái lớn, là người thứ hai bước vào bếp.
Chiếc đồng hồ cổ không biết đã được bao nhiêu năm vừa điểm
sáu giờ sáng. Nó chẳng qua chỉ để nhắc cho những ai trong
nhà muốn biết giờ phải dậy hay phải đi ngủ mà thôi. Công việc
hàng ngày của Florentyna chỉ có mỗi chuyện là chuẩn bị bữa
ăn sáng, cụ thể là chia bọc sữa dê và miếng bánh mì đen ra cho
đủ tám người trong gia đình cùng ăn. Việc chỉ có thế thôi
nhưng nó đòi hỏi cô phải có cái khôn ngoan như của
Solomon[1] mới làm nổi để không một ai có thể phàn nàn gì
được là phần của người khác nhiều hơn phần mình.
Florentyna là một cô gái mảnh khảnh, xinh đẹp, ai mới
trông thấy cũng quý mến ngay được. Chỉ tội một điều là đã hai
năm nay cô bé vẫn chỉ có một chiếc áo để mặc. Nhưng cứ
trông thấy cô bé là người ta hiểu ngay tại sao trước đây anh
chàng Jasio đã say mê mẹ cô đến thế. Florentyna có mớ tóc
vàng óng mượt và đôi mắt màu hạt dẻ long lanh, bất chấp tuổi
nhỏ và ăn uống thiếu thốn.
Cô rón rén bước đến bên ghế chao nhìn mẹ và đứa bé.
Florentyna đã thích đứa bé ngay từ lúc đầu. Đã tám tuổi rồi
nhưng cô bé mới chỉ thấy búp bê có một lần khi gia đình được
mời đến dự tiệc Giáng sinh ở lâu đài của Nam tước. Cô bé chỉ
trông thấy thôi chứ chưa được sờ vào búp bê. Bao giờ cô rất
muốn được bế đứa bé này trong tay mình. Cô cúi xuống gỡ
đứa bé ra khỏi tay mẹ, nhìn vào đôi mắt xanh nhỏ tí của nó và
khẽ ru trong miệng. Đang ở chỗ ấm của vú mẹ sang đôi tay
lạnh của cô, đứa bé tỏ ra khó chịu. Nó bỗng khóc váng lên làm
người mẹ bừng tỉnh dậy. Chị lấy làm ân hận mình đã ngủ lúc
nào không biết.
“Ôi, lạy Chúa, nó hãy còn sống,” chị nói với Florentyna.
“Con sửa soạn ăn sáng cho các em, để mẹ cho nó bú nữa.”
Florentyna miễn cưỡng đưa trả đứa bé lại cho mẹ và nhìn
mẹ lại cố vắt sữa ra nữa. Cô bé đứng đó mê mẩn cả người.
“Mau lên con, Florcia,” mẹ cô giục “Phải cho cả nhà ăn
nữa chứ.”
Florentyna đành bỏ ra ngoài. Các em cô mới ngủ dậy đã từ
trên gác kho bước xuống chào mẹ và nhìn đứa bé bằng những
con mắt kinh ngạc. Chúng chỉ biết là đứa bé này không phải từ
trong bụng mẹ mà ra. Florentyna mải mê với đứa bé nên sáng
nay bỏ cả ăn sáng. Bọn em cô chia luôn phần của cô ra ăn còn
để lại phần của mẹ trên bàn. Cả nhà bận rộn với công việc của
mình nên không một ai để ý rằng từ lúc có đứa bé về nhà đến
giờ, người mẹ chưa hề ăn tí gì vào bụng.
Helena Koskiewicz hài lòng thấy các con mình đã sớm học
được cách tự lo lấy thân mình. Chúng có thể cho gia súc ăn,
vắt sữa dê sữa bò và chăm sóc rau cỏ ngoài vườn mà không
cần phải chờ chị sai bảo hay giúp đỡ. Buổi tối, lúc Jasio về
nhà, chị mới nhớ ra là mình chưa sửa soạn bữa tối cho chồng.
Nhưng ngay sau đó chị biết là Florentyna đã bắt đầu làm món
thịt thỏ mà chú em thợ săn Franck đem về cho chị. Florentyna
lấy làm tự hào được phụ trách bữa ăn tối, một công việc mà
chỉ khi nào mẹ ốm đau mới giao cho cô, và Helena
Koskiewicz thì họa hoằn lắm mới để cho con gái phải làm như
vậy. Chú bé thợ săn mang về được bốn con thỏ, bố mang về
được sáu cây nấm với ba củ khoai, tối nay cả nhà sẽ được ăn
tiệc thật sự.
Ăn tối xong rồi, Jasio Koskiewicz ngồi xuống ghế bên lò
sưởi và bây giờ mới được dịp nhìn kỹ đứa bé. Nâng đầu đứa
bé lên bằng mấy ngón tay, anh ta quan sát khắp người thằng bé
với con mắt của một người đi săn thú. Khuôn mặt nhăn nhúm
của nó chỉ có mỗi đôi mắt xanh nhỏ tí và chưa biết nhìn là đẹp
hơn cả. Anh ta nhìn tiếp xuống thân hình mỏng mảnh của nó
và chợt chú ý ngay đến một cái gì đó. Anh ta bỗng nhăn mặt
và gạt ngón tay cái vào ngực đứa bé.
“Em đã thấy cái này chưa, Helena?” anh ta nói và giơ sườn
đứa bé ra, “Cái thằng khốn này hóa ra chỉ có một bên vú thôi!”
Chị vợ cũng lấy làm lạ bèn tự mình gại ngón tay vào ngực
nó xem sao. Chị tưởng làm như thế thì một bên vú nữa sẽ xuất
hiện. Chồng chị nói đúng: đứa bé chỉ có một đầu vú nhỏ tí bên
trái, còn cả nửa ngực bên phải thì phẳng lì và không có một
dấu vết gì khác.
Đầu óc mê tín của người đàn bà bỗng nổi lên.
“Thế là Chúa đã cho em thằng bé này.” Chị nói. “Đây là
dấu vết của Chúa để lại cho nó đây.”
Người đàn ông tức mình đưa ngay đứa bé cho vợ.
“Em thật là điên, Helena ạ. Đứa bé này là do một người có
máu xấu truyền sang cho mẹ nó.” Anh ta nhổ một cái vào lò
sưởi. “Dù sao, anh cũng đánh cuộc là thằng bé này không sống
được.”
Thực ra, Jasio Koskiewicz cũng chẳng cần biết thằng bé
sống hay chết. Ạnh ta vốn không phải một người nhẫn tâm,
nhưng đứa bé này không phải là của anh, mà trong nhà thêm
một miệng ăn nữa chỉ làm cho mọi chuyện rắc rối.
Giả thử có như vậy đi nữa thì bản thân anh cũng phải là
người đi cầu Chúa giúp. Rồi không nghĩ ngợi gì về đứa bé
nữa, anh ta ngủ thiếp đi bên đống lửa lò sưởi.
Ngày tháng trôi qua, chính Jasio Koskiewicz cũng dần dần
tin rằng đứa bé có thể sống được. Nếu hôm trước đánh cuộc
thật thì anh ta đã thua rồi. Đứa con trai lớn nhất, tức là chú thợ
săn, được các em giúp một tay, đã kiếm gỗ trong rừng của
Nam tước về làm cho thằng bé một chiếc giường. Florentyna
cắt những mẩu vải áo cũ của cô khâu lại làm áo cho nó. Những
mẩu vải ấy khâu lại với nhau trông như áo của anh hề
Harlequin mà bọn trẻ chưa được biết. Trong nhà, mỗi khi định
đặt tên cho thằng bé thì chẳng ai đồng ý với nhau được. Riêng
người bố không có ý kiến gì. Cuối cùng họ gọi nó là Wladek,
và chủ nhật sau đó, tại nhà thờ trong trang trại của Nam tước,
thằng bé được mang tên là Wladek Koskiewicz. Người mẹ thì
cầu Chúa phù hộ cho nó, còn người bố thì mặc kệ, bảo nó
muốn ra sao thì sao.
Tối hôm đó có một bữa tiệc nhỏ để chúc mừng gia đình.
Trang trại của Nam tước cho một con ngỗng để thêm vào bữa
tiệc. Mọi người ăn uống vui vẻ.
Từ hôm đó trở đi, Florentyna phải học cách chia bữa ăn
sáng ra cho chín miệng ăn.
CHƯƠNG 4
Anne Kane đã ngủ yên được hết đêm. Sau bữa ăn sáng, chị
lại sốt ruột đòi cô y tá bệnh viện đưa trả lại cậu bé William cho
chị bế.
“Nào, bà Kane,” cô y tá mặc đồng phục trắng nói, “bây giờ
cũng phải cho em bé ăn sáng nữa chứ?”
Cô y tá cho Anne ngồi dậy trên giường và hướng dẫn cách
cho con bú. Anne chợt hiểu ra bộ ngực mình đã căng phồng.
Chị biết là nếu mình tỏ ra lúng túng lúc này thì người ta sẽ bảo
mình không biết làm mẹ. Chị chăm chăm nhìn vào đôi mắt
xanh của William, thấy nó xanh hơn cả mắt bố. Chị cảm thấy
địa vị của mình đã vững vàng hơn, và rất hài lòng. Ở cái tuổi
hai mươi mốt, chị không còn thiếu một thứ gì. Chị thuộc họ
Cabot, đi lấy một người bên gia đình Lowell, và bây giờ lại có
đứa con đầu lòng mang truyền thống của hai gia đình được
tóm tắt lại bằng mấy dòng trong tấm thiếp của người bạn cũ
gửi đến cho chị như sau:
Đây là quê cũ Boston
Có đậu, có cá, ai không nhớ về
Lowell, Cabot đề huề
Hạnh phúc hai họ tràn trề Boston
Anne nói chuyện với William đến nửa giờ nhưng đứa bé
chưa có phản ứng gì.
Lát sau nó ngủ một cách ngon lành. Anne không đụng gì
đến hoa quả bánh kẹo đem đến chất đầy ở bên giường. Chị đã
có ý định đến mùa hè này sẽ trở lại với tất cả những mốt áo
mới và giành lại chỗ của chị trong những tạp chí về trang
phục. Chẳng phải chính Hoàng tử Garonne đã ca tụng chị là
người đẹp duy nhất ở Boston đó sao? Mớ tóc vàng mượt,
những nét thanh tú và hình dáng thon thả của chị được người
ta quý chuộng kể cả ở trong thành phố chị chưa đến bao giờ.
Chị lại ngắm mình trong gương: trên mặt chưa thấy có một nét
gì khác thường, ít ai có thể tin được rằng chị vừa làm mẹ của
một đứa trẻ rất bụ bẫm. Cảm ơn Chúa, đúng là nó bụ bẫm thật
đấy, Anne nghĩ bụng.
Chị ăn một bữa trưa nhẹ ngon miệng rồi chuẩn bị để tiếp
những người khách sẽ đến thăm vào buổi chiều do cô thư ký
riêng đã sắp xếp. Những ai được phép đến thăm trong mấy
ngày đầu này đều phải là người trong gia đình hoặc là thuộc
những gia đình quyền quý nhất. Còn những người khác sẽ chỉ
được trả lời là chị chưa sẵn sàng tiếp. Nhưng Boston lại là một
trong những thành phố ở Mỹ mà ai nấy đều biết rõ thân phận
của mình cả rồi, nên cũng không loại trừ trường hợp sẽ có
người không mời mà đến.
Căn phòng chị nằm một mình ở đây vẫn còn đủ chỗ để kê
thêm được đến năm chiếc giường nữa giá như người ta không
đem hoa đến bầy cắm la liệt khắp nơi. Ai chợt đi qua nhìn vào
nếu không thấy người đàn bà ngồi trên giường sẽ có thể tưởng
như đây là một phòng triển lãm nhỏ về nghệ thuật trồng vườn.
Anne bật đèn điện lên. Với chị, cái đó còn mới lạ. Richard và
chị vẫn còn chờ cho bên họ nhà Cabot cùng lắp thì mới dùng.
Với lại, ở Boston, ánh sáng bằng cảm ứng điện từ chưa được
phổ biến lắm.
Người đầu tiên đến thăm Anne là bà Thomas Lowell Kane,
mẹ chồng chị. Từ khi ông chồng chết năm ngoái, bà là người
chủ đứng đầu cả gia đình. Bà đã có cái tuổi cuối trung niên
nhưng đi đứng còn rất điệu bộ và thanh thoát. Bà mặc chiếc áo
thả xuống rất dài khiến không ai có thể trông thấy gót chân bà
được. Người duy nhất trông thấy gót chân của bà thì nay đã
chết rồi. Bà luôn luôn có thân hình mỏng mảnh. Theo bà thì tất
cả những phụ nữ béo mập đều do ăn uống tồi, thậm chí không
biết ăn uống. Hiện nay bà là người nhiều tuổi nhất của họ nhà
Lowell còn sống, và cũng là nhiều tuổi nhất cả bên họ nhà
Kane nữa. Cho nên người đầu tiên đến đây thăm không thể ai
khác ngoài bà. Vả lại, chính bà là người đã thu xếp Anne với
Richard gặp nhau, chứ ai vào đó nữa? Đối với bà Kane, tình
yêu chả có nghĩa gì lắm.
Bà chỉ ưng có ba thứ trên đời là tiền của, địa vị và uy tín.
Tất nhiên, tình yêu cũng là tốt, nhưng bà cho rằng nó không
phải là một thứ hàng hóa lâu bền. Chỉ có ba thứ trên mới lâu
bền được. Bà hôn vào trán cô con dâu với một vẻ tán thưởng.
Anne bấm vào một cái nút trên tường và có tiếng vè vè nhỏ
vang lên. Tiếng đó khiến bà Kane ngạc nhiên. Bà không tin là
điện lại có thể dùng để gọi như thế được. Cô y tá xuất hiện
cùng với đứa bé thừa tự. Bà Kane nhìn nó một lúc, tỏ vẻ hài
lòng rồi bảo bế đi.
“Khá lắm, Anne,” bà nói, làm như cô con dâu của bà vừa
được cái giải đi ngựa. “Mọi người đều rất tự hào về con.”
Mấy phút sau, bà Edward Cabot là mẹ đẻ của Anne cũng
đến. Cũng như bà Kane, bà góa chồng sớm. Bề ngoài hai bà
không khác nhau mấy, nhìn từ xa người ta có thể lẫn hai bà với
nhau. Tuy nhiên bà tỏ ra quan tâm nhiều hơn bà Kane đến đứa
cháu ngoại của mình và cả với con gái nữa. Lát sau họ mới để
ý đến những bó hoa gửi đến mừng.
“Nhà Jackson thật là quý hóa quá,” bà Cabot lẩm bẩm nói.
Bà Kane thì chỉ nhìn qua loa mấy bông hoa rồi để ý đến
những tấm thiếp có tên người gửi. Bà khẽ lẩm nhẩm những tên
đó để nhớ: nhà Adam, nhà Lawrence, nhà Lodge, nhà
Higginson. Cả hai bà không ai nói năng gì về những tên mà
mình không biết. Họ đều đã quá cái tuổi muốn biết về bất cứ
gì mới hay bất cứ ai mới. Hai bà cùng ra về, cùng rất hài lòng:
vậy là một đứa con thừa tự đã ra đời, và mới trông cũng đã
thấy thỏa mãn được rồi. Cả hai bà đều cho là nghĩa vụ cuối
cùng đối với gia đình như thế là đã được thực hiện rất mĩ mãn,
và từ nay trở đi mọi người có thể yên tâm vui vẻ.
Nhưng cả hai bà đều nhầm.
Trong cả buổi chiều, các bạn thân của Anne và Richard kéo
đến với đủ các quà mừng bằng vàng bằng bạc và những lời
chúc tụng nhiệt tình.
Lúc chồng chị đến sau giờ làm việc thì Anne đã có phần rất
mệt mỏi. Trưa nay, lần đầu tiên trong đời, Richard đã uống
sâm banh trong bữa ăn. Ông già Amos Kerbes với cả Câu lạc
bộ Somerset đều ép nên Richard không sau từ chối được. Vợ
anh thấy như anh đỡ cứng nhắc hơn mọi khi. Bệ vệ trong bộ
áo đen dài với chiếc quần kẻ sọc, người anh cao hơn với mái
tóc đen rẽ ngôi giữa bóng mượt dưới ánh đèn điện. Ít người
đoán đúng được tuổi anh chỉ mới ba mươi ba. Đối với anh, còn
trẻ tuổi hay không chả bao giờ là chuyện quan trọng, mà cái
chất của con người mới là đáng kể. Một lần nữa, William
Lowell Kane lại bị bê ra để xem xét kỹ lưỡng, chẳng khác nào
như người bố điểm lại việc thu chi cuối ngày ở ngân hàng vậy.
Mọi thứ có vẻ đâu ra đấy. Đứa bé có đủ hai chân, hai tay, mười
ngón tay, mười ngón chân. Richard không thấy có gì ở đứa bé
để sau này khiến anh phải phiền lòng. Thế là William lại được
bế đi.
“Đêm qua anh đã điện cho ông hiệu trưởng trường St. Paul.
William sẽ được nhận vào đó tháng chín năm 1918.”
Anne không nói gì. Rõ ràng là Richard đã bắt đầu tính đến
sự nghiệp của William rồi.
“Thế rồi, em yêu quý, hôm qua em đã bình thường được rồi
chứ?” anh hỏi. Suốt ba mươi ba tuổi đời, anh chưa hề nằm ở
bệnh viện một ngày nào.
“Vâng… không… em nghĩ thế,” vợ anh ngần ngừ trả lời,
cố nén không tỏ ra muốn khóc vì chị biết chồng sẽ không bằng
lòng như vậy.
Nhưng câu trả lời như thế thì Richard cũng không hiểu như
thế nào được. Anh hôn má vợ rồi bước ra xe ngựa trở về ngôi
nhà của gia đình ở Quảng trường Louisburg. Bây giờ, với nhân
viên phục vụ và người làm trong nhà, với đứa bé và cô bảo
mẫu, thế là trong nhà có tất cả chín miệng ăn. Richard không
phải nghĩ ngợi gì về chuyện đó.
William Lowell Kane được ban phước và được mang tên
bố đã đặt cho tại nhà thờ lớn St. Paul của Tân giáo, với sự có
mặt của tất cả những ai ở Boston có liên quan và một số ít
không liên quan. Giám mục William Lawrence làm lễ. J. P.
Morgan và Alan Lloyd, hai vị chủ ngân hàng có thế lực, cùng
với Milly Preston, người bạn thân nhất của Anne, được chọn
làm cha mẹ đỡ đầu. Đức giám mục vẩy nước thánh lên đầu
William. Thằng bé không có phản ứng gì. Hình như nó đã có
cái máu của lớp người coi khinh thiên hạ rồi. Anne cảm ơn
Chúa, coi như Người đã ghi vào sổ những thành tích của đình
Kane từ đời này sang đời khác, cảm ơn Chúa đã cho anh đứa
con trai để anh trao lại gia tài cho nó. Tuy nhiên, anh cũng
nghĩ, có lẽ có thêm đứa con trai nữa thì chắc chắn hơn. Đang
quỳ làm lễ, anh liếc nhìn sang vợ, và trong bụng lấy làm hài
lòng.
PHẦN HAI
CHƯƠNG 5
Wladek Koskiewicz lớn rất chậm. Bà mẹ nuôi dần hiểu ra
rằng sức khỏe của nó có nhiều vấn đề. Nó mắc đủ các chứng
bệnh của trẻ đang lớn và mắc cả những bệnh mà trẻ khác
không có, lây lung tung cả sang mọi người trong gia đình
Koskiewicz. Tuy thế Helena vẫn đối xử với nó như chính mình
đẻ ra. Chị cũng bênh vực nó rất ghê mỗi khi Jasio bực mình đổ
tội cho ma quỷ đã đưa thằng bé Wladek vào túp nhà nhỏ bé
này của họ. Còn Florentyna thì săn sóc nó như ruột thịt. Ngay
từ lúc đầu mới trông thấy nó cô bé đã rất thích. Cô có một nỗi
lo sợ kín đáo trong lòng, nghĩ mình là đứa con gái nghèo xác
của một người chuyên đi bẫy thú, sau này lớn lên sẽ chẳng ai
thèm lấy, và như thế thì sẽ chẳng có con được. Thế là cô coi
Wladek như con mình vậy. Chú em trai lớn, tức chú bé thợ săn
đã đem Wladek về, cũng thích thằng bé nhưng vì sợ bố nên
không dám tỏ ra mặt. Thằng bé đang chập chững tập đi trông
rất hay. Dù sao đến tháng Giêng tới chú bé thợ săn sẽ phải bỏ
học để lên làm việc ở trang trại của Nam tước rồi. Bố chú đã
bảo trẻ con là chuyện để cho đàn bà lo. Ba đứa em nhỏ, Stefan,
Josef và Jan, chả đứa nào để ý gì đến Wladek. Còn Sophia là
nhỏ nhất trong nhà thì chỉ biết cứ ôm lấy thằng bé là thích rồi.
Có điều cả hai bố mẹ đều không tính đến là về nhiều mặt
thằng bé rất khác với những đứa con trong nhà. Khác cả về
hình thức và tính nết. Những đứa con nhà Koskiewicz thì đứa
nào cũng cao lớn, to xương, tóc vàng và mắt xám, trừ có
Florentyna không kể. Còn Wladek thì lùn, tóc đen và mắt lại
rất xanh. Con nhà Koskiewicz thì chả đứa nào thiết đến
chuyện đi học và nếu có thì cứ lớn lên một chút là thôi. Nhưng
Wladek thì khác hẳn, tuy nó chậm biết đi nhưng mới mười tám
tháng nó đã biết nói. Lên ba tuổi nó đã đọc được chữ nhưng
mặc quần áo thì chưa biết. Lên năm tuổi nó đã biết viết nhưng
vẫn còn đái dầm. Người bố thì thất vọng, nhưng người mẹ lại
tự hào. Bốn năm đầu của nó chỉ luôn luôn quặt quẹo, và nếu
như không được Helena với Florentyna chăm sóc tử tế thì nó
đã chẳng sống được. Nó mặc chiếc áo vá hàng trăm mảnh, đi
chân đất, và suốt ngày chỉ biết lủi thủi quấn lấy chân mẹ. Lúc
Florentyna ở trường về thì nó lại chuyển sang quấn lấy chị cho
đến tận lúc đi ngủ. Mỗi khi chia thức ăn ra làm chín suất,
Florentyna thường sẻ một nửa phần của mình cho Wladek. Khi
nào nó ốm đau cô để cho nó cả phần mình. Wladek mặc những
quần áo cô khâu cho nó, hát những bài hát cô dạy nó, và cùng
chơi những đồ chơi người ta cho cô bé.
Florentyna phải đi học xa gần hết ngày nên từ lúc bé
Wladek đã muốn cùng đi với chị. Đến khi được phép là chú
nắm chặt lấy tay chị đi suốt chín dặm đường qua các rừng cây
và vườn tược để đến Slonim theo học.
Wladek thích trường học ngay từ ngày đầu. Ở đây, chú coi
như được thoát khỏi túp nhà lụp xụp đã sống từ bé. Đến
trường học cũng là lần đầu tiên trong đời chú hiểu được rằng
phần phía Đông của Ba Lan bị nước Nga chiếm đóng. Chú
biết được rằng tiếng mẹ đẻ Ba Lan chỉ được nói riêng với nhau
trong nhà, còn ở trường thì phải dùng tiếng Nga. Chú cảm thấy
có một niềm tự hào gì đó như các trẻ em khác trong trường về
tiếng mẹ đẻ của mình. Wladek cũng rất ngạc nhiên thấy thầy
giáo Kotowski coi chú như người lớn, khác với thái độ của bố
ở nhà. Mặc dầu là bé nhất trong lớp nhưng chẳng bao lâu chú
đã học giỏi hơn tất cả về các môn, chỉ trừ có người chú là
không lớn hơn được mà thôi. Người chú quá nhỏ bé nên mọi
người không đánh giá được hết những khả năng của chú. Trẻ
em bao giờ cũng hình dung phải thật to lớn mới là giỏi. Năm...
cả hai người đều muốn giấu tên. Một người đang soạn cuốn
Hồi ký của đời mình, còn một người đang là nhân vật quan
trọng ở Hoa Kỳ.
“Với cuốn Kane And Abel này, Jeffrey Archer đứng vào
hàng mười nhà văn đầu bảng của thế giới hiện nay”
• The Lost Angeles Times
“Tôi thách bất cứ ai không thích cuốn sách này, vì nó là
một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi được đọc từ
trước đến nay.”
• Otto Preminger
“Một cuốn tiểu thuyết có sức mạnh phi thường”
• The Evening News
“Jeffrey Archer là một thiên tài về kể chuyện”
• Susan Howatch
PHẦN MỘT
CHƯƠNG 1
Ngày 18 tháng 4, 1906
Slonim, Ba Lan
Chỉ sau khi đã chết rồi cô ta mới không kêu hét nữa. Và
cũng chính vào lúc đó đứa bé mới bắt đầu gào khóc.
Chú nhỏ đang đi săn thỏ trong rừng gần đó nghe thấy lạ
nhưng không phân biệt được đó là tiếng hét cuối cùng của
người đàn bà hay tiếng khóc đầu tiên của đứa bé. Đột nhiên
chú quay người lại, cảm thấy có chuyện gì nguy hiểm, đôi mắt
chú dò tìm xem có con thú nào bị đau. Chú chưa bao giờ nghe
một con thú nào kêu lên như vậy. Chú cẩn thận đi từng bước
đến gần nơi phát ra tiếng kêu. Lúc này tiếng kêu đã thành rên
rỉ nhưng vẫn không giống với tiếng của bất cứ con thú nào chú
được biết. Chú chỉ mong con thú này nhỏ để chú đủ sức giết
được và để có cái gì mới cho món thịt thỏ bữa tối.
Chú thợ săn nhỏ rón rén phía bờ sông, nơi có tiếng kêu lạ
vẳng đến. Chú nấp sau từng gốc cây để có chỗ dựa nếu xảy ra
chuyện gì. Chú nhớ lời bố dặn là chớ bao giờ đứng ra ngoài
chỗ trống. Ra đến bìa rừng, chú đã có thể nhìn rõ cả một
khoảng thung lũng kéo dài xuống đến sông, và lúc này chú
mới nhận ra tiếng kêu quái lạ ấy không phải phát ra từ một con
thú bình thường. Chú bò dần về phía có tiếng rên. Đến đây,
chú đã hoàn toàn ra chỗ trống. Bỗng chú trông thấy người đàn
bà nằm đó, áo váy vén lên ngang ngực còn hai chân thì giang
rộng. Chú chưa hề thấy người đàn bà nào như thế bao giờ. Chú
chạy vội đến bên cạnh, nhìn xuống bụng người đàn bà và chú
hoảng sợ. Giữa hai chân người đàn bà có một vật nhỏ đỏ hỏn
và ướt đẫm, dính vào người bằng một cái gì đó như sợi dây
thừng. Chú bé thợ săn bỏ mấy con thỏ mới lột da xuống rồi
quỳ bên cạnh vật nhỏ bé ấy.
Chú ngỡ ngàng nhìn một lúc rồi lại quay ra nhìn người đàn
bà. Chú chưa biết mình phải làm thế nào. Thân thể người đàn
bà đã tái xanh vì rét lạnh. Cô ta chỉ ngoài hai mươi nhưng
khuôn mặt đã già cỗi khiến chú bé tưởng cô đã đến tuổi trung
niên. Chú biết là cô ta đã chết rồi. Chú bỗng nhấc cái cơ thể
nhỏ bé lên. Chú cũng không biết tại sao mình làm như vậy. Có
lẽ vì chú thấy đứa bé đưa mấy ngón tay nhỏ xíu lên cào vào bộ
mặt nhăn nhúm của nó nên chú sợ chăng. Nhấc lên rồi chú
mới biết là giữa người mẹ với đứa con vẫn còn dính vào nhau
bằng một sợi dây nhầy nhụa.
Trước đó ít ngày chú đã được xem một con cừu đẻ. Bây giờ
chú cố nhớ lại. Chú biết người chăn cừu đã làm như thế nào,
nhưng chú không biết là với một đứa bé thì có thể làm như vậy
được không? Đứa bé đã thôi không rên rỉ nữa. Chú cảm thấy
mình phải gấp rút quyết định. Chú rút con dao ra, con dao chú
vừa dùng để lột da thỏ, lau vào tay áo rồi, ngập ngừng một
chút, chú cắt đứt sợi dây ở chỗ gần bụng đứa bé. Máu tuôn ra
ở hai đầu dây. Chú thử nhớ lại xem người chăn cừu đã làm
như thế nào. Ông ta thắt một cái nút để máu khỏi chảy. À,
đúng thế rồi. Chú bứt một cọng cỏ dài ở dưới đất và thắt vội
vào đầu dây rồi bế đứa bé lên. Chú từ từ đứng dậy và bỏ lại đó
ba con thỏ với người đàn bà đã chết. Trước lúc đi, chú khép
hai chân lại cho người mẹ và kéo chiếc váy xuống đến đầu gối.
Chú chỉ biết làm như vậy được thôi.
“Ôi, lạy Chúa!” Mỗi khi làm điều gì hoặc rất tốt hoặc rất
xấu, chú vẫn thường thốt lên như vậy. Trong trường hợp này,
chú chưa thể biết là xấu tốt như thế nào.
Chú bé thợ săn cứ thế chạy vội về nhà. Chú biết là mẹ chú
chỉ chờ chú mang thỏ về là sửa soạn bữa ăn tối. Bà mẹ sẽ hỏi
hôm nay chú săn được mấy con. Nhà có những tám miệng ăn,
phải có ít nhất là ba con thỏ mới đủ. Đôi khi chú kiếm một con
vịt hoặc con ngỗng, có lúc được cả một con chim trĩ bay lạc từ
trong trại của Nam tước ra đây. Bố chú bé làm ở trang trại ấy.
Nhưng hôm nay chú không dám rời tay khỏi đứa bé chú đang
bế, chú lấy chân đá vào cửa để mẹ nghe thấy và ra mở. Chú
lặng lẽ giơ đứa bé lên cho mẹ xem. Người mẹ không đỡ ngay
đứa bé mà còn đưa tay lên ngực và nhìn nó một lát.
“Ôi, lạy Chúa!” Người mẹ nói và làm dấu thánh giá.
Chú ngước lên nhìn mẹ xem bà vui hay buồn. Nhưng đôi
mắt người mẹ cúi xuống nhìn một cách rất hiền dịu chú chưa
từng thấy. Chú biết ngay rằng điều mình làm là tốt.
“Em bé, hả mẹ?”
“Con trai,” mẹ chú gật đầu khẽ nói. “Con tìm thấy ở đâu
thế?”
“Ở gần bờ sông, mẹ ạ.” chú đáp.
“Còn mẹ đứa bé đâu?”
“Chết rồi.”
Người mẹ làm dấu thánh giá.
“Con mau chạy đi nói với bố. Bố sẽ tìm bà Urszula Wojnak
trên trại. Rồi con phải dẫn cả hai người đến chỗ có người mẹ
của đứa bé này. Sau đó mọi người về đây ngay nhé.”
Chú thợ săn nhỏ trao đứa bé cho mẹ. Chú mừng thầm trong
bụng là mình đã không bỏ mặc đứa bé. Trao được cho mẹ rồi,
chú lau hai tay vào quần và chạy đi tìm bố.
Người mẹ lấy vai đẩy cửa vào trong và gọi đứa con gái lớn
ra đặt nồi nước lên bếp lò. Rồi bà ngồi xuống một chiếc ghế
gỗ, cởi khuy áo và ấn đầu vú vào cái miệng nhăn nhúm của
đứa bé. Thế là, Sophia, đứa con gái mới được sáu tháng, tối
nay sẽ phải nhịn không còn sữa ăn nữa. Người mẹ lấy làm lo
buồn.
“Nhưng sao lại thế nhỉ?” Người mẹ bỗng thốt lên và kéo
chiếc khăn choàng lên cánh tay mình cùng với đứa bé. “Ôi,
chú bé tội nghiệp này, để đến sáng mai thì chú cũng chết mất
thôi.”
Lúc bà đỡ già Urszula Wojnak tắm rửa và thắt lại rốn cho
đứa bé thì người mẹ không nhắc lại những ý nghĩ vừa rồi nữa.
Còn ông chồng chỉ đứng lặng yên mà nhìn.
“Có khách vào nhà tức là có Chúa vào nhà.” người mẹ chợt
nhắc đến một câu tục ngữ Ba Lan.
Ông chồng nhổ toẹt một cái.
“Đồ chết dịch ở đâu. Nhà này có thiếu gì trẻ con nữa chứ!”
Người mẹ làm như không nghe thấy ông ta nói gì, chỉ đưa
tay vuốt mấy sợi tóc đen trên đầu đứa bé.
“Ta đặt tên nó là gì nhỉ?” Người đàn bà nói và ngước mắt
nhìn chồng.
“Ai mà biết được? Cứ để cho nó chết mà không có tên tuổi
gì hết là xong.” Ông nhún vai.
CHƯƠNG 2
Ngày 18 tháng 4, 1906
Boston, Massachusetts
Bác sĩ nắm lấy cổ chân đứa bé mới đẻ nhấc cao lên và phát
cho nó một cái vào đít. Đứa bé bật khóc.
Ở Boston, bang Massachusetts, có một bệnh viện chuyên
phục vụ cho những ai mắc các chứng bệnh của người giàu có,
và vào một số trường hợp đặc biệt nào đó bệnh viện cũng kiêm
cả việc đỡ đẻ cho những trẻ sơ sinh giàu có được ra đời. Ở
bệnh viện đa khoa Massachusetts này, các bà mẹ không phải
kêu hét và cũng không phải mặc quần áo bình thường như khi
sinh đẻ. Lệ là như thế rồi.
Một người đàn ông trẻ tuổi đi đi lại lại bên ngoài phòng đẻ.
Bên trong có hai bác sĩ khoa nhi cùng với một bác sĩ riêng của
gia đình làm nhiệm vụ. Người cha này không dám để xảy ra
chuyện gì cho đứa con đầu lòng của mình. Hai bác sĩ khoa nhi
sẽ được trả một món tiền lớn với mỗi một việc là đứng đó để
chứng kiến chuyện sinh đẻ thôi. Một trong hai bác sĩ ấy đã
mặc sẵn bộ lễ phục bên dưới chiếc áo choàng trắng của bệnh
viện, để hễ xong ở đây ra là ông đi dự tiệc ở đâu đó. Ông ta
không thể nào vắng mặt trong ca sinh đẻ đặc biệt này được.
Trước đó, cả ba bác sĩ đã rút thăm với nhau xem ai trong số họ
sẽ trực tiếp đỡ đẻ.
Cuối cùng, người rút trúng là bác sĩ đa khoa MacKenzie.
Người cha vừa đi lại ngoài hành lang vừa nghĩ xem sẽ đặt tên
gì cho hay và gặp nhiều may mắn. Thực ra, anh cũng không lo
đến chuyện ấy lắm. Sáng hôm đó, Richard đã chở Anne, vợ
anh, đến bệnh viện bằng cỗ xe ngựa hai bánh. Vợ anh đã tính
đến hôm đó là ngày thứ hai mươi tám của tháng thứ chín rồi.
Cô ta bắt đầu đau đẻ ngay từ sau lúc ăn sáng, nhưng người ta
bảo anh là nếu có đẻ cũng phải đến chiều sau giờ ngân hàng
anh đóng cửa. Anh là một người rất có kỷ luật, không muốn
việc vợ mình đẻ ảnh hưởng gì đến giờ giấc của người khác.
Anh vẫn cứ đi đi lại lại trong hành lang như vậy. Mấy cô y tá
và bác sĩ trẻ tất tả ra vào đều biết anh đang có mặt ở đây. Đi
qua gần chỗ anh, họ thì thầm với nhau nhưng ra xa họ lại nói
bình thường. Anh không để ý chuyện đó, vì đã quen với mọi
người vẫn đối xử với mình như vậy. Phần lớn những người ở
đây chưa gặp anh bao giờ, nhưng mọi người đều biết anh là ai.
Nếu đứa bé sinh ra hôm nay là con trai, có lẽ anh sẽ xây
tặng cho bệnh viện một khu mới mà bệnh viện đang rất cần.
Anh đã tặng họ một thư viện và một trường tiểu học rồi. Anh
chàng sắp làm bố ấy giở tờ báo buổi chiều ra xem nhưng
chẳng đọc chữ nào ra chữ nào. Anh bứt rứt lo lắng. Chắc là họ
(anh gọi mọi người là “họ” hết) chẳng bao giờ có thể hiểu
được là anh dứt khoát phải có con trai, để một ngày kia nó sẽ
thay anh làm thống đốc và chủ tịch ngân hàng. Anh lật mấy
trang báo buổi chiều: Đội Tất Đỏ Boston đấu với đội Cao
Nguyên New York. Xong trận này chắc họ sẽ khao to. Anh chợt
nhớ đến mấy dòng chữ to ở trang đầu, bèn lật ra xem. Báo đưa
tin một vụ động đất tệ hại nhất trong lịch sử nước Mỹ. San
Francisco bị tàn phá ghê gớm. Ít nhất có bốn trăm người chết.
Ôi, bao nhiêu là tang tóc. Anh bỗng thấy bực dọc trong người.
Chuyện động đất làm mất cả ý nghĩa việc đứa con anh sắp ra
đời. Đáng lẽ người ta phải nhớ rằng trong những ngày này còn
có sự kiện gì khác nữa chứ.
Anh chưa hề có lúc nào nghĩ rằng đứa bé có thể là con gái.
Anh lật tờ báo sang trang tài chính và xem lại mục thị trường
chứng khoán: Chỉ số đã tụt xuống mấy điểm. Thế là vụ động
đất chết tiệt kia đã làm giảm mất giá trị cổ phần của anh trong
ngân hàng tới một trăm ngàn đôla. Tuy nhiên, với tài sản riêng
của anh hiện vẫn còn trên 16 triệu đôla thì đến mấy vụ động
đất như ở California cũng chưa làm gì anh được. Anh vẫn còn
có thể hưởng tiền lãi suất, còn cả cái vốn 16 triệu kia vẫn sẽ
nguyên đó để con trai anh sau này thừa kế. Anh tiếp tục đi lại
trong hành lang và làm như vẫn đọc tờ báo buổi chiều.
Ông bác sĩ khoa nhi đã mặc sẵn lễ phục khi nãy bước ra
khỏi phòng đẻ để báo tin. Ông ta cảm thấy mình phải làm cái
gì đó cho xứng với món tiền to sắp được lĩnh, và ông nghĩ
mình cũng đang là người ăn mặc chỉnh tề nhất thông báo tin
này. Hai người nhìn nhau một lúc. Ông bác sĩ thấy hơi xúc
động nhưng không muốn biểu lộ gì trước mặt người mới làm
bố.
“Xin chúc mừng ông, ông đã có con trai, một chú bé nhỏ tí
và rất xinh đẹp.”
Người cha nghĩ bụng ông bác sĩ nói thế là dở quá, vì đứa
nào mới sinh ra mà chả nhỏ tí? Nhưng cái tin con trai ông ta
vừa nói đến giờ mới ngấm vào người anh. Suýt nữa anh bật
lên nói tạ ơn Chúa. Ông bác sĩ hỏi thêm một câu nữa để phá
tan cái im lặng lúc đó.
“Ông đã định đặt tên cháu là gì chưa?”
Người cha trả lời ngay, không ngập ngừng:
“Cháu tên là William Lowell Kane.”
CHƯƠNG 3
Sau khi cả nhà đã hết nhộn nhịp với việc đứa bé mới về nhà
này và mọi người đã đi ngủ từ lâu rồi, người mẹ vẫn còn thức
với đứa bé trong tay. Helena Koskiewicz là một người rất tin ở
cuộc sống. Bằng chứng là chị đã đẻ và nuôi được sáu đứa con.
Trước đó chị đã để mất đi ba đứa từ lúc chúng còn nhỏ, nhưng
chị cũng chưa để cho đứa nào chết một cách dễ dàng được.
Chị chỉ mới ba mươi lăm tuổi nhưng biết là anh chồng
Jasio của mình, trước đây vốn là một người rất khỏe mạnh, sẽ
chẳng cho chị thêm đứa con nào nữa. Bây giờ Chúa đã đem
đứa bé này đến cho chị, chắc chắn là nó phải sống. Helena
cũng là con người có đức tin đơn giản, và điều đó cũng phải
thôi, vì số phận chả bao giờ cho chị có được cuộc sống nào
khác hơn cuộc sống đơn giản hiện nay. Người chị xanh xao
gầy mòn, không phải do chị muốn như vậy mà do chị được ăn
quá ít, lại làm lụng vất vả và không có tiền để dành. Chị chẳng
bao giờ phàn nàn điều gì, nhưng các nếp nhăn trên mặt chị
khiến chị chẳng khác gì một người đã có cháu gọi bằng bà chứ
không phải người mẹ ở thế giới ngày nay. Đời chị chưa một
lần nào được mặc quần áo mới.
Helena bóp thật mạnh vào hai bên vú đến hằn đỏ cả lên.
Mấy giọt sữa tuôn ra. Ở cái tuổi ba mươi lăm, tức là đã nửa
đời người, ai nấy đều đã ít nhiều có kinh nghiệm thành thạo,
và Helena chính đang ở thời kỳ như vậy.
“Chú nhỏ của mẹ nào,” chị khẽ nói với đứa bé và ấn đầu vú
vào miệng nó đang chum cong lên chờ sữa. Đôi mắt xanh của
nó hé mở. Vài giọt mồ hôi lấm tấm trên mũi. Cuối cùng người
mẹ cũng lăn ra ngủ từ lúc nào.
Jasio Koskiewicz, anh chồng lờ đờ chậm chạp có bộ ria
mép rất rậm và cũng là thứ quý nhất để anh ta có thể tự khẳng
định được mình trong cuộc sống đi làm thuê khổ sở này, chợt
tỉnh dậy vào lúc năm giờ, thấy vợ với đứa bé kia còn đang ngủ
trên ghế chao. Đêm đó anh ta cũng không chú ý đến việc
không có mặt vợ trên giường. Anh ta đứng chăm chăm nhìn
vào đứa bé không cha không mẹ. Anh cảm ơn Chúa vì ít ra
đứa bé không còn kêu hét nữa. Hay là nó chết rồi? Jasio nghĩ
bụng thôi mình chả nên dính đến cái của nợ này nữa. Cứ việc
đi làm như thường, để mặc cho vợ anh lo chuyện sống chết
của nó, còn anh thì tính làm sao có mặt ở trang trại của Nam
tước từ sáng sớm là được. Anh tu mấy hớp sữa dê vào bụng rồi
quệt miệng vào tay áo. Sau đó một tay cầm khoang bánh và
một tay vớ lấy chiếc bẫy anh ta lặng lẽ chuồn ra ngoài, bụng
chỉ sợ người đàn bà thức dậy và bảo anh làm gì đó. Anh ta rảo
bước về phía rừng, không muốn nghĩ gì đến đứa bé nữa và chỉ
mong đây là lần cuối cùng anh ta trông thấy nó.
Florentyna, cô con gái lớn, là người thứ hai bước vào bếp.
Chiếc đồng hồ cổ không biết đã được bao nhiêu năm vừa điểm
sáu giờ sáng. Nó chẳng qua chỉ để nhắc cho những ai trong
nhà muốn biết giờ phải dậy hay phải đi ngủ mà thôi. Công việc
hàng ngày của Florentyna chỉ có mỗi chuyện là chuẩn bị bữa
ăn sáng, cụ thể là chia bọc sữa dê và miếng bánh mì đen ra cho
đủ tám người trong gia đình cùng ăn. Việc chỉ có thế thôi
nhưng nó đòi hỏi cô phải có cái khôn ngoan như của
Solomon[1] mới làm nổi để không một ai có thể phàn nàn gì
được là phần của người khác nhiều hơn phần mình.
Florentyna là một cô gái mảnh khảnh, xinh đẹp, ai mới
trông thấy cũng quý mến ngay được. Chỉ tội một điều là đã hai
năm nay cô bé vẫn chỉ có một chiếc áo để mặc. Nhưng cứ
trông thấy cô bé là người ta hiểu ngay tại sao trước đây anh
chàng Jasio đã say mê mẹ cô đến thế. Florentyna có mớ tóc
vàng óng mượt và đôi mắt màu hạt dẻ long lanh, bất chấp tuổi
nhỏ và ăn uống thiếu thốn.
Cô rón rén bước đến bên ghế chao nhìn mẹ và đứa bé.
Florentyna đã thích đứa bé ngay từ lúc đầu. Đã tám tuổi rồi
nhưng cô bé mới chỉ thấy búp bê có một lần khi gia đình được
mời đến dự tiệc Giáng sinh ở lâu đài của Nam tước. Cô bé chỉ
trông thấy thôi chứ chưa được sờ vào búp bê. Bao giờ cô rất
muốn được bế đứa bé này trong tay mình. Cô cúi xuống gỡ
đứa bé ra khỏi tay mẹ, nhìn vào đôi mắt xanh nhỏ tí của nó và
khẽ ru trong miệng. Đang ở chỗ ấm của vú mẹ sang đôi tay
lạnh của cô, đứa bé tỏ ra khó chịu. Nó bỗng khóc váng lên làm
người mẹ bừng tỉnh dậy. Chị lấy làm ân hận mình đã ngủ lúc
nào không biết.
“Ôi, lạy Chúa, nó hãy còn sống,” chị nói với Florentyna.
“Con sửa soạn ăn sáng cho các em, để mẹ cho nó bú nữa.”
Florentyna miễn cưỡng đưa trả đứa bé lại cho mẹ và nhìn
mẹ lại cố vắt sữa ra nữa. Cô bé đứng đó mê mẩn cả người.
“Mau lên con, Florcia,” mẹ cô giục “Phải cho cả nhà ăn
nữa chứ.”
Florentyna đành bỏ ra ngoài. Các em cô mới ngủ dậy đã từ
trên gác kho bước xuống chào mẹ và nhìn đứa bé bằng những
con mắt kinh ngạc. Chúng chỉ biết là đứa bé này không phải từ
trong bụng mẹ mà ra. Florentyna mải mê với đứa bé nên sáng
nay bỏ cả ăn sáng. Bọn em cô chia luôn phần của cô ra ăn còn
để lại phần của mẹ trên bàn. Cả nhà bận rộn với công việc của
mình nên không một ai để ý rằng từ lúc có đứa bé về nhà đến
giờ, người mẹ chưa hề ăn tí gì vào bụng.
Helena Koskiewicz hài lòng thấy các con mình đã sớm học
được cách tự lo lấy thân mình. Chúng có thể cho gia súc ăn,
vắt sữa dê sữa bò và chăm sóc rau cỏ ngoài vườn mà không
cần phải chờ chị sai bảo hay giúp đỡ. Buổi tối, lúc Jasio về
nhà, chị mới nhớ ra là mình chưa sửa soạn bữa tối cho chồng.
Nhưng ngay sau đó chị biết là Florentyna đã bắt đầu làm món
thịt thỏ mà chú em thợ săn Franck đem về cho chị. Florentyna
lấy làm tự hào được phụ trách bữa ăn tối, một công việc mà
chỉ khi nào mẹ ốm đau mới giao cho cô, và Helena
Koskiewicz thì họa hoằn lắm mới để cho con gái phải làm như
vậy. Chú bé thợ săn mang về được bốn con thỏ, bố mang về
được sáu cây nấm với ba củ khoai, tối nay cả nhà sẽ được ăn
tiệc thật sự.
Ăn tối xong rồi, Jasio Koskiewicz ngồi xuống ghế bên lò
sưởi và bây giờ mới được dịp nhìn kỹ đứa bé. Nâng đầu đứa
bé lên bằng mấy ngón tay, anh ta quan sát khắp người thằng bé
với con mắt của một người đi săn thú. Khuôn mặt nhăn nhúm
của nó chỉ có mỗi đôi mắt xanh nhỏ tí và chưa biết nhìn là đẹp
hơn cả. Anh ta nhìn tiếp xuống thân hình mỏng mảnh của nó
và chợt chú ý ngay đến một cái gì đó. Anh ta bỗng nhăn mặt
và gạt ngón tay cái vào ngực đứa bé.
“Em đã thấy cái này chưa, Helena?” anh ta nói và giơ sườn
đứa bé ra, “Cái thằng khốn này hóa ra chỉ có một bên vú thôi!”
Chị vợ cũng lấy làm lạ bèn tự mình gại ngón tay vào ngực
nó xem sao. Chị tưởng làm như thế thì một bên vú nữa sẽ xuất
hiện. Chồng chị nói đúng: đứa bé chỉ có một đầu vú nhỏ tí bên
trái, còn cả nửa ngực bên phải thì phẳng lì và không có một
dấu vết gì khác.
Đầu óc mê tín của người đàn bà bỗng nổi lên.
“Thế là Chúa đã cho em thằng bé này.” Chị nói. “Đây là
dấu vết của Chúa để lại cho nó đây.”
Người đàn ông tức mình đưa ngay đứa bé cho vợ.
“Em thật là điên, Helena ạ. Đứa bé này là do một người có
máu xấu truyền sang cho mẹ nó.” Anh ta nhổ một cái vào lò
sưởi. “Dù sao, anh cũng đánh cuộc là thằng bé này không sống
được.”
Thực ra, Jasio Koskiewicz cũng chẳng cần biết thằng bé
sống hay chết. Ạnh ta vốn không phải một người nhẫn tâm,
nhưng đứa bé này không phải là của anh, mà trong nhà thêm
một miệng ăn nữa chỉ làm cho mọi chuyện rắc rối.
Giả thử có như vậy đi nữa thì bản thân anh cũng phải là
người đi cầu Chúa giúp. Rồi không nghĩ ngợi gì về đứa bé
nữa, anh ta ngủ thiếp đi bên đống lửa lò sưởi.
Ngày tháng trôi qua, chính Jasio Koskiewicz cũng dần dần
tin rằng đứa bé có thể sống được. Nếu hôm trước đánh cuộc
thật thì anh ta đã thua rồi. Đứa con trai lớn nhất, tức là chú thợ
săn, được các em giúp một tay, đã kiếm gỗ trong rừng của
Nam tước về làm cho thằng bé một chiếc giường. Florentyna
cắt những mẩu vải áo cũ của cô khâu lại làm áo cho nó. Những
mẩu vải ấy khâu lại với nhau trông như áo của anh hề
Harlequin mà bọn trẻ chưa được biết. Trong nhà, mỗi khi định
đặt tên cho thằng bé thì chẳng ai đồng ý với nhau được. Riêng
người bố không có ý kiến gì. Cuối cùng họ gọi nó là Wladek,
và chủ nhật sau đó, tại nhà thờ trong trang trại của Nam tước,
thằng bé được mang tên là Wladek Koskiewicz. Người mẹ thì
cầu Chúa phù hộ cho nó, còn người bố thì mặc kệ, bảo nó
muốn ra sao thì sao.
Tối hôm đó có một bữa tiệc nhỏ để chúc mừng gia đình.
Trang trại của Nam tước cho một con ngỗng để thêm vào bữa
tiệc. Mọi người ăn uống vui vẻ.
Từ hôm đó trở đi, Florentyna phải học cách chia bữa ăn
sáng ra cho chín miệng ăn.
CHƯƠNG 4
Anne Kane đã ngủ yên được hết đêm. Sau bữa ăn sáng, chị
lại sốt ruột đòi cô y tá bệnh viện đưa trả lại cậu bé William cho
chị bế.
“Nào, bà Kane,” cô y tá mặc đồng phục trắng nói, “bây giờ
cũng phải cho em bé ăn sáng nữa chứ?”
Cô y tá cho Anne ngồi dậy trên giường và hướng dẫn cách
cho con bú. Anne chợt hiểu ra bộ ngực mình đã căng phồng.
Chị biết là nếu mình tỏ ra lúng túng lúc này thì người ta sẽ bảo
mình không biết làm mẹ. Chị chăm chăm nhìn vào đôi mắt
xanh của William, thấy nó xanh hơn cả mắt bố. Chị cảm thấy
địa vị của mình đã vững vàng hơn, và rất hài lòng. Ở cái tuổi
hai mươi mốt, chị không còn thiếu một thứ gì. Chị thuộc họ
Cabot, đi lấy một người bên gia đình Lowell, và bây giờ lại có
đứa con đầu lòng mang truyền thống của hai gia đình được
tóm tắt lại bằng mấy dòng trong tấm thiếp của người bạn cũ
gửi đến cho chị như sau:
Đây là quê cũ Boston
Có đậu, có cá, ai không nhớ về
Lowell, Cabot đề huề
Hạnh phúc hai họ tràn trề Boston
Anne nói chuyện với William đến nửa giờ nhưng đứa bé
chưa có phản ứng gì.
Lát sau nó ngủ một cách ngon lành. Anne không đụng gì
đến hoa quả bánh kẹo đem đến chất đầy ở bên giường. Chị đã
có ý định đến mùa hè này sẽ trở lại với tất cả những mốt áo
mới và giành lại chỗ của chị trong những tạp chí về trang
phục. Chẳng phải chính Hoàng tử Garonne đã ca tụng chị là
người đẹp duy nhất ở Boston đó sao? Mớ tóc vàng mượt,
những nét thanh tú và hình dáng thon thả của chị được người
ta quý chuộng kể cả ở trong thành phố chị chưa đến bao giờ.
Chị lại ngắm mình trong gương: trên mặt chưa thấy có một nét
gì khác thường, ít ai có thể tin được rằng chị vừa làm mẹ của
một đứa trẻ rất bụ bẫm. Cảm ơn Chúa, đúng là nó bụ bẫm thật
đấy, Anne nghĩ bụng.
Chị ăn một bữa trưa nhẹ ngon miệng rồi chuẩn bị để tiếp
những người khách sẽ đến thăm vào buổi chiều do cô thư ký
riêng đã sắp xếp. Những ai được phép đến thăm trong mấy
ngày đầu này đều phải là người trong gia đình hoặc là thuộc
những gia đình quyền quý nhất. Còn những người khác sẽ chỉ
được trả lời là chị chưa sẵn sàng tiếp. Nhưng Boston lại là một
trong những thành phố ở Mỹ mà ai nấy đều biết rõ thân phận
của mình cả rồi, nên cũng không loại trừ trường hợp sẽ có
người không mời mà đến.
Căn phòng chị nằm một mình ở đây vẫn còn đủ chỗ để kê
thêm được đến năm chiếc giường nữa giá như người ta không
đem hoa đến bầy cắm la liệt khắp nơi. Ai chợt đi qua nhìn vào
nếu không thấy người đàn bà ngồi trên giường sẽ có thể tưởng
như đây là một phòng triển lãm nhỏ về nghệ thuật trồng vườn.
Anne bật đèn điện lên. Với chị, cái đó còn mới lạ. Richard và
chị vẫn còn chờ cho bên họ nhà Cabot cùng lắp thì mới dùng.
Với lại, ở Boston, ánh sáng bằng cảm ứng điện từ chưa được
phổ biến lắm.
Người đầu tiên đến thăm Anne là bà Thomas Lowell Kane,
mẹ chồng chị. Từ khi ông chồng chết năm ngoái, bà là người
chủ đứng đầu cả gia đình. Bà đã có cái tuổi cuối trung niên
nhưng đi đứng còn rất điệu bộ và thanh thoát. Bà mặc chiếc áo
thả xuống rất dài khiến không ai có thể trông thấy gót chân bà
được. Người duy nhất trông thấy gót chân của bà thì nay đã
chết rồi. Bà luôn luôn có thân hình mỏng mảnh. Theo bà thì tất
cả những phụ nữ béo mập đều do ăn uống tồi, thậm chí không
biết ăn uống. Hiện nay bà là người nhiều tuổi nhất của họ nhà
Lowell còn sống, và cũng là nhiều tuổi nhất cả bên họ nhà
Kane nữa. Cho nên người đầu tiên đến đây thăm không thể ai
khác ngoài bà. Vả lại, chính bà là người đã thu xếp Anne với
Richard gặp nhau, chứ ai vào đó nữa? Đối với bà Kane, tình
yêu chả có nghĩa gì lắm.
Bà chỉ ưng có ba thứ trên đời là tiền của, địa vị và uy tín.
Tất nhiên, tình yêu cũng là tốt, nhưng bà cho rằng nó không
phải là một thứ hàng hóa lâu bền. Chỉ có ba thứ trên mới lâu
bền được. Bà hôn vào trán cô con dâu với một vẻ tán thưởng.
Anne bấm vào một cái nút trên tường và có tiếng vè vè nhỏ
vang lên. Tiếng đó khiến bà Kane ngạc nhiên. Bà không tin là
điện lại có thể dùng để gọi như thế được. Cô y tá xuất hiện
cùng với đứa bé thừa tự. Bà Kane nhìn nó một lúc, tỏ vẻ hài
lòng rồi bảo bế đi.
“Khá lắm, Anne,” bà nói, làm như cô con dâu của bà vừa
được cái giải đi ngựa. “Mọi người đều rất tự hào về con.”
Mấy phút sau, bà Edward Cabot là mẹ đẻ của Anne cũng
đến. Cũng như bà Kane, bà góa chồng sớm. Bề ngoài hai bà
không khác nhau mấy, nhìn từ xa người ta có thể lẫn hai bà với
nhau. Tuy nhiên bà tỏ ra quan tâm nhiều hơn bà Kane đến đứa
cháu ngoại của mình và cả với con gái nữa. Lát sau họ mới để
ý đến những bó hoa gửi đến mừng.
“Nhà Jackson thật là quý hóa quá,” bà Cabot lẩm bẩm nói.
Bà Kane thì chỉ nhìn qua loa mấy bông hoa rồi để ý đến
những tấm thiếp có tên người gửi. Bà khẽ lẩm nhẩm những tên
đó để nhớ: nhà Adam, nhà Lawrence, nhà Lodge, nhà
Higginson. Cả hai bà không ai nói năng gì về những tên mà
mình không biết. Họ đều đã quá cái tuổi muốn biết về bất cứ
gì mới hay bất cứ ai mới. Hai bà cùng ra về, cùng rất hài lòng:
vậy là một đứa con thừa tự đã ra đời, và mới trông cũng đã
thấy thỏa mãn được rồi. Cả hai bà đều cho là nghĩa vụ cuối
cùng đối với gia đình như thế là đã được thực hiện rất mĩ mãn,
và từ nay trở đi mọi người có thể yên tâm vui vẻ.
Nhưng cả hai bà đều nhầm.
Trong cả buổi chiều, các bạn thân của Anne và Richard kéo
đến với đủ các quà mừng bằng vàng bằng bạc và những lời
chúc tụng nhiệt tình.
Lúc chồng chị đến sau giờ làm việc thì Anne đã có phần rất
mệt mỏi. Trưa nay, lần đầu tiên trong đời, Richard đã uống
sâm banh trong bữa ăn. Ông già Amos Kerbes với cả Câu lạc
bộ Somerset đều ép nên Richard không sau từ chối được. Vợ
anh thấy như anh đỡ cứng nhắc hơn mọi khi. Bệ vệ trong bộ
áo đen dài với chiếc quần kẻ sọc, người anh cao hơn với mái
tóc đen rẽ ngôi giữa bóng mượt dưới ánh đèn điện. Ít người
đoán đúng được tuổi anh chỉ mới ba mươi ba. Đối với anh, còn
trẻ tuổi hay không chả bao giờ là chuyện quan trọng, mà cái
chất của con người mới là đáng kể. Một lần nữa, William
Lowell Kane lại bị bê ra để xem xét kỹ lưỡng, chẳng khác nào
như người bố điểm lại việc thu chi cuối ngày ở ngân hàng vậy.
Mọi thứ có vẻ đâu ra đấy. Đứa bé có đủ hai chân, hai tay, mười
ngón tay, mười ngón chân. Richard không thấy có gì ở đứa bé
để sau này khiến anh phải phiền lòng. Thế là William lại được
bế đi.
“Đêm qua anh đã điện cho ông hiệu trưởng trường St. Paul.
William sẽ được nhận vào đó tháng chín năm 1918.”
Anne không nói gì. Rõ ràng là Richard đã bắt đầu tính đến
sự nghiệp của William rồi.
“Thế rồi, em yêu quý, hôm qua em đã bình thường được rồi
chứ?” anh hỏi. Suốt ba mươi ba tuổi đời, anh chưa hề nằm ở
bệnh viện một ngày nào.
“Vâng… không… em nghĩ thế,” vợ anh ngần ngừ trả lời,
cố nén không tỏ ra muốn khóc vì chị biết chồng sẽ không bằng
lòng như vậy.
Nhưng câu trả lời như thế thì Richard cũng không hiểu như
thế nào được. Anh hôn má vợ rồi bước ra xe ngựa trở về ngôi
nhà của gia đình ở Quảng trường Louisburg. Bây giờ, với nhân
viên phục vụ và người làm trong nhà, với đứa bé và cô bảo
mẫu, thế là trong nhà có tất cả chín miệng ăn. Richard không
phải nghĩ ngợi gì về chuyện đó.
William Lowell Kane được ban phước và được mang tên
bố đã đặt cho tại nhà thờ lớn St. Paul của Tân giáo, với sự có
mặt của tất cả những ai ở Boston có liên quan và một số ít
không liên quan. Giám mục William Lawrence làm lễ. J. P.
Morgan và Alan Lloyd, hai vị chủ ngân hàng có thế lực, cùng
với Milly Preston, người bạn thân nhất của Anne, được chọn
làm cha mẹ đỡ đầu. Đức giám mục vẩy nước thánh lên đầu
William. Thằng bé không có phản ứng gì. Hình như nó đã có
cái máu của lớp người coi khinh thiên hạ rồi. Anne cảm ơn
Chúa, coi như Người đã ghi vào sổ những thành tích của đình
Kane từ đời này sang đời khác, cảm ơn Chúa đã cho anh đứa
con trai để anh trao lại gia tài cho nó. Tuy nhiên, anh cũng
nghĩ, có lẽ có thêm đứa con trai nữa thì chắc chắn hơn. Đang
quỳ làm lễ, anh liếc nhìn sang vợ, và trong bụng lấy làm hài
lòng.
PHẦN HAI
CHƯƠNG 5
Wladek Koskiewicz lớn rất chậm. Bà mẹ nuôi dần hiểu ra
rằng sức khỏe của nó có nhiều vấn đề. Nó mắc đủ các chứng
bệnh của trẻ đang lớn và mắc cả những bệnh mà trẻ khác
không có, lây lung tung cả sang mọi người trong gia đình
Koskiewicz. Tuy thế Helena vẫn đối xử với nó như chính mình
đẻ ra. Chị cũng bênh vực nó rất ghê mỗi khi Jasio bực mình đổ
tội cho ma quỷ đã đưa thằng bé Wladek vào túp nhà nhỏ bé
này của họ. Còn Florentyna thì săn sóc nó như ruột thịt. Ngay
từ lúc đầu mới trông thấy nó cô bé đã rất thích. Cô có một nỗi
lo sợ kín đáo trong lòng, nghĩ mình là đứa con gái nghèo xác
của một người chuyên đi bẫy thú, sau này lớn lên sẽ chẳng ai
thèm lấy, và như thế thì sẽ chẳng có con được. Thế là cô coi
Wladek như con mình vậy. Chú em trai lớn, tức chú bé thợ săn
đã đem Wladek về, cũng thích thằng bé nhưng vì sợ bố nên
không dám tỏ ra mặt. Thằng bé đang chập chững tập đi trông
rất hay. Dù sao đến tháng Giêng tới chú bé thợ săn sẽ phải bỏ
học để lên làm việc ở trang trại của Nam tước rồi. Bố chú đã
bảo trẻ con là chuyện để cho đàn bà lo. Ba đứa em nhỏ, Stefan,
Josef và Jan, chả đứa nào để ý gì đến Wladek. Còn Sophia là
nhỏ nhất trong nhà thì chỉ biết cứ ôm lấy thằng bé là thích rồi.
Có điều cả hai bố mẹ đều không tính đến là về nhiều mặt
thằng bé rất khác với những đứa con trong nhà. Khác cả về
hình thức và tính nết. Những đứa con nhà Koskiewicz thì đứa
nào cũng cao lớn, to xương, tóc vàng và mắt xám, trừ có
Florentyna không kể. Còn Wladek thì lùn, tóc đen và mắt lại
rất xanh. Con nhà Koskiewicz thì chả đứa nào thiết đến
chuyện đi học và nếu có thì cứ lớn lên một chút là thôi. Nhưng
Wladek thì khác hẳn, tuy nó chậm biết đi nhưng mới mười tám
tháng nó đã biết nói. Lên ba tuổi nó đã đọc được chữ nhưng
mặc quần áo thì chưa biết. Lên năm tuổi nó đã biết viết nhưng
vẫn còn đái dầm. Người bố thì thất vọng, nhưng người mẹ lại
tự hào. Bốn năm đầu của nó chỉ luôn luôn quặt quẹo, và nếu
như không được Helena với Florentyna chăm sóc tử tế thì nó
đã chẳng sống được. Nó mặc chiếc áo vá hàng trăm mảnh, đi
chân đất, và suốt ngày chỉ biết lủi thủi quấn lấy chân mẹ. Lúc
Florentyna ở trường về thì nó lại chuyển sang quấn lấy chị cho
đến tận lúc đi ngủ. Mỗi khi chia thức ăn ra làm chín suất,
Florentyna thường sẻ một nửa phần của mình cho Wladek. Khi
nào nó ốm đau cô để cho nó cả phần mình. Wladek mặc những
quần áo cô khâu cho nó, hát những bài hát cô dạy nó, và cùng
chơi những đồ chơi người ta cho cô bé.
Florentyna phải đi học xa gần hết ngày nên từ lúc bé
Wladek đã muốn cùng đi với chị. Đến khi được phép là chú
nắm chặt lấy tay chị đi suốt chín dặm đường qua các rừng cây
và vườn tược để đến Slonim theo học.
Wladek thích trường học ngay từ ngày đầu. Ở đây, chú coi
như được thoát khỏi túp nhà lụp xụp đã sống từ bé. Đến
trường học cũng là lần đầu tiên trong đời chú hiểu được rằng
phần phía Đông của Ba Lan bị nước Nga chiếm đóng. Chú
biết được rằng tiếng mẹ đẻ Ba Lan chỉ được nói riêng với nhau
trong nhà, còn ở trường thì phải dùng tiếng Nga. Chú cảm thấy
có một niềm tự hào gì đó như các trẻ em khác trong trường về
tiếng mẹ đẻ của mình. Wladek cũng rất ngạc nhiên thấy thầy
giáo Kotowski coi chú như người lớn, khác với thái độ của bố
ở nhà. Mặc dầu là bé nhất trong lớp nhưng chẳng bao lâu chú
đã học giỏi hơn tất cả về các môn, chỉ trừ có người chú là
không lớn hơn được mà thôi. Người chú quá nhỏ bé nên mọi
người không đánh giá được hết những khả năng của chú. Trẻ
em bao giờ cũng hình dung phải thật to lớn mới là giỏi. Năm...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





