CHÀO XUÂN MỚI
Doi Mat - Nam Cao

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:29' 28-04-2024
Dung lượng: 855.1 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:29' 28-04-2024
Dung lượng: 855.1 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Mò Sâm Banh
Dì Hảo
Đôi Mắt
Trẻ Con Không Được Ăn Thịt Chó
Xem Bói
Nhật Ký Ở Rừng
Ma Đưa
Giăng Sáng
Đời Thừa
Chí Phèo
Con Mèo
Tư Cách Mõ
Một Bữa No
Đợi Chờ
Trần Cừ
ĐÔI MẮT
Nam Cao
www.dtv-ebook.com
Mò Sâm Banh
Chủ bếp Tư rất thận trọng về vấn đề giữ vệ sinh. Ông thường nói rằng:
Khí hậu ở đây chẳng được lành; những người chưa quen với thủy thổ miền
nhiệt đới, đến đây mà chẳng biết giữ thân, khó khỏi chết vì những bệnh
thương hàn hay kiết lỵ. Những bệnh nguy hiểm ấy truyền nhiễm phần nhiều
do nước bẩn. Bởi vậy nước ăn của ông phải coi giữ thế nào cho thật sạch. Cái
bể nước của ông, ông coi quý gần bằng vợ ông. Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông
nữa. Bởi vì vợ ông, ông có thể để người khác bắt tay, chứ bể nước mà đứa
nào dám nhúng tay bẩn hay cái "xô" bẩn vào thì cứ liệu cái thần hồn với ông.
Ở nhà chủ, bếp Tư thích nhất cái bể nước ăn này. Nó to bằng cả một gian
nhà rộng, nước mưa ở trên các mái nhà theo hai cái ống máng mà trút xuống.
Mặt bể bưng kín mít, trừ một máng vuông, mỗi bề chừng một thước, có nắp
khít như nắp cống. Những ngày nghỉ, vợ chồng ông chủ về Hà Nội, thằng Tề
con bác bếp vẫn đậy nắp bể cho thật kín rồi trèo lên mặt bể, co một chân lên
bắt chước Lã Bố đi bài tẩu mã hoặc nhảy huỳnh huỵch để bắt chước Võ Tòng
sát tẩu. Cái mặt bể toàn xi măng cốt sắt, bốn mươi thằng Tề nhảy cũng không
việc gì.
Tề là con một bác Tư. Mẹ nó chết mới xong tang. Bố nó tính hiền lành
nên rất yêu con. Chẳng như những bồi bếp khác, nay vợ này, mai vợ khác,
hoặc nhân tình nhân ngãi với bọn cô đầu, nhà thổ. Vợ chết quá ba năm rồi mà
nghĩ đến lúc nào bác ta vẫn còn thương. Có khi đang ngồi bác tự nhiên khóc
hu hu. Hỏi bác thì bác bảo: Cũng ngày này năm nọ, bác xin được phép chủ về
quê đón vợ con ra ở luôn đây với bác, thế mà bây giờ vợ bác đã nỡ bỏ bác mà
đi cho đành! Chẳng ngày rằm, mùng một nào bác không thắp hương cúng vợ.
Cúng xong, bác rơm rớm nước mắt, thở dài thở ngắn. Tề thấy thế thương cha
vô cùng.
Chỉ thương suông không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích
lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được. Nghĩa là phải kính
mến, nghe lời, giúp đỡ. Thầy giáo Tề bảo thế. Cũng vừa mới bảo lúc nãy thôi,
khi giảng nghĩa bài luân lý. Bởi vậy, cắp sách về đến nhà trông thấy bố, Tề
nhớ lại. Và Tề có ý nhìn xem bố làm gì. Làm gì? Bác Tư đang vắt cái bụng
lên thành bể, hai chân đeo lủng lẳng ở bên ngoài, phần trên người buông
thõng xuống ở bên trong. Không có lý bác gội đầu bằng cách ấy. Tề im im
đứng đợi... Bỗng hai cái chân tụt xuống, bác bếp Tư rút đầu ra. Và bác giật
mình đánh thót. Ấy là bác thoáng trông thấy có người đứng cạnh mà không
biết người ấy là Tề. Tề mỉm cười, khẽ hỏi:
- Bác làm gì vậy?
Bác Tư ấp úng một lát rồi mới nói ra lời được:
- À! Mày... mày đấy à!
Bác nhe những cái răng đen lờ lờ ra cười khì khì. Bởi thật thà thì trống
ngực bác ta còn đập. Bác mới hơi định thần.
Tề hối hận vì đã làm cha hoảng sợ. Nó nhìn cha, ái ngại. Cha nó bảo:
- Mẹ nó! Tao đánh rơi chai "sâm banh" vào trong này rồi!
- Thì thầy thử thò tay vào mà quờ xem.
- Có được chó người ta đấy! Đầu ngón tay mới chỉ hơi nhúng nước.
- Thế làm sao được?
- Vậy mới rầy rà chứ! Lát nữa không có rượu uống thì bỏ cha!
Tề nghĩ ngợi rồi nói nhỏ:
- Hay để con lội vào?
Bác Tư lại nhe răng ra, khì khì:
- Có được chó!
- Được.
- Nhưng ghét mày nó ra, bẩn nước thì có mà vất đi.
- Không! Thế này chứ lỵ!... Con lấy xà phòng tắm rồi rửa chân thật sạch,
rồi mới vào trong bể.
Thằng oắt này ranh thật. Nó có tài biến báo. Bác Tư nhìn con, ra dáng
phục. Nhưng bác vẫn chưa nhất định. Răng bác vẫn nhe ra để cười một cái
cười do dự. Đấy là một kẻ nhút nhát đang bị người ta xui làm liều. Nhưng Tề
thì đã quyết. Nó chạy tọt vào nhà để cất sách vở và cởi quần, cởi áo. Một lát
sau, nó trần truồng chạy ra.
- Con tắm nhé!
- Nhưng mà thôi, con ạ. Nhỡ bà ấy biết.
Bà ấy là bà chủ. Tề nhìn lên gác, hỏi:
- Bà ấy thức hay ngủ?
- Ngủ, nhưng ngộ bà ấy dậy?...
- Không sợ! Thầy lên đóng cái cửa ở đầu cầu thang lại. Đóng lần ngoài,
như vậy bà ấy có dậy cũng không xuống được. Hễ bà ấy gọi thì con ra, chạy
vào nhà, ta đóng cửa lại rồi thầy hãy lên mở cửa cho bà ấy.
Sau mấy phút do dự nữa, bác Tư đành nghe con vậy. Cái mẹo của nó được
đem ra thi hành.
Tề tắm rửa xong rồi, bác Tư cẩn thận giội cho con thật sạch. Rồi bác nhấc
nó lên, từ từ thả vào trong bể. Thằng bé thấy cái trò ngộ nghĩnh, cười hí hí.
Nó nghĩ trước đến cuộc bơi lặn trong cái hồ kín như hang này.
- Khéo nhé! Sâu lắm đấy!
- Được, con bơi giỏi lắm. Thầy cứ buông.
Tề rơi đánh thõm. Thì bỗng cửa nhà ngoài lịch kịch rồi có tiếng giày tây
cồm cộp đi vào.
- Chết rồi ông ấy về!
Bác Tư kêu lên, hoảng hồn. Bởi vì bác sơ ý, mới nghĩ đến việc ngăn bà
chủ mà quên ông chủ. Giờ này tan sở. Bác chưa kịp cài then cửa ngoài. Bác
giục Tề:
- Ra đi! Ra đi!
Nhưng sao kịp? Ông ấy đã tiến vào đến sân. Bác Tư đứng thẳng người
lên. Bác hóa ra tượng đá. Ông chủ nhận thấy, sinh ngờ vực. Ông nhìn vào
mắt bác. Bác thấy chân tay bủn rủn, hơi thở gần bị tắc. Gấp luôn đến tiếng bà
chủ ở trên gác gọi:
- Tư! Tư!
- Bà đầm!
- La porte! La porte (Cái cửa! Cái cửa!)
Và tay bà đập vào cái cửa kêu thình thịch. Bà vừa đập vừa nói một tràng
những tiếng gì choe chóe. Bác Tư không nghe kịp nhưng cũng hiểu thế là bà
gắt. Bác cuống quýt. Nhất là mắt ông chủ vẫn trừng trừng nhìn bác, nghiêm
khắc và chế nhạo. Ông hất hàm.
Bác Tư cúi đầu bối rối. Ông đoán ngay là bác đang làm một việc gì vụng
trộm. Ăn cắp đồ chẳng hạn. Ông nhìn chung quanh bác. Không có đồ gì cả.
Ông nhìn cái cửa buồng của bác. Cánh cửa buồng hé mở. Ông mỉm cười. Bởi
vì ông tưởng đã đoán được cái việc giấu giếm của người bếp hiền lành ấy.
Muốn cuộc gì ông cũng cuộc. Thế chết nào cũng có, một con gái trong cái
buồng nhỏ kia. Một con gái đang luống cuống với những áo quần vắt trên
thành giường. Cái này không phải là một tội. Khi vợ người ta chết đã ba năm
và mấy tháng!... Nhưng thấy bác bếp tỏ ra sợ hãi, ông muốn đùa một chút.
Ông nói to lên, bảo vợ:
- Đợi một tý! Tôi mở cho.
Bà vợ rú lên:
- Ồ! Vậy ra mình đấy ư?
- Ừ, tôi đây! Tôi lên giờ.
Và ông cố chắp nói mấy tiếng thật rõ rệt, cho người bếp hiểu:
- Moi oublier lunettes bureau. Lunette' (ông vừa nhắc lại tiếng ấy vừa lấy
ngón tay trỏ khoanh chung quanh mắt để vẽ hình cái kính) biếc?
- Uẩy xừ!
- Va chercher (đi tìm).
- Uẩy xừ.
Tuy mồm "uẩy" mà bác Tư vẫn không nhúc nhích. Ông chủ tưởng người
bếp của ông không hiểu. Ông lại nói, lại ra hiệu lại. Rồi lại nói:
- Biếc?
Thì có gì mà chả biết? Tiếng Tây, bác Tư đã thạo. Ông nói thế là muốn
bảo: Ông để quên cái kính ở sở và sai bác đi lấy về. Hiểu lắm, nhưng còn
thằng Tề trong cái bể?... Ông chủ giục:
- A lê! Maoo!
Mồm nói, tay ông nắm vai bác mà đẩy ra phía cửa.
- Uẩy xừ!
Bác đậy vội cái nắp bể lại để ông khỏi thấy, rồi chạy đi. Ông nhìn theo,
mỉm cười. Ông định cho bác chạy một tua bở hơi tai để ông có thì giờ chạy
vào buồng bác. Ông sẽ nắm cổ người con gái kéo ra. Ông sẽ đeo cái kính của
ông vào mắt y, rồi bắt y lên giường ngồi chồm chỗm như một pho tượng khỏa
thân bằng đá trắng. Để người bếp của ông lúc giở về trông thấy y mà cười.
Mà chịu rằng ông chủ của bác là ma lanh.
Nhưng ông cụt hứng ngay. Bởi vì buồng bác Tư trống rỗng. Không con
gái. Không dấu vết một cuộc ái ân vụng trộm. Ông văng tục một tiếng rồi
chạy lên với vợ.
*
Một lúc lâu sau, bác bếp về, nét mặt băn khoăn: bởi vì bác không tìm thấy
kính. Đó không phải là lỗi bác. Nhưng rất có thể rằng ông chủ gắt. Tính ông
nóng lắm. Chắc hẳn rằng ông sẽ quát ầm nhà lên... Bác rón rén lần cầu thang
lên gác. Ông chủ đang ngồi thụt hẳn người vào trong một cái ghế bành to,
đọc báo. Mắt ông có kính. Bác bếp ngạc nhiên rồi lại thêm lo sợ. Bây giờ thì
bác sợ bác đã hiểu nhầm lời ông chủ. Có lẽ luynét không phải là cái kính. Có
lẽ ông sai bác đi tìm cái khác. Thế mới bỏ đời bác chứ! Ai bảo bác hấp ta hấp
tấp? Không chịu hỏi cho biết rõ rồi hãy đi!
Bác rụt rè một lúc rồi mới đánh liều lên tiếng:
- Me xừ.
Ông ngẩng đầu lên, hất hàm. Bác đọc như cái máy:
- Loong toong điếc danabaluynét.
Loong toong bảo không có luynét! Ấy là một khóe ranh của bác. Bác cũng
nhanh trí khôn lắm đấy. Loong toong bảo không có luynét! Vậy thì luynét là
cái gì cũng được. Ông muốn gắt thì gắt với thằng loong toong! Nhưng luynét
chính là cái kính. Bởi vì ông chủ trở tay lên mắt hỏi:
- Xa? (Ca)
Và ông nhún vai, mỉm cười. Thoát nạn! Bác bếp Tư nhẹ lâng cả người.
Một tảng đá lớn tưởng đè trên người bác vừa trút đi. Bác chạy xuống cầu
thang, bước hai bậc một. Y như một hòn đá lăn trên sườn núi. Bác chạy thẳng
lại cái bể. Nhìn trước nhìn sau một thoáng rồi bác mở nắp ra, cúi đầu xuống.
Tối om om. Một mảng nước loang loáng như nước mực. Bác gọi con:
- Tề! Tề ơi!
Im lặng. Một nỗi nghi vụt đến. Tim bác nhảy lên một cái. Tiếng khàn
khàn, bác gọi:
- Tề ơi! Ra đây thầy kéo lên.
Chẳng có gì đáp lại. Những đốm sáng lăn tăn nhẩy nhót trong bóng tối.
Ấy là bác bếp Tư hoa mắt. Bởi vì đầu bác đã nặng trĩu, quay quay, choáng
váng. Người thì bủn rủn. Bác nhoai lưng vào trong bể, vừa mếu máo vừa rên
rỉ:
- Con ơi! Tề con ơi!...
Đầu ngón tay bác đụng phải một cái gì trơn nuồn nuột mà không còn động
đậy. Bác toan gào thật to. Nhưng có tiếng giày tây cồm cộp trên thang gác.
Ông chủ xuống! Bác Tư sực tỉnh. Bác rút vội đầu ra khỏi bể. Bác đậy luôn
nắp lại. Vừa kịp ông chủ không trông thấy. Bác cố thản nhiên đi vào bếp, lau
bát đĩa để sắp sửa lên bày bàn. Nhưng nghĩ đến bàn ăn, bác lại sinh lo lắng...
- Còn chai sâm banh!... Đào đâu ra một chai sâm banh bây giờ?
*
Đêm hôm ấy, đợi vợ chồng ông chủ tắt đèn đi ngủ một lúc lâu, bác Tư
mới rón rén ra sân. Bác mở cái nắp bể thật êm. Bác quờ tay vào bể, loay hoay
tìm cách vớt con ra.
Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi.
Ông chủ giật mình:
- Vì dịch tả phải không?
- Bẩm ông không.
- Thế vì bệnh gì?
- Bẩm... bẩm...
Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi:
- Đem chôn nó ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy cơrêdin rưới khắp nhà, hiểu
không?
- Bẩm hiểu.
- Được rồi. Đi đi!
Ông xua bác Tư ra, như xua đuổi một thằng hủi. Mũi ông chun lại. Ra
khỏi cửa, bác Tư nhẹ hẳn người. Bác lấy làm may. Nếu ông chủ xuống xem!
Nếu ông chủ biết rằng thằng bé đã ngâm mấy giờ trong bể nước!...
Tiên Phong (12-1945)
ĐÔI MẮT
Nam Cao
www.dtv-ebook.com
Dì Hảo
Dì Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ của dì chết đã lâu. Mẹ đẻ dì là bà xã
Vận, một người đàn bà bán bánh đúc xay, ngon có tiếng khắp làng Vũ Đại.
Tôi biết bà là vì hồi còn bé tôi rất ưa ăn bánh đúc. Có lẽ lúc sinh tôi ra, ông
trời đã định sẵn cho tôi một cái kiếp chẳng giàu sang, nên phú sẵn cho tôi cái
tính thích những món ăn rẻ tiền của những người nghèo túng. Lúc có tôi thì
nhà tôi chẳng còn nghèo. Thế mà tôi cứ thấy ăn cơm gạo đỏ, thổi khô khô,
với rau muống luộc chấm tương ngon hơn cơm tám với thịt đông; mà cái
bánh đúc xay nấu khéo còn đậm vị gấp nghìn lần cái bún tuy trắng, tuy mềm
nhưng nhạt bép. Mỗi sáng, tôi cầm hai xu mẹ phát cho, theo con ở đi ra hàng:
- hàng là một cái chợ nhỏ của làng tôi, họp ở ngay mặt đường, mỗi sáng chỉ
họp độ một giờ là tan - từ đằng xa, tôi đã thấy những người đàn bà váy bạc
phếch xúm xít quanh mẹt bánh đúc của bà xã Vận. Bà thái không kịp bán.
Tuy vậy mới trông thấy tôi bà đã ngừng dao, nhặt bốn tấm bánh gói gọn ghẽ
vào lá chuối, tươi cười đưa cho. Không phải bà thấy tôi ngộ nghĩnh đáng yêu.
Vì bà không thể quên rằng bà còn nợ bà tôi mấy chục bạc. Cháu ngoại của
một người chủ nợ kể cũng đáng cho người ta quý trọng. Tôi đưa hai xu, ôm
bốn tấm bánh về. Bà bán đúng một trinh một tấm, mua nhiều hay ít thì cũng
thế. Tấm bánh chẳng lấy gì làm to, so với bánh người khác có phần hơi đắt.
Nhưng mà ngon hơn. Cái bột xay rất nhuyễn, vôi bỏ vừa, mịn chắc đấy,
nhưng không nồng một tí nào, bẻ ra ăn với cá bống kho ráo nước cho đến
cong lên, dầm vào một tí tương cua thì thật tuyệt! Về sau, ngọn gió đời đưa
đẩy tôi trải qua rất nhiều cảnh huống: vất vả nhiều, nhưng cũng có lúc phong
lưu, có lúc tôi có thể thừa cách mà hưởng tất cả các cao lương mỹ vị, nhưng
chưa bao giờ tôi gặp một món ăn không thể làm tôi quên được cái vị thanh
đạm mà vẫn đậm đà của bánh đúc ăn với cá bống dầm tương, nghĩ đến bây
giờ mà tôi cũng còn muốn nuốt nước bọt.
Mà cứ nghĩ đến bánh đúc là phải nghĩ đến bà xã Vận. Chồng bà chết đi để
lại cho bà một trai một gái, con chị hơn thằng em ba, bốn tuổi. Như thế chị có
thể dắt em đi chơi để mẹ kiếm gạo. Nhưng một hôm bà xã bỗng nhận thấy
rằng thằng cu đã có thể đi chơi một mình; hơn nữa nó có thể tha thẩn ngoài
sân với con chó để coi nhà được. Con chị hóa ra thừa. Cũng phải cho nó đi
ăn, đi ở với người ta để kiếm manh quần tấm áo. Chả gì cũng bớt miệng ăn.
Phần cơm của nó, để em nó ăn thêm; như thế em nó được no thêm một tí nữa.
Bà đã để ý nghe ngóng xem nhà nào có cần nuôi đứa ở bế em chăng. Chưa có
ai buồn hỏi đến, thì một hôm bà lại nghĩ về người chồng đã chết. Khốn nạn!
Khi ông đã nằm xuống đấy thì bà chẳng còn một đồng nào. Bà chạy ngược
chạy xuôi van lạy hết người nọ đến người kia, mới vay được non chục bạc.
Non chục bạc thì chỉ nộp lệ làng, may cho con mỗi đứa một cái áo tang và
cho bà một cái mấn, rồi biện miếng trầu, bát nước cho làng xóm cũng đã
không đủ rồi. Thành thử bà chỉ dám mua cho ông cỗ áo quan có non ba đồng.
Rõ nghĩ mà thương! Nó vừa mỏng, vừa mọt, mộng trẽo trà trẽo trợt, giá chỉ
bóp mạnh cũng răng rắc được. Của ấy được mấy nỗi mà nát? Bấm đốt ngón
tay đã được sáu năm trời rồi. Cũng phải cố biện bát cơm, bát canh để thay
cho ông ấy cái áo mới, chứ để thế thì tội nghiệp. Nhưng làm sao bây giờ?
Bà dẫn Hảo đến cho bà ngoại tôi. Bà ngoại tôi, ngoan đạo như những
người vừa biết Chúa, thích nuôi trẻ ngoại đạo, rửa tội rồi nuôi làm con nuôi.
Đó cũng là một cách để con cái Đức Chúa lời ngày một thêm đông. Bà xã
bằng lòng cho con gái bà đi đạo.
Bà tôi còn nhân đức, giả đăn đắt để trừ nợ dăm sáu đồng. Thành ra bà xã
chỉ còn được lấy có bảy đồng bạc thôi. Nhưng hơn chục đồng còn nợ lại, từ
đấy bà cứ lần khân mãi, có gặp bà tôi, cũng chỉ van lạy khất, chứ không chịu
trả. Bà tôi có bực mình cũng chỉ mắng té tát mấy câu, chứ không chửi bới tàn
tệ hay bắt bớ. Ấy cũng bởi bà tôi là một người đi vay.
Những khi vui chuyện, người thường kể lại với chúng tôi rằng: ngày xưa,
khi ông thua bạc bỏ nhà đi, người còn phải trả hơn trăm đồng bạc nợ. Người
làm lụng vất vả, chiều hôm ban mai, một nắng hai sương, quanh năm chẳng
có phút nghỉ ngơi, mà không bao giờ đủ tiền nộp lãi. Vì thế, hơi bước ra khỏi
nhà là lủi trốn, giá có cái áo hơi lành hay nắm gạo ăn cũng sợ người ta bắt
mất. Có lần người đong được một hào gạo dúm vào vạt áo và mua cho mẹ tôi
- hồi ấy mới lên ba, một nắm xôi, đã cố lẩn lút, mà thế nào cũng bị một chủ
nợ tinh mắt trông thấy, con mẹ ấy có tiếng là khe khắt. Bà tôi sụp ngay xuống
lạy và khóc lóc xin khất nó. Nó chẳng rằng, chẳng nói, giằng lấy dúm gạo,
nắm xôi đổ vào trong nón rồi ngoắt đi. Cũng may, người phu quét chợ trông
thấy thế, nghĩ tức lây, bảo nó rằng:
- Bà có bắt thì bắt của người ta nắm gạo đã là cùng lắm. Còn xu xôi người
ta mua cho con người ta thì phải để cho con người ta chứ? Con người ta chịu
đói, khóc có bong bóng mũi ra, từ sáng đến giờ, mà bà bắt của người ta thì nó
chết. Bà cũng có con mà bà nỡ đang tâm thế à?
Con mẹ kia ngoa ngoắt, tớn môi lên:
- Ai khiến nhà bác chõ mồm vào đấy thế? Rõ khéo con tiều! Bác thương
nó thì mua cho nó.
Người phu quét chợ bực mình quăng ngay cho bà tôi hai hào:
- Đây này! Tôi cho nhà chị vay bao giờ kiếm được thì trả tôi; chúng nó
giàu mà coi đồng xu bằng cái mẹt!
Vì thế người ta đồn rằng người phu quét chợ phải lòng bà tôi. Nhưng bà
tôi quả quyết với chúng tôi rằng: từ hôm cho bà tôi vay tiền, có gặp bà tôi ông
ta chỉ lảng đi như không trông thấy nhưng chỉ mấy hôm bà tôi cũng cố tìm
tiền đem trả cho ông phân minh tử tế; hai người chẳng bao giờ nói với nhau
những lời có thể gọi là trai lơ. Về sau, khi bà tôi sạch nợ, và có chút tiền, mà
ông tôi vẫn biệt tăm, có nhiều đám muốn hỏi bà tôi làm vợ, toàn những đám
danh giá cả nhưng bà tôi từ chối hết. Bà tôi bảo: "Nếu tôi không nhất định thờ
chồng, làm lụng nuôi con, thì tôi lấy người phu quét chợ ngày xưa rồi".
Một người đã khổ sở vì tiền, tất phải quý đồng tiền. Nhưng không phải vì
thế mà bà tôi nỡ bắt những con nợ của người phải chịu những nỗi khốn nạn
mà trước kia người đã phải chịu. Đối với bà xã Vận, người tỏ ra dễ dàng.
Nhưng sự dễ dàng ấy, một phần nữa, cũng vì cô Hảo, được người nhận làm
con nuôi.
Mới đầu, dì Hảo khóc lóc đến mười hôm: dù có được ăn no, mặc lành đi
nữa, người ta cũng không thể phút chốc mà quên cái lều hôi hám là nơi mình
đã đói rách, khổ sở với em và mẹ. Nhưng rồi dì cũng khuây dần. Dì theo mẹ
tôi đi nhà thờ học kinh và "các lễ" cầu cho được rỗi linh hồn. Dì thấy đi đạo
cũng vui. Dần dần người ta dạy cho dì biết có một Đức Chúa lời dựng lên trời
đất, muôn vật và loài người ta, Đức Chúa lời có ba ngôi và ngôi thứ hai ra đời
lấy tên là Giêsu; Đức Chúa Giêsu chịu đóng đanh trên cây thánh giá để chuộc
tội cho thiên hạ... Ai tin những điều ấy thì được rỗi linh hồn, bằng ai chẳng
tin, thì phải xuống địa ngục đầy lửa sinh, lửa diêm, có tiếng khóc lóc và
nghiến răng. Tiếng khóc lóc và nghiến răng ken két, thì dì không sợ lắm. Hồi
còn ở nhà, em dì khóc nhè nhè suốt ngày; những hôm nó nóng đầu, thì đêm
ngủ nó nghiến răng ken két; quen đi thì cũng không sợ gì, nhưng dì sợ lửa
sinh, lửa diêm nó thiêu đốt người ta đời đời kiếp kiếp. Có là thánh cũng
không chịu nổi! Nghe nói đến địa ngục là dì lè lưỡi ra. Và dì tin. Dì trở nên
rất ngoan đạo nữa. Dì và tôi đọc kinh và hát vãn với nhau suốt ngày.
Dì bắt đầu muốn xa lánh hẳn cái lều tối tăm đầy những ma cùng quỷ; thực
tình, dì rất ít khi muốn về thăm mẹ ở nhà, và mỗi lần có phải về thăm mẹ, dì
thấy hơi rờn rợn khi đến gần cái bàn thờ lúc nào cũng âm u như che đậy bao
nhiêu là bí mật. Và đây mới thật là cái buồn não nuột: dì thấy ghê ghê ngay
mẹ dì. Bà xã Vận bỗng thành người đồng bóng; những ngày rằm, mồng một,
bà thường khăn chầu, áo ngự, đến điện nhà cô đồng ốc để hầu. Dì dùng
những lời rất khinh bỉ để nhạo báng bà, bà nhạo lại dì, mẹ con dần dần chẳng
muốn nhìn mặt nhau làm gì cho thêm bực.
Chao ôi! Nào có cứ gì phải là những người tư tưởng! Ngay ở những người
không tư tưởng cũng đã có sự chia rẽ tư tưởng rồi!
Bây giờ, dì Hảo chỉ biết có mẹ nuôi; dì rất mến mẹ tôi, và yêu tôi hơn tất
cả những người dì yêu cháu. Dì chỉ có một việc suốt ngày theo gót chân tôi.
Kể ra, tôi đã đủ lớn để không cần ai giữ nữa. Nhưng bà tôi chỉ được có mẹ
tôi, mẹ tôi lại mới được mình tôi; trong một nhà có của mà lại hiếm người
như thế, lẽ tất nhiên tôi cũng có quyền bé bỏng lâu hơn những con nhà khác.
Dì Hảo cũng tưởng tôi còn bé lắm. Dì tìm đủ mọi cách để nuông tôi, có lần dì
không ngại trèo sang vườn hàng xóm ăn cắp ổi để cho tôi vừa ý. Những lúc đi
đâu khí xa xa, vừa thấy tôi loạng choạng bước chân, dì đã đòi cõng tôi, "kẻo
chân cháu dì giẹo mất". Thật là buồn cười và thảm hại. Ngồi trên lưng dì, hai
chân tôi thò xuống có dễ dài hơn chân dì. Dì ngoẹo đầu đi, mặt đỏ bừng,
nước mũi chảy ra, lệch xệch vác tôi đi. Thế mà tôi có đòi đứng xuống dì cũng
nhất định không chịu đấy!
Sự tận tâm của dì cảm động lòng tôi. Mãi đến lúc tôi đã đi học, dì đã ngồi
trên khung cửi, chúng tôi còn quyến luyến nhau. Tôi học bài bên cạnh khung
cửi dì. Dì thúc giục tôi. Nghe những bài học lủng củng như "ếch kêu, chó
cắn", - tôi đã học sang vần trắc - dì khen tôi giỏi quá, khó như thế mà nhớ
được! Rồi tưởng những tiếng âm vô nghĩa ấy là những câu thần chú gọi cái
khôn của loài người, dì cố nhẩm theo, và lâu dần thuộc lòng tất cả các bài tôi
học; có lúc tôi ấp úng dì nhắc cho tôi đọc nữa; lại đến lượt tôi phục dì! Khi
bài tôi đã thuộc, tấm vải của dì được ra rồi dì giũ váy mấy cái cho lông vải
bay hết, rồi lại ôm tôi vào lòng mà vuốt hai cái trái đào của tôi. Những lúc ấy,
tôi thấy êm ái chẳng khác gì nằm trong lòng mẹ.
*
Dì Hảo ơi! Tôi hãy còn nhớ cái ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng. Đó là một
buổi chiều có sương bay. Người ta đã đến đón dì vào lúc tờ mờ tối. Cũng
chẳng lấy gì làm đông lắm, bên nhà trai đâu có lẻ tẻ mươi người. Về đằng
nhà gái, bà tôi chỉ có dăm ba người chị em đi đưa dì, chính tôi cũng chẳng
được đi. Mẹ tôi bảo: "Không có cỗ đâu: nhà người ta có trở, chỉ biện cơi trầu,
bát nước". Nhưng nào tôi có đòi đi để được ăn cỗ! Tôi chỉ theo dì Hảo của
tôi: từ trước đến nay, có bao giờ dì đi đâu mà để tôi ở nhà? Người ta giữ tôi
lại. Tôi tức, khóc òa lên, tôi tức bà tôi, tôi tức thầy mẹ tôi, tôi tức cả dì Hảo
nữa! Tôi tự hỏi sao dì cứ phải đi lấy chồng? Và ngay bây giờ nữa, dì Hảo hỡi!
Có lúc tôi vẫn ân hận vì dì đã đi lấy chồng. Nếu dì cứ ở nhà, nếu dì cứ là một
người dì của tôi mãi mãi, thì có lẽ khỏi khổ, ít ra, dì cũng đỡ khổ hơn bây giờ.
Nhưng mà sự ấy đã không thể đừng được. Dì Hảo đã đi lấy chồng, mang
theo cho người ấy tất cả lòng yêu vẫn để cho tôi. Và người ấy đã nhận tấm
lòng yêu ấy, nhận lấy mà chẳng làm gì cho đáng nhận.
Người ấy không yêu dì. Thật mà! Người ấy chẳng yêu dì Hảo đâu. Mà lại
còn khinh dì là khác nữa. Hắn khinh dì là đứa con nuôi, còn hắn là con dòng
cháu giống, tuy rằng nghèo xác. Và tuy rằng nghèo xác, hắn nhất định không
làm gì. Hắn lấy vợ để cho vợ nó nuôi. Dì Hảo cũng nghĩ đúng như thế ấy: dì
làm mà nuôi hắn. Người vợ đảm đang ấy kiếm mỗi ngày được hai hào, dì ăn
có năm xu. Còn một hào thì hắn dùng mà uống rượu. Và dì Hảo sung sướng
lắm. Và gia đình vui vẻ lắm. Nhưng sự tai ác của ông trời bắt dì đẻ một đứa
con. Đứa con chết, mà dì thì tê liệt. Mỗi ngày ngồi là một ngày không có hai
hào. Người chồng muốn đó là cái lỗi của người vợ vô phúc ấy.
Nhưng mới đầu hắn chỉ nghĩ thế thôi. Là vì nhờ ít tiền dành dụm, người ta
vẫn có thể đủ cả cơm lẫn rượu. Nhưng rồi rượu phải bớt đi. Đến cả cơm cũng
thế. Đến lúc ấy thì hắn không nhịn được nữa. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi
những nhà giàu. Hắn chửi số kiếp hắn. Và sau cùng thì chửi vợ. Ồ! Hắn chửi
nhiều lắm lắm, một bữa đói rượu, rồi tình cờ có một bữa rượu say.
Dì Hảo chẳng nói năng gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng
mà dì cứ khóc. Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc
như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì
nhiều đến thế. Vì dì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ nhà
mà đi, bỏ dì bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con
người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là
đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có
trách chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì đã không trách bà tôi đã làm
ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã
già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc mới hăm hai. Cái cơ
nghiệp của người gây dựng thầy tôi buôn bán thua lỗ, chúng tôi học hành tổn
phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương. Người chỉ có thể đem đến cho
dì Hảo ốm đau mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời
than thở.
*
Nhưng rồi bệnh dì cũng qua đi. Nó qua như một thằng quái ác chán không
muốn hành hạ một kẻ kiên nhẫn quá. Dì Hảo lại đi làm, lại có tiền, lại muốn
có chồng để mỗi ngày ăn năm xu và hắn dùng một hào còn lại đi uống rượu.
Thì quả nhiên hắn về. Hắn về với một cái quần đen, một cái áo tây vàng, túi
xóc xách tiền và một người vợ theo trơ tráo. Thoạt đầu thì người vợ chính
ngạc nhiên. Rồi thì tức tối. Sau cùng thì dì nhẫn nại; phải, nhẫn nại là hơn;
nếu hắn không về thì cũng thế.
Nhưng mà hắn đã về, hắn lại làm chủ cái lều và ba sào vườn ông cha để
lại. Và làm chủ cái lều và ba sào vườn của ông cha để lại, hắn tưởng có quyền
chẳng làm gì mà chỉ uống rượu ăn cơm. Và uống, ăn rồi, nó cười sặc sụa.
Cái con vợ bé ấy trơ tráo lạ! Nó chẳng biết làm gì cả. Nó hát những câu
tục tằn. Nó uống rượu tựa đàn ông, hút thuốc tựa đàn ông, búi tóc ngược, mặc
quần áo trắng tựa đàn ông. Nó sẽ lôi chồng dì vào đáy sâu địa ngục thôi!
Cheo leo thay cho cái linh hồn của chồng dì!
Thế mà chồng dì say mê nó lắm. Chồng dì gọi nó là "mợ mình", và mua
cho những hộp sữa bò sáu hào bảy khi nó ốm hay làm ra vẻ ốm.
Còn dì, dì biết phận dì. Dì cố nhắm mắt để khỏi trông thấy chúng. Dì
chẳng hé răng nói nửa lời, nhưng dì khóc ngấm ngầm khi chúng cười vui, dì
nhịn quắt ruột khi chúng ăn phung phí. Dì héo hắt đi, dì còm cõi, đúng như
một con mèo đói. Nhưng nếu dì còn được như thế mãi!
Một buổi sáng, chừng như chúng nó đã cạn tiền và cạn cả lòng yêu. Dì
đoán thế vì luôn hai, ba hôm, dì không thấy chúng uống rượu và cười sặc sụa.
Con vợ bé vừa nhổ bọt vừa nói cằn nhằn. Anh đàn ông hõm má vào và lõ mũi
ra. Hắn vừa khoằm khoặm mắt vừa văng tục. Con kia mặt sưng lên, cứ nói
một câu lại choai người lên một cái và vỗ đùi đồm độp. Chúng nó nhẩy xổ
vào nhau. Rồi đấm đá, cắn cấu lẫn với những tiếng gào thét ầm ĩ quá. Chẳng
biết làm thế sao, để mặc chúng, dì bỏ đi làm. Cũng như dì đã mặc những phút
mặn nồng của chúng.
Chiều hôm ấy, nhà có vẻ đám ma. Dì không thấy con vợ bé đâu. Cả chồng
dì cũng thế. Nhà cửa, đồ đạc thì bừa bộn. Mấy cái nồi đất và đôi lọ xách nước
tan ra từng mảnh. Lấy tiền đâu mà sắm sửa lại bây giờ. Trời ơi! Nhưng kìa
hắn đã về. Hắn về có một mình, một chai rượu trong tay và những tia giận
bừng bừng trong mắt. Hắn uống, rồi lại uống, uống lẳng lặng như chưa bao
giờ hắn uống. Hắn uống cả chai. Rồi hắn đập chai ra, và chửi. Hắn chửi bâng
quơ. Hắn chửi số kiếp hắn. Hắn chửi đàn bà. Hắn chửi con vợ bé. Dì Hảo cắn
chặt răng để cho khỏi khóc. Nhưng cứ khóc. Hôm sau hắn ra đi không biết đi
đâu. Dì Hảo ngạc nhiên. Rồi tức tối. Sau cùng thì dì nhẫn nại. Phải, nhẫn nại
là hơn: nếu hắn cứ ở nhà thì cũng thế.
Tháng 9-1941
In trong tập Nửa đêm
ĐÔI MẮT
Nam Cao
www.dtv-ebook.com
Đôi Mắt
Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi:
- Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây.
- Cám ơn anh nhé. Lát nữa tôi sẽ sang nhà anh chơi.
Tôi vỗ vai anh bảo vậy. Tôi toan vào. Anh vội ngăntôi lại:
- Khoan đã. Anh để em gọi cho anh trong nhà xích con chó lại. Con chó to
và dữ lắm.
Tôi mở to đôi mắt, khẽ reo lên một tiếng thú vị. Tôi nhớ đến những lần
đến chơi nhà anh Hoàng ở Hà Nội. Bấm chuông xong, bao giờ tôi cũng phải
chờ anh Hoàng thân hành ra nắm chặt cái vòng da ở cổ một con chó tây to
bằng con bê, dúi đầu nó vào gầm cái cầu thang rồi tôi mới có đủ can đảm
bước vội qua đằng sau cái đuôi nó để vào phòng khách.
Tôi rất sợ con chó giống Đức hung hăng ấy. Sợ đến nỗi một lần đến chơi,
không thấy anh Hoàng ra đứng tấn để giữ nó mà lại buồn rầu báo cho tôi biết
nó chết rồi, thì mặc dầu có làm ra mặt tiếc với anh, thật tình tôi thấy nhẹ cả
người.
Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000,
con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình. Không phải
chết vì chủ nó không tìm nổi mỗi ngày vài lạng thịt bò để nó ăn. Anh Hoàng
là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng là một tay chợ đen rất tài tình. Khi
chúng tôi đến nỗi chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết
bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu. Con chó của anh chưa phải nhịn bữa
nào. Những xác người chết đói ngập đường phố. Nó chết có lẽ vì chén phải
thịt người ươn hay là vì hút phải nhiều xú khí. Thảm hại thay cho nó!
Thế mà bây giờ đến thăm anh Hoàng ở chỗ gia đình anh tản cư về, cách
Hà Nội hàng trăm cây số, tôi lại được nghe đến một con chó dữ. Thật là thú
vị!...
Tôi cười nho nhỏ. Chẳng biết tôi cười gì, anh thanh niên cũng nhe những
chiếc răng vẩu ra cười. Đáp lại tiếng anh gọi, tiếng những chiếc guốc mỏng
mảnh quét trên sân gạch nổi lên, lẹc khẹc và mau mắn. Một thằng bé mũ nồi
đen, áo len xám chạy ra. Một đôi mắt đen lay láy nhìn tôi...
- Bác Độ, ba ơi! Bác Độ!...
Thằng Ngữ, con anh Hoàng. Nó chẳng kịp chào tôi, ngoắt chạy trở vào,
reo rối rít.
- Cái gì? Cái gì? Hừm!
Tiềng trầm trầm nhưng lại có vẻ nạt nộ của anh Hoàng hỏi nó (Bao giờ
nói với con, anh Hoàng cũng có cái giọng dậm dọa buồn cười ấy). Thằng bé
líu ríu những gì tôi nghe không rõ. Rồi thấy tiếng thanh thanh của chị Hoàng
giục con:
- Ngữ xích con chó lại. Xích con chó lại cái cột títđằng kia.
Anh Hoàng đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả bởi vì người khí
to béo quá, vừa bước vừa bơi cánh tay kềnh kệnh ra hai bên, những khối thịt
ở bên dưới nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá. Cái dáng điệu nặng
nề ấy, hồi còn ở Hà Nội anh mặc quần áo tây cả bộ, trông chỉ thấy là chững
chạc và hơi bệ vệ. Bây giờ nó lộ ra khá rõ ràng, trong bộ áo ngủ màu xanh
nhạt, phủ một cái áo len trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được.
Anh đứng lại bên trong cổng, một bàn tay múp míp hơi chìa về phía tôi,
đầu hơi ngửa về đằng sau, miệng hé mở, bộ điệu một người ngạc nhiên hay
mừng rỡ quá. Tôi có thì giờ nhận rõ một sự thay đổi trên bộ mặt đầy đặn của
anh: trên mép một cái vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ.
Sững người ra một lúc rồi anh mới lâm li kêu lên những tiếng ở trong cổ
họng:
- Ối giời ơi! Anh! Quý hóa quá!
Anh quay lại:
- Mình ơi! Anh Độ thật. Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng
mình.
Chị Hoàng lúc bấy giờ đã chạy ra, tay còn đang cài nốt khuy chiếc áo dài
màu gạch vừa mới mặc vội vào để ra đón khách. Người đàn bà vồn vã:
- Mong bác mãi. Lúc thằng cháu mới chạy vào, nhà tôi cứ tưởng nó trông
nhầm. Cứ tưởng bác ở cách hàng mười lăm hai mươi cây số...
Bắt tay tôi xong, anh Hoàng dịu dàng đẩy tôi đi trước. Chị vợ đã nhanh
nhẹn chạy trước vào nhà, dọn bàn dọn ghế. Sao lại có một sự săn đón cảm
động như thế được? Tôi đâm ngờ những ý nghĩ không tốt của tôi về anh, từ
hồi Tổng khởi nghĩa trở đi.
Sau Tổng khởi nghĩa, anh Hoàng đối với tôi đột nhiên nhạt hẳn đi. Mấy
lần tôi đến chơi với anh, định để xem anh thay đổi thế nào trong cuộc thay
đổi lớn của dân tộc chúng ta, nhưng đều không được gặp anh. Cửa nhà anh
đóng luôn luôn: thằng nhỏ nhà anh đứng bên trong cửa nhìn qua một lỗ con,
bao giờ cũng hỏi cặn kẽ tên tôi, để một lúc sau ra báo tôi rằng ông nó không
có nhà. Mấy lần đều như vậy cả nên tôi đã sinh nghi. Lần cuối cùng trước khi
bấm chuông tôi còn nghe thấy tiếng vợ chồng anh. Nhưng thằng nhỏ vẫn quả
quyết rằng ông bà nó về trại những từ tối hôm trước kia rồi. Đã đích xác là
anh không muốn tiếp tôi. Chẳng hiểu vì sao. Nhưng từ đấy tôi không đến
nữa. Mỗi lần gặp nhau ở ngoài đường chúng tôi chỉ bắt tay nhau một cách rất
lạnh lùng, hỏi thăm nhau một câu chiếu lệ rồi ai đi đường nấy. Tôi đã biết
Hoàng vẫn có tính tự nhiên "đá" bạn một cách đột ngột, vì những cớ mà chỉ
mình anh biết. Có khi chỉ là vì một tác phẩm của người bạn ấy được cảm tình
của ...
Mò Sâm Banh
Dì Hảo
Đôi Mắt
Trẻ Con Không Được Ăn Thịt Chó
Xem Bói
Nhật Ký Ở Rừng
Ma Đưa
Giăng Sáng
Đời Thừa
Chí Phèo
Con Mèo
Tư Cách Mõ
Một Bữa No
Đợi Chờ
Trần Cừ
ĐÔI MẮT
Nam Cao
www.dtv-ebook.com
Mò Sâm Banh
Chủ bếp Tư rất thận trọng về vấn đề giữ vệ sinh. Ông thường nói rằng:
Khí hậu ở đây chẳng được lành; những người chưa quen với thủy thổ miền
nhiệt đới, đến đây mà chẳng biết giữ thân, khó khỏi chết vì những bệnh
thương hàn hay kiết lỵ. Những bệnh nguy hiểm ấy truyền nhiễm phần nhiều
do nước bẩn. Bởi vậy nước ăn của ông phải coi giữ thế nào cho thật sạch. Cái
bể nước của ông, ông coi quý gần bằng vợ ông. Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông
nữa. Bởi vì vợ ông, ông có thể để người khác bắt tay, chứ bể nước mà đứa
nào dám nhúng tay bẩn hay cái "xô" bẩn vào thì cứ liệu cái thần hồn với ông.
Ở nhà chủ, bếp Tư thích nhất cái bể nước ăn này. Nó to bằng cả một gian
nhà rộng, nước mưa ở trên các mái nhà theo hai cái ống máng mà trút xuống.
Mặt bể bưng kín mít, trừ một máng vuông, mỗi bề chừng một thước, có nắp
khít như nắp cống. Những ngày nghỉ, vợ chồng ông chủ về Hà Nội, thằng Tề
con bác bếp vẫn đậy nắp bể cho thật kín rồi trèo lên mặt bể, co một chân lên
bắt chước Lã Bố đi bài tẩu mã hoặc nhảy huỳnh huỵch để bắt chước Võ Tòng
sát tẩu. Cái mặt bể toàn xi măng cốt sắt, bốn mươi thằng Tề nhảy cũng không
việc gì.
Tề là con một bác Tư. Mẹ nó chết mới xong tang. Bố nó tính hiền lành
nên rất yêu con. Chẳng như những bồi bếp khác, nay vợ này, mai vợ khác,
hoặc nhân tình nhân ngãi với bọn cô đầu, nhà thổ. Vợ chết quá ba năm rồi mà
nghĩ đến lúc nào bác ta vẫn còn thương. Có khi đang ngồi bác tự nhiên khóc
hu hu. Hỏi bác thì bác bảo: Cũng ngày này năm nọ, bác xin được phép chủ về
quê đón vợ con ra ở luôn đây với bác, thế mà bây giờ vợ bác đã nỡ bỏ bác mà
đi cho đành! Chẳng ngày rằm, mùng một nào bác không thắp hương cúng vợ.
Cúng xong, bác rơm rớm nước mắt, thở dài thở ngắn. Tề thấy thế thương cha
vô cùng.
Chỉ thương suông không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích
lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được. Nghĩa là phải kính
mến, nghe lời, giúp đỡ. Thầy giáo Tề bảo thế. Cũng vừa mới bảo lúc nãy thôi,
khi giảng nghĩa bài luân lý. Bởi vậy, cắp sách về đến nhà trông thấy bố, Tề
nhớ lại. Và Tề có ý nhìn xem bố làm gì. Làm gì? Bác Tư đang vắt cái bụng
lên thành bể, hai chân đeo lủng lẳng ở bên ngoài, phần trên người buông
thõng xuống ở bên trong. Không có lý bác gội đầu bằng cách ấy. Tề im im
đứng đợi... Bỗng hai cái chân tụt xuống, bác bếp Tư rút đầu ra. Và bác giật
mình đánh thót. Ấy là bác thoáng trông thấy có người đứng cạnh mà không
biết người ấy là Tề. Tề mỉm cười, khẽ hỏi:
- Bác làm gì vậy?
Bác Tư ấp úng một lát rồi mới nói ra lời được:
- À! Mày... mày đấy à!
Bác nhe những cái răng đen lờ lờ ra cười khì khì. Bởi thật thà thì trống
ngực bác ta còn đập. Bác mới hơi định thần.
Tề hối hận vì đã làm cha hoảng sợ. Nó nhìn cha, ái ngại. Cha nó bảo:
- Mẹ nó! Tao đánh rơi chai "sâm banh" vào trong này rồi!
- Thì thầy thử thò tay vào mà quờ xem.
- Có được chó người ta đấy! Đầu ngón tay mới chỉ hơi nhúng nước.
- Thế làm sao được?
- Vậy mới rầy rà chứ! Lát nữa không có rượu uống thì bỏ cha!
Tề nghĩ ngợi rồi nói nhỏ:
- Hay để con lội vào?
Bác Tư lại nhe răng ra, khì khì:
- Có được chó!
- Được.
- Nhưng ghét mày nó ra, bẩn nước thì có mà vất đi.
- Không! Thế này chứ lỵ!... Con lấy xà phòng tắm rồi rửa chân thật sạch,
rồi mới vào trong bể.
Thằng oắt này ranh thật. Nó có tài biến báo. Bác Tư nhìn con, ra dáng
phục. Nhưng bác vẫn chưa nhất định. Răng bác vẫn nhe ra để cười một cái
cười do dự. Đấy là một kẻ nhút nhát đang bị người ta xui làm liều. Nhưng Tề
thì đã quyết. Nó chạy tọt vào nhà để cất sách vở và cởi quần, cởi áo. Một lát
sau, nó trần truồng chạy ra.
- Con tắm nhé!
- Nhưng mà thôi, con ạ. Nhỡ bà ấy biết.
Bà ấy là bà chủ. Tề nhìn lên gác, hỏi:
- Bà ấy thức hay ngủ?
- Ngủ, nhưng ngộ bà ấy dậy?...
- Không sợ! Thầy lên đóng cái cửa ở đầu cầu thang lại. Đóng lần ngoài,
như vậy bà ấy có dậy cũng không xuống được. Hễ bà ấy gọi thì con ra, chạy
vào nhà, ta đóng cửa lại rồi thầy hãy lên mở cửa cho bà ấy.
Sau mấy phút do dự nữa, bác Tư đành nghe con vậy. Cái mẹo của nó được
đem ra thi hành.
Tề tắm rửa xong rồi, bác Tư cẩn thận giội cho con thật sạch. Rồi bác nhấc
nó lên, từ từ thả vào trong bể. Thằng bé thấy cái trò ngộ nghĩnh, cười hí hí.
Nó nghĩ trước đến cuộc bơi lặn trong cái hồ kín như hang này.
- Khéo nhé! Sâu lắm đấy!
- Được, con bơi giỏi lắm. Thầy cứ buông.
Tề rơi đánh thõm. Thì bỗng cửa nhà ngoài lịch kịch rồi có tiếng giày tây
cồm cộp đi vào.
- Chết rồi ông ấy về!
Bác Tư kêu lên, hoảng hồn. Bởi vì bác sơ ý, mới nghĩ đến việc ngăn bà
chủ mà quên ông chủ. Giờ này tan sở. Bác chưa kịp cài then cửa ngoài. Bác
giục Tề:
- Ra đi! Ra đi!
Nhưng sao kịp? Ông ấy đã tiến vào đến sân. Bác Tư đứng thẳng người
lên. Bác hóa ra tượng đá. Ông chủ nhận thấy, sinh ngờ vực. Ông nhìn vào
mắt bác. Bác thấy chân tay bủn rủn, hơi thở gần bị tắc. Gấp luôn đến tiếng bà
chủ ở trên gác gọi:
- Tư! Tư!
- Bà đầm!
- La porte! La porte (Cái cửa! Cái cửa!)
Và tay bà đập vào cái cửa kêu thình thịch. Bà vừa đập vừa nói một tràng
những tiếng gì choe chóe. Bác Tư không nghe kịp nhưng cũng hiểu thế là bà
gắt. Bác cuống quýt. Nhất là mắt ông chủ vẫn trừng trừng nhìn bác, nghiêm
khắc và chế nhạo. Ông hất hàm.
Bác Tư cúi đầu bối rối. Ông đoán ngay là bác đang làm một việc gì vụng
trộm. Ăn cắp đồ chẳng hạn. Ông nhìn chung quanh bác. Không có đồ gì cả.
Ông nhìn cái cửa buồng của bác. Cánh cửa buồng hé mở. Ông mỉm cười. Bởi
vì ông tưởng đã đoán được cái việc giấu giếm của người bếp hiền lành ấy.
Muốn cuộc gì ông cũng cuộc. Thế chết nào cũng có, một con gái trong cái
buồng nhỏ kia. Một con gái đang luống cuống với những áo quần vắt trên
thành giường. Cái này không phải là một tội. Khi vợ người ta chết đã ba năm
và mấy tháng!... Nhưng thấy bác bếp tỏ ra sợ hãi, ông muốn đùa một chút.
Ông nói to lên, bảo vợ:
- Đợi một tý! Tôi mở cho.
Bà vợ rú lên:
- Ồ! Vậy ra mình đấy ư?
- Ừ, tôi đây! Tôi lên giờ.
Và ông cố chắp nói mấy tiếng thật rõ rệt, cho người bếp hiểu:
- Moi oublier lunettes bureau. Lunette' (ông vừa nhắc lại tiếng ấy vừa lấy
ngón tay trỏ khoanh chung quanh mắt để vẽ hình cái kính) biếc?
- Uẩy xừ!
- Va chercher (đi tìm).
- Uẩy xừ.
Tuy mồm "uẩy" mà bác Tư vẫn không nhúc nhích. Ông chủ tưởng người
bếp của ông không hiểu. Ông lại nói, lại ra hiệu lại. Rồi lại nói:
- Biếc?
Thì có gì mà chả biết? Tiếng Tây, bác Tư đã thạo. Ông nói thế là muốn
bảo: Ông để quên cái kính ở sở và sai bác đi lấy về. Hiểu lắm, nhưng còn
thằng Tề trong cái bể?... Ông chủ giục:
- A lê! Maoo!
Mồm nói, tay ông nắm vai bác mà đẩy ra phía cửa.
- Uẩy xừ!
Bác đậy vội cái nắp bể lại để ông khỏi thấy, rồi chạy đi. Ông nhìn theo,
mỉm cười. Ông định cho bác chạy một tua bở hơi tai để ông có thì giờ chạy
vào buồng bác. Ông sẽ nắm cổ người con gái kéo ra. Ông sẽ đeo cái kính của
ông vào mắt y, rồi bắt y lên giường ngồi chồm chỗm như một pho tượng khỏa
thân bằng đá trắng. Để người bếp của ông lúc giở về trông thấy y mà cười.
Mà chịu rằng ông chủ của bác là ma lanh.
Nhưng ông cụt hứng ngay. Bởi vì buồng bác Tư trống rỗng. Không con
gái. Không dấu vết một cuộc ái ân vụng trộm. Ông văng tục một tiếng rồi
chạy lên với vợ.
*
Một lúc lâu sau, bác bếp về, nét mặt băn khoăn: bởi vì bác không tìm thấy
kính. Đó không phải là lỗi bác. Nhưng rất có thể rằng ông chủ gắt. Tính ông
nóng lắm. Chắc hẳn rằng ông sẽ quát ầm nhà lên... Bác rón rén lần cầu thang
lên gác. Ông chủ đang ngồi thụt hẳn người vào trong một cái ghế bành to,
đọc báo. Mắt ông có kính. Bác bếp ngạc nhiên rồi lại thêm lo sợ. Bây giờ thì
bác sợ bác đã hiểu nhầm lời ông chủ. Có lẽ luynét không phải là cái kính. Có
lẽ ông sai bác đi tìm cái khác. Thế mới bỏ đời bác chứ! Ai bảo bác hấp ta hấp
tấp? Không chịu hỏi cho biết rõ rồi hãy đi!
Bác rụt rè một lúc rồi mới đánh liều lên tiếng:
- Me xừ.
Ông ngẩng đầu lên, hất hàm. Bác đọc như cái máy:
- Loong toong điếc danabaluynét.
Loong toong bảo không có luynét! Ấy là một khóe ranh của bác. Bác cũng
nhanh trí khôn lắm đấy. Loong toong bảo không có luynét! Vậy thì luynét là
cái gì cũng được. Ông muốn gắt thì gắt với thằng loong toong! Nhưng luynét
chính là cái kính. Bởi vì ông chủ trở tay lên mắt hỏi:
- Xa? (Ca)
Và ông nhún vai, mỉm cười. Thoát nạn! Bác bếp Tư nhẹ lâng cả người.
Một tảng đá lớn tưởng đè trên người bác vừa trút đi. Bác chạy xuống cầu
thang, bước hai bậc một. Y như một hòn đá lăn trên sườn núi. Bác chạy thẳng
lại cái bể. Nhìn trước nhìn sau một thoáng rồi bác mở nắp ra, cúi đầu xuống.
Tối om om. Một mảng nước loang loáng như nước mực. Bác gọi con:
- Tề! Tề ơi!
Im lặng. Một nỗi nghi vụt đến. Tim bác nhảy lên một cái. Tiếng khàn
khàn, bác gọi:
- Tề ơi! Ra đây thầy kéo lên.
Chẳng có gì đáp lại. Những đốm sáng lăn tăn nhẩy nhót trong bóng tối.
Ấy là bác bếp Tư hoa mắt. Bởi vì đầu bác đã nặng trĩu, quay quay, choáng
váng. Người thì bủn rủn. Bác nhoai lưng vào trong bể, vừa mếu máo vừa rên
rỉ:
- Con ơi! Tề con ơi!...
Đầu ngón tay bác đụng phải một cái gì trơn nuồn nuột mà không còn động
đậy. Bác toan gào thật to. Nhưng có tiếng giày tây cồm cộp trên thang gác.
Ông chủ xuống! Bác Tư sực tỉnh. Bác rút vội đầu ra khỏi bể. Bác đậy luôn
nắp lại. Vừa kịp ông chủ không trông thấy. Bác cố thản nhiên đi vào bếp, lau
bát đĩa để sắp sửa lên bày bàn. Nhưng nghĩ đến bàn ăn, bác lại sinh lo lắng...
- Còn chai sâm banh!... Đào đâu ra một chai sâm banh bây giờ?
*
Đêm hôm ấy, đợi vợ chồng ông chủ tắt đèn đi ngủ một lúc lâu, bác Tư
mới rón rén ra sân. Bác mở cái nắp bể thật êm. Bác quờ tay vào bể, loay hoay
tìm cách vớt con ra.
Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi.
Ông chủ giật mình:
- Vì dịch tả phải không?
- Bẩm ông không.
- Thế vì bệnh gì?
- Bẩm... bẩm...
Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi:
- Đem chôn nó ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy cơrêdin rưới khắp nhà, hiểu
không?
- Bẩm hiểu.
- Được rồi. Đi đi!
Ông xua bác Tư ra, như xua đuổi một thằng hủi. Mũi ông chun lại. Ra
khỏi cửa, bác Tư nhẹ hẳn người. Bác lấy làm may. Nếu ông chủ xuống xem!
Nếu ông chủ biết rằng thằng bé đã ngâm mấy giờ trong bể nước!...
Tiên Phong (12-1945)
ĐÔI MẮT
Nam Cao
www.dtv-ebook.com
Dì Hảo
Dì Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ của dì chết đã lâu. Mẹ đẻ dì là bà xã
Vận, một người đàn bà bán bánh đúc xay, ngon có tiếng khắp làng Vũ Đại.
Tôi biết bà là vì hồi còn bé tôi rất ưa ăn bánh đúc. Có lẽ lúc sinh tôi ra, ông
trời đã định sẵn cho tôi một cái kiếp chẳng giàu sang, nên phú sẵn cho tôi cái
tính thích những món ăn rẻ tiền của những người nghèo túng. Lúc có tôi thì
nhà tôi chẳng còn nghèo. Thế mà tôi cứ thấy ăn cơm gạo đỏ, thổi khô khô,
với rau muống luộc chấm tương ngon hơn cơm tám với thịt đông; mà cái
bánh đúc xay nấu khéo còn đậm vị gấp nghìn lần cái bún tuy trắng, tuy mềm
nhưng nhạt bép. Mỗi sáng, tôi cầm hai xu mẹ phát cho, theo con ở đi ra hàng:
- hàng là một cái chợ nhỏ của làng tôi, họp ở ngay mặt đường, mỗi sáng chỉ
họp độ một giờ là tan - từ đằng xa, tôi đã thấy những người đàn bà váy bạc
phếch xúm xít quanh mẹt bánh đúc của bà xã Vận. Bà thái không kịp bán.
Tuy vậy mới trông thấy tôi bà đã ngừng dao, nhặt bốn tấm bánh gói gọn ghẽ
vào lá chuối, tươi cười đưa cho. Không phải bà thấy tôi ngộ nghĩnh đáng yêu.
Vì bà không thể quên rằng bà còn nợ bà tôi mấy chục bạc. Cháu ngoại của
một người chủ nợ kể cũng đáng cho người ta quý trọng. Tôi đưa hai xu, ôm
bốn tấm bánh về. Bà bán đúng một trinh một tấm, mua nhiều hay ít thì cũng
thế. Tấm bánh chẳng lấy gì làm to, so với bánh người khác có phần hơi đắt.
Nhưng mà ngon hơn. Cái bột xay rất nhuyễn, vôi bỏ vừa, mịn chắc đấy,
nhưng không nồng một tí nào, bẻ ra ăn với cá bống kho ráo nước cho đến
cong lên, dầm vào một tí tương cua thì thật tuyệt! Về sau, ngọn gió đời đưa
đẩy tôi trải qua rất nhiều cảnh huống: vất vả nhiều, nhưng cũng có lúc phong
lưu, có lúc tôi có thể thừa cách mà hưởng tất cả các cao lương mỹ vị, nhưng
chưa bao giờ tôi gặp một món ăn không thể làm tôi quên được cái vị thanh
đạm mà vẫn đậm đà của bánh đúc ăn với cá bống dầm tương, nghĩ đến bây
giờ mà tôi cũng còn muốn nuốt nước bọt.
Mà cứ nghĩ đến bánh đúc là phải nghĩ đến bà xã Vận. Chồng bà chết đi để
lại cho bà một trai một gái, con chị hơn thằng em ba, bốn tuổi. Như thế chị có
thể dắt em đi chơi để mẹ kiếm gạo. Nhưng một hôm bà xã bỗng nhận thấy
rằng thằng cu đã có thể đi chơi một mình; hơn nữa nó có thể tha thẩn ngoài
sân với con chó để coi nhà được. Con chị hóa ra thừa. Cũng phải cho nó đi
ăn, đi ở với người ta để kiếm manh quần tấm áo. Chả gì cũng bớt miệng ăn.
Phần cơm của nó, để em nó ăn thêm; như thế em nó được no thêm một tí nữa.
Bà đã để ý nghe ngóng xem nhà nào có cần nuôi đứa ở bế em chăng. Chưa có
ai buồn hỏi đến, thì một hôm bà lại nghĩ về người chồng đã chết. Khốn nạn!
Khi ông đã nằm xuống đấy thì bà chẳng còn một đồng nào. Bà chạy ngược
chạy xuôi van lạy hết người nọ đến người kia, mới vay được non chục bạc.
Non chục bạc thì chỉ nộp lệ làng, may cho con mỗi đứa một cái áo tang và
cho bà một cái mấn, rồi biện miếng trầu, bát nước cho làng xóm cũng đã
không đủ rồi. Thành thử bà chỉ dám mua cho ông cỗ áo quan có non ba đồng.
Rõ nghĩ mà thương! Nó vừa mỏng, vừa mọt, mộng trẽo trà trẽo trợt, giá chỉ
bóp mạnh cũng răng rắc được. Của ấy được mấy nỗi mà nát? Bấm đốt ngón
tay đã được sáu năm trời rồi. Cũng phải cố biện bát cơm, bát canh để thay
cho ông ấy cái áo mới, chứ để thế thì tội nghiệp. Nhưng làm sao bây giờ?
Bà dẫn Hảo đến cho bà ngoại tôi. Bà ngoại tôi, ngoan đạo như những
người vừa biết Chúa, thích nuôi trẻ ngoại đạo, rửa tội rồi nuôi làm con nuôi.
Đó cũng là một cách để con cái Đức Chúa lời ngày một thêm đông. Bà xã
bằng lòng cho con gái bà đi đạo.
Bà tôi còn nhân đức, giả đăn đắt để trừ nợ dăm sáu đồng. Thành ra bà xã
chỉ còn được lấy có bảy đồng bạc thôi. Nhưng hơn chục đồng còn nợ lại, từ
đấy bà cứ lần khân mãi, có gặp bà tôi, cũng chỉ van lạy khất, chứ không chịu
trả. Bà tôi có bực mình cũng chỉ mắng té tát mấy câu, chứ không chửi bới tàn
tệ hay bắt bớ. Ấy cũng bởi bà tôi là một người đi vay.
Những khi vui chuyện, người thường kể lại với chúng tôi rằng: ngày xưa,
khi ông thua bạc bỏ nhà đi, người còn phải trả hơn trăm đồng bạc nợ. Người
làm lụng vất vả, chiều hôm ban mai, một nắng hai sương, quanh năm chẳng
có phút nghỉ ngơi, mà không bao giờ đủ tiền nộp lãi. Vì thế, hơi bước ra khỏi
nhà là lủi trốn, giá có cái áo hơi lành hay nắm gạo ăn cũng sợ người ta bắt
mất. Có lần người đong được một hào gạo dúm vào vạt áo và mua cho mẹ tôi
- hồi ấy mới lên ba, một nắm xôi, đã cố lẩn lút, mà thế nào cũng bị một chủ
nợ tinh mắt trông thấy, con mẹ ấy có tiếng là khe khắt. Bà tôi sụp ngay xuống
lạy và khóc lóc xin khất nó. Nó chẳng rằng, chẳng nói, giằng lấy dúm gạo,
nắm xôi đổ vào trong nón rồi ngoắt đi. Cũng may, người phu quét chợ trông
thấy thế, nghĩ tức lây, bảo nó rằng:
- Bà có bắt thì bắt của người ta nắm gạo đã là cùng lắm. Còn xu xôi người
ta mua cho con người ta thì phải để cho con người ta chứ? Con người ta chịu
đói, khóc có bong bóng mũi ra, từ sáng đến giờ, mà bà bắt của người ta thì nó
chết. Bà cũng có con mà bà nỡ đang tâm thế à?
Con mẹ kia ngoa ngoắt, tớn môi lên:
- Ai khiến nhà bác chõ mồm vào đấy thế? Rõ khéo con tiều! Bác thương
nó thì mua cho nó.
Người phu quét chợ bực mình quăng ngay cho bà tôi hai hào:
- Đây này! Tôi cho nhà chị vay bao giờ kiếm được thì trả tôi; chúng nó
giàu mà coi đồng xu bằng cái mẹt!
Vì thế người ta đồn rằng người phu quét chợ phải lòng bà tôi. Nhưng bà
tôi quả quyết với chúng tôi rằng: từ hôm cho bà tôi vay tiền, có gặp bà tôi ông
ta chỉ lảng đi như không trông thấy nhưng chỉ mấy hôm bà tôi cũng cố tìm
tiền đem trả cho ông phân minh tử tế; hai người chẳng bao giờ nói với nhau
những lời có thể gọi là trai lơ. Về sau, khi bà tôi sạch nợ, và có chút tiền, mà
ông tôi vẫn biệt tăm, có nhiều đám muốn hỏi bà tôi làm vợ, toàn những đám
danh giá cả nhưng bà tôi từ chối hết. Bà tôi bảo: "Nếu tôi không nhất định thờ
chồng, làm lụng nuôi con, thì tôi lấy người phu quét chợ ngày xưa rồi".
Một người đã khổ sở vì tiền, tất phải quý đồng tiền. Nhưng không phải vì
thế mà bà tôi nỡ bắt những con nợ của người phải chịu những nỗi khốn nạn
mà trước kia người đã phải chịu. Đối với bà xã Vận, người tỏ ra dễ dàng.
Nhưng sự dễ dàng ấy, một phần nữa, cũng vì cô Hảo, được người nhận làm
con nuôi.
Mới đầu, dì Hảo khóc lóc đến mười hôm: dù có được ăn no, mặc lành đi
nữa, người ta cũng không thể phút chốc mà quên cái lều hôi hám là nơi mình
đã đói rách, khổ sở với em và mẹ. Nhưng rồi dì cũng khuây dần. Dì theo mẹ
tôi đi nhà thờ học kinh và "các lễ" cầu cho được rỗi linh hồn. Dì thấy đi đạo
cũng vui. Dần dần người ta dạy cho dì biết có một Đức Chúa lời dựng lên trời
đất, muôn vật và loài người ta, Đức Chúa lời có ba ngôi và ngôi thứ hai ra đời
lấy tên là Giêsu; Đức Chúa Giêsu chịu đóng đanh trên cây thánh giá để chuộc
tội cho thiên hạ... Ai tin những điều ấy thì được rỗi linh hồn, bằng ai chẳng
tin, thì phải xuống địa ngục đầy lửa sinh, lửa diêm, có tiếng khóc lóc và
nghiến răng. Tiếng khóc lóc và nghiến răng ken két, thì dì không sợ lắm. Hồi
còn ở nhà, em dì khóc nhè nhè suốt ngày; những hôm nó nóng đầu, thì đêm
ngủ nó nghiến răng ken két; quen đi thì cũng không sợ gì, nhưng dì sợ lửa
sinh, lửa diêm nó thiêu đốt người ta đời đời kiếp kiếp. Có là thánh cũng
không chịu nổi! Nghe nói đến địa ngục là dì lè lưỡi ra. Và dì tin. Dì trở nên
rất ngoan đạo nữa. Dì và tôi đọc kinh và hát vãn với nhau suốt ngày.
Dì bắt đầu muốn xa lánh hẳn cái lều tối tăm đầy những ma cùng quỷ; thực
tình, dì rất ít khi muốn về thăm mẹ ở nhà, và mỗi lần có phải về thăm mẹ, dì
thấy hơi rờn rợn khi đến gần cái bàn thờ lúc nào cũng âm u như che đậy bao
nhiêu là bí mật. Và đây mới thật là cái buồn não nuột: dì thấy ghê ghê ngay
mẹ dì. Bà xã Vận bỗng thành người đồng bóng; những ngày rằm, mồng một,
bà thường khăn chầu, áo ngự, đến điện nhà cô đồng ốc để hầu. Dì dùng
những lời rất khinh bỉ để nhạo báng bà, bà nhạo lại dì, mẹ con dần dần chẳng
muốn nhìn mặt nhau làm gì cho thêm bực.
Chao ôi! Nào có cứ gì phải là những người tư tưởng! Ngay ở những người
không tư tưởng cũng đã có sự chia rẽ tư tưởng rồi!
Bây giờ, dì Hảo chỉ biết có mẹ nuôi; dì rất mến mẹ tôi, và yêu tôi hơn tất
cả những người dì yêu cháu. Dì chỉ có một việc suốt ngày theo gót chân tôi.
Kể ra, tôi đã đủ lớn để không cần ai giữ nữa. Nhưng bà tôi chỉ được có mẹ
tôi, mẹ tôi lại mới được mình tôi; trong một nhà có của mà lại hiếm người
như thế, lẽ tất nhiên tôi cũng có quyền bé bỏng lâu hơn những con nhà khác.
Dì Hảo cũng tưởng tôi còn bé lắm. Dì tìm đủ mọi cách để nuông tôi, có lần dì
không ngại trèo sang vườn hàng xóm ăn cắp ổi để cho tôi vừa ý. Những lúc đi
đâu khí xa xa, vừa thấy tôi loạng choạng bước chân, dì đã đòi cõng tôi, "kẻo
chân cháu dì giẹo mất". Thật là buồn cười và thảm hại. Ngồi trên lưng dì, hai
chân tôi thò xuống có dễ dài hơn chân dì. Dì ngoẹo đầu đi, mặt đỏ bừng,
nước mũi chảy ra, lệch xệch vác tôi đi. Thế mà tôi có đòi đứng xuống dì cũng
nhất định không chịu đấy!
Sự tận tâm của dì cảm động lòng tôi. Mãi đến lúc tôi đã đi học, dì đã ngồi
trên khung cửi, chúng tôi còn quyến luyến nhau. Tôi học bài bên cạnh khung
cửi dì. Dì thúc giục tôi. Nghe những bài học lủng củng như "ếch kêu, chó
cắn", - tôi đã học sang vần trắc - dì khen tôi giỏi quá, khó như thế mà nhớ
được! Rồi tưởng những tiếng âm vô nghĩa ấy là những câu thần chú gọi cái
khôn của loài người, dì cố nhẩm theo, và lâu dần thuộc lòng tất cả các bài tôi
học; có lúc tôi ấp úng dì nhắc cho tôi đọc nữa; lại đến lượt tôi phục dì! Khi
bài tôi đã thuộc, tấm vải của dì được ra rồi dì giũ váy mấy cái cho lông vải
bay hết, rồi lại ôm tôi vào lòng mà vuốt hai cái trái đào của tôi. Những lúc ấy,
tôi thấy êm ái chẳng khác gì nằm trong lòng mẹ.
*
Dì Hảo ơi! Tôi hãy còn nhớ cái ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng. Đó là một
buổi chiều có sương bay. Người ta đã đến đón dì vào lúc tờ mờ tối. Cũng
chẳng lấy gì làm đông lắm, bên nhà trai đâu có lẻ tẻ mươi người. Về đằng
nhà gái, bà tôi chỉ có dăm ba người chị em đi đưa dì, chính tôi cũng chẳng
được đi. Mẹ tôi bảo: "Không có cỗ đâu: nhà người ta có trở, chỉ biện cơi trầu,
bát nước". Nhưng nào tôi có đòi đi để được ăn cỗ! Tôi chỉ theo dì Hảo của
tôi: từ trước đến nay, có bao giờ dì đi đâu mà để tôi ở nhà? Người ta giữ tôi
lại. Tôi tức, khóc òa lên, tôi tức bà tôi, tôi tức thầy mẹ tôi, tôi tức cả dì Hảo
nữa! Tôi tự hỏi sao dì cứ phải đi lấy chồng? Và ngay bây giờ nữa, dì Hảo hỡi!
Có lúc tôi vẫn ân hận vì dì đã đi lấy chồng. Nếu dì cứ ở nhà, nếu dì cứ là một
người dì của tôi mãi mãi, thì có lẽ khỏi khổ, ít ra, dì cũng đỡ khổ hơn bây giờ.
Nhưng mà sự ấy đã không thể đừng được. Dì Hảo đã đi lấy chồng, mang
theo cho người ấy tất cả lòng yêu vẫn để cho tôi. Và người ấy đã nhận tấm
lòng yêu ấy, nhận lấy mà chẳng làm gì cho đáng nhận.
Người ấy không yêu dì. Thật mà! Người ấy chẳng yêu dì Hảo đâu. Mà lại
còn khinh dì là khác nữa. Hắn khinh dì là đứa con nuôi, còn hắn là con dòng
cháu giống, tuy rằng nghèo xác. Và tuy rằng nghèo xác, hắn nhất định không
làm gì. Hắn lấy vợ để cho vợ nó nuôi. Dì Hảo cũng nghĩ đúng như thế ấy: dì
làm mà nuôi hắn. Người vợ đảm đang ấy kiếm mỗi ngày được hai hào, dì ăn
có năm xu. Còn một hào thì hắn dùng mà uống rượu. Và dì Hảo sung sướng
lắm. Và gia đình vui vẻ lắm. Nhưng sự tai ác của ông trời bắt dì đẻ một đứa
con. Đứa con chết, mà dì thì tê liệt. Mỗi ngày ngồi là một ngày không có hai
hào. Người chồng muốn đó là cái lỗi của người vợ vô phúc ấy.
Nhưng mới đầu hắn chỉ nghĩ thế thôi. Là vì nhờ ít tiền dành dụm, người ta
vẫn có thể đủ cả cơm lẫn rượu. Nhưng rồi rượu phải bớt đi. Đến cả cơm cũng
thế. Đến lúc ấy thì hắn không nhịn được nữa. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi
những nhà giàu. Hắn chửi số kiếp hắn. Và sau cùng thì chửi vợ. Ồ! Hắn chửi
nhiều lắm lắm, một bữa đói rượu, rồi tình cờ có một bữa rượu say.
Dì Hảo chẳng nói năng gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng
mà dì cứ khóc. Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc
như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì
nhiều đến thế. Vì dì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ nhà
mà đi, bỏ dì bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con
người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là
đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có
trách chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì đã không trách bà tôi đã làm
ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã
già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc mới hăm hai. Cái cơ
nghiệp của người gây dựng thầy tôi buôn bán thua lỗ, chúng tôi học hành tổn
phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương. Người chỉ có thể đem đến cho
dì Hảo ốm đau mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời
than thở.
*
Nhưng rồi bệnh dì cũng qua đi. Nó qua như một thằng quái ác chán không
muốn hành hạ một kẻ kiên nhẫn quá. Dì Hảo lại đi làm, lại có tiền, lại muốn
có chồng để mỗi ngày ăn năm xu và hắn dùng một hào còn lại đi uống rượu.
Thì quả nhiên hắn về. Hắn về với một cái quần đen, một cái áo tây vàng, túi
xóc xách tiền và một người vợ theo trơ tráo. Thoạt đầu thì người vợ chính
ngạc nhiên. Rồi thì tức tối. Sau cùng thì dì nhẫn nại; phải, nhẫn nại là hơn;
nếu hắn không về thì cũng thế.
Nhưng mà hắn đã về, hắn lại làm chủ cái lều và ba sào vườn ông cha để
lại. Và làm chủ cái lều và ba sào vườn của ông cha để lại, hắn tưởng có quyền
chẳng làm gì mà chỉ uống rượu ăn cơm. Và uống, ăn rồi, nó cười sặc sụa.
Cái con vợ bé ấy trơ tráo lạ! Nó chẳng biết làm gì cả. Nó hát những câu
tục tằn. Nó uống rượu tựa đàn ông, hút thuốc tựa đàn ông, búi tóc ngược, mặc
quần áo trắng tựa đàn ông. Nó sẽ lôi chồng dì vào đáy sâu địa ngục thôi!
Cheo leo thay cho cái linh hồn của chồng dì!
Thế mà chồng dì say mê nó lắm. Chồng dì gọi nó là "mợ mình", và mua
cho những hộp sữa bò sáu hào bảy khi nó ốm hay làm ra vẻ ốm.
Còn dì, dì biết phận dì. Dì cố nhắm mắt để khỏi trông thấy chúng. Dì
chẳng hé răng nói nửa lời, nhưng dì khóc ngấm ngầm khi chúng cười vui, dì
nhịn quắt ruột khi chúng ăn phung phí. Dì héo hắt đi, dì còm cõi, đúng như
một con mèo đói. Nhưng nếu dì còn được như thế mãi!
Một buổi sáng, chừng như chúng nó đã cạn tiền và cạn cả lòng yêu. Dì
đoán thế vì luôn hai, ba hôm, dì không thấy chúng uống rượu và cười sặc sụa.
Con vợ bé vừa nhổ bọt vừa nói cằn nhằn. Anh đàn ông hõm má vào và lõ mũi
ra. Hắn vừa khoằm khoặm mắt vừa văng tục. Con kia mặt sưng lên, cứ nói
một câu lại choai người lên một cái và vỗ đùi đồm độp. Chúng nó nhẩy xổ
vào nhau. Rồi đấm đá, cắn cấu lẫn với những tiếng gào thét ầm ĩ quá. Chẳng
biết làm thế sao, để mặc chúng, dì bỏ đi làm. Cũng như dì đã mặc những phút
mặn nồng của chúng.
Chiều hôm ấy, nhà có vẻ đám ma. Dì không thấy con vợ bé đâu. Cả chồng
dì cũng thế. Nhà cửa, đồ đạc thì bừa bộn. Mấy cái nồi đất và đôi lọ xách nước
tan ra từng mảnh. Lấy tiền đâu mà sắm sửa lại bây giờ. Trời ơi! Nhưng kìa
hắn đã về. Hắn về có một mình, một chai rượu trong tay và những tia giận
bừng bừng trong mắt. Hắn uống, rồi lại uống, uống lẳng lặng như chưa bao
giờ hắn uống. Hắn uống cả chai. Rồi hắn đập chai ra, và chửi. Hắn chửi bâng
quơ. Hắn chửi số kiếp hắn. Hắn chửi đàn bà. Hắn chửi con vợ bé. Dì Hảo cắn
chặt răng để cho khỏi khóc. Nhưng cứ khóc. Hôm sau hắn ra đi không biết đi
đâu. Dì Hảo ngạc nhiên. Rồi tức tối. Sau cùng thì dì nhẫn nại. Phải, nhẫn nại
là hơn: nếu hắn cứ ở nhà thì cũng thế.
Tháng 9-1941
In trong tập Nửa đêm
ĐÔI MẮT
Nam Cao
www.dtv-ebook.com
Đôi Mắt
Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi:
- Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây.
- Cám ơn anh nhé. Lát nữa tôi sẽ sang nhà anh chơi.
Tôi vỗ vai anh bảo vậy. Tôi toan vào. Anh vội ngăntôi lại:
- Khoan đã. Anh để em gọi cho anh trong nhà xích con chó lại. Con chó to
và dữ lắm.
Tôi mở to đôi mắt, khẽ reo lên một tiếng thú vị. Tôi nhớ đến những lần
đến chơi nhà anh Hoàng ở Hà Nội. Bấm chuông xong, bao giờ tôi cũng phải
chờ anh Hoàng thân hành ra nắm chặt cái vòng da ở cổ một con chó tây to
bằng con bê, dúi đầu nó vào gầm cái cầu thang rồi tôi mới có đủ can đảm
bước vội qua đằng sau cái đuôi nó để vào phòng khách.
Tôi rất sợ con chó giống Đức hung hăng ấy. Sợ đến nỗi một lần đến chơi,
không thấy anh Hoàng ra đứng tấn để giữ nó mà lại buồn rầu báo cho tôi biết
nó chết rồi, thì mặc dầu có làm ra mặt tiếc với anh, thật tình tôi thấy nhẹ cả
người.
Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000,
con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình. Không phải
chết vì chủ nó không tìm nổi mỗi ngày vài lạng thịt bò để nó ăn. Anh Hoàng
là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng là một tay chợ đen rất tài tình. Khi
chúng tôi đến nỗi chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết
bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu. Con chó của anh chưa phải nhịn bữa
nào. Những xác người chết đói ngập đường phố. Nó chết có lẽ vì chén phải
thịt người ươn hay là vì hút phải nhiều xú khí. Thảm hại thay cho nó!
Thế mà bây giờ đến thăm anh Hoàng ở chỗ gia đình anh tản cư về, cách
Hà Nội hàng trăm cây số, tôi lại được nghe đến một con chó dữ. Thật là thú
vị!...
Tôi cười nho nhỏ. Chẳng biết tôi cười gì, anh thanh niên cũng nhe những
chiếc răng vẩu ra cười. Đáp lại tiếng anh gọi, tiếng những chiếc guốc mỏng
mảnh quét trên sân gạch nổi lên, lẹc khẹc và mau mắn. Một thằng bé mũ nồi
đen, áo len xám chạy ra. Một đôi mắt đen lay láy nhìn tôi...
- Bác Độ, ba ơi! Bác Độ!...
Thằng Ngữ, con anh Hoàng. Nó chẳng kịp chào tôi, ngoắt chạy trở vào,
reo rối rít.
- Cái gì? Cái gì? Hừm!
Tiềng trầm trầm nhưng lại có vẻ nạt nộ của anh Hoàng hỏi nó (Bao giờ
nói với con, anh Hoàng cũng có cái giọng dậm dọa buồn cười ấy). Thằng bé
líu ríu những gì tôi nghe không rõ. Rồi thấy tiếng thanh thanh của chị Hoàng
giục con:
- Ngữ xích con chó lại. Xích con chó lại cái cột títđằng kia.
Anh Hoàng đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả bởi vì người khí
to béo quá, vừa bước vừa bơi cánh tay kềnh kệnh ra hai bên, những khối thịt
ở bên dưới nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá. Cái dáng điệu nặng
nề ấy, hồi còn ở Hà Nội anh mặc quần áo tây cả bộ, trông chỉ thấy là chững
chạc và hơi bệ vệ. Bây giờ nó lộ ra khá rõ ràng, trong bộ áo ngủ màu xanh
nhạt, phủ một cái áo len trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được.
Anh đứng lại bên trong cổng, một bàn tay múp míp hơi chìa về phía tôi,
đầu hơi ngửa về đằng sau, miệng hé mở, bộ điệu một người ngạc nhiên hay
mừng rỡ quá. Tôi có thì giờ nhận rõ một sự thay đổi trên bộ mặt đầy đặn của
anh: trên mép một cái vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ.
Sững người ra một lúc rồi anh mới lâm li kêu lên những tiếng ở trong cổ
họng:
- Ối giời ơi! Anh! Quý hóa quá!
Anh quay lại:
- Mình ơi! Anh Độ thật. Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng
mình.
Chị Hoàng lúc bấy giờ đã chạy ra, tay còn đang cài nốt khuy chiếc áo dài
màu gạch vừa mới mặc vội vào để ra đón khách. Người đàn bà vồn vã:
- Mong bác mãi. Lúc thằng cháu mới chạy vào, nhà tôi cứ tưởng nó trông
nhầm. Cứ tưởng bác ở cách hàng mười lăm hai mươi cây số...
Bắt tay tôi xong, anh Hoàng dịu dàng đẩy tôi đi trước. Chị vợ đã nhanh
nhẹn chạy trước vào nhà, dọn bàn dọn ghế. Sao lại có một sự săn đón cảm
động như thế được? Tôi đâm ngờ những ý nghĩ không tốt của tôi về anh, từ
hồi Tổng khởi nghĩa trở đi.
Sau Tổng khởi nghĩa, anh Hoàng đối với tôi đột nhiên nhạt hẳn đi. Mấy
lần tôi đến chơi với anh, định để xem anh thay đổi thế nào trong cuộc thay
đổi lớn của dân tộc chúng ta, nhưng đều không được gặp anh. Cửa nhà anh
đóng luôn luôn: thằng nhỏ nhà anh đứng bên trong cửa nhìn qua một lỗ con,
bao giờ cũng hỏi cặn kẽ tên tôi, để một lúc sau ra báo tôi rằng ông nó không
có nhà. Mấy lần đều như vậy cả nên tôi đã sinh nghi. Lần cuối cùng trước khi
bấm chuông tôi còn nghe thấy tiếng vợ chồng anh. Nhưng thằng nhỏ vẫn quả
quyết rằng ông bà nó về trại những từ tối hôm trước kia rồi. Đã đích xác là
anh không muốn tiếp tôi. Chẳng hiểu vì sao. Nhưng từ đấy tôi không đến
nữa. Mỗi lần gặp nhau ở ngoài đường chúng tôi chỉ bắt tay nhau một cách rất
lạnh lùng, hỏi thăm nhau một câu chiếu lệ rồi ai đi đường nấy. Tôi đã biết
Hoàng vẫn có tính tự nhiên "đá" bạn một cách đột ngột, vì những cớ mà chỉ
mình anh biết. Có khi chỉ là vì một tác phẩm của người bạn ấy được cảm tình
của ...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





