CHÀO XUÂN MỚI
Đi tới mùa xuân tư tưởng Hồ Chí Minh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:34' 15-03-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 23
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:34' 15-03-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 23
Số lượt thích:
0 người
•33T.
/7
TS. NGUYEN v a n KHOAN
f t
-
r .
'V *
i
$1
m u ^UAN
^TU Tl^NG
] ®
r f [
V '
K - ' ”
NHA XUAT BAN THANH NIEN
TS. NGUYỄN VẢN KHOAN
ĐI TỚI
MÙA WẰfị
JƯTƯỎNG
HỖ CHÍ MINH
NHÀ XUẤT BẰN THANH N llN
LỞI GIỚI THIỆU
uổn sách các bạn có trong tay tập hợp m ột s ố bài
viết về C hủ tịch H ồ C h i M in h của tiến s ĩ sử học
N guyễn Văn Khoan, đ ă được công bỏ' trẽn các sách báo,
tạ p chí, kỳ yếu hội thảo... từ nhữ ng năm 80 của th ế kỷ
trước đến nay.
C
Chủ đ ề xuyên suốt công trìn h là quá trinh p h á t triển
tư tường của m ột người Việt N a m yêu nước v ĩ đại, từ
th u ở ấ u thơ đến k h i trưởng th à n h ra đi tim đường cứu
nuớc, rồi trở th à n h người cộng sầ n đầu tiên của Việt
N a m , lãnh tụ của d ã n tộc, a n h h ừ n g g iả i phóng dân tộc,
d a n h n h â n vă n hoá t h ế giới.
Trên cơ sở m ột tin h th ầ n yêu nước m ãnh liệt, lại nắm
hắt được bản sắc của văn hoá d â n tộc, anh thanh niên
N ịỉuỵễn Á i Quốc (sau này là C hủ tịch Hổ C h í M inh) đã
''p h á t h iện ” đ ú n g cái h a y củ a ch ả nghĩa M ác là phép
hiọ.n chứ ng đê rồi uận d ụ n g vào h o à n cảnh Việt N a m
m ột cách đ ầ y sá n g tạo, thúc đ ẩ y cách m ạ n g Việt N a m
vượt qua m uôn trừ n g trở ngại, khó k h ă n đ ể không ngừng
tiến tới.
N guyễn Ả i Ọuôé - H ồ C hí M in h trước sau kiên trì tư
d u y độc lập của m ìn h về m ột xã hội phương Đồng, về
động lực cách m ạ n g của chù ngh ĩa d â n tộc. C hinh vi vậy
m à đ ã từ n g có m ột thời g ia n dài, Người không được
Quõ'c t ế Cộng sản ủ n g hộ. Cả đêh k h i tư tưòng của Người
đã được thực tiễn cách m ạng uà khoa học chứ ng m in h ỉà
đúng, N guyễn Á i Quốc - H ồ C hí M in h vẫn k h ô n g p h ả i
không có lúc, có người tìm cách h ạ n chế, bao vãy, dùng
đ a s ố ỉà m áp ỉực biLỘe p h ả i noi theo. N h ư n g uới bản lĩnh
vững vàng, vâi tin h th ầ n đ ấ u tra n h kiên đ ịn h , Người
vẫn luôn hướng tới h ạ n h p h ú c của nhân d ă n , của dân
tộc m ìn h và m ở rộng ra cho các dân tộc bị áp hức, bóc lột
trên toàn th ếg iớ i.
Qua cúc bài viết, có bài th ì tương đối sâu, có bài chi
mới là phác thảo, n h ư n g ngiứĩi đọc n h ậ n th ấ y tác g iả rất
tâ m đắc với đ ề tài m in h ấp ả, chÁc rằng õng còn có dịp
đi sđw hơn, viết kỷ hơn. trong thời g ia n tới về đề tài đầy
hứ n g th ú này. Với tên sách: Đ i tở i m ô t m ù a X u â n tư
tư ở n g H ồ C h i M in h , tác g iả k h ả n g đ ịn h lòng tin vững
chắc của m ìn h vào th ắ n g lợi cuối cùng của cách m ạng
Việt N a m , iúc đó, m ộ t xã hội cõng bằng, dàn. chủ, uăn
m in h sẽ được thiết lập cho m ỗi người, m ỗi g ia đinh, cho
cả nước, không nh ữ n g vậy còn m ở rộng ra các d â n tộc
trên toàn t h ể giới. M à rõ ràng lòng tin đó kh ô n g c h ỉ của
riêng tác giả, m à cũng là lòng tin của toàn t h ề chúng ta.
X in trân trọng giới thiệu cuôh sách với b ạ n đọc rộng
rải trong cả nứđc.
H à Nội, th á n g 6 '2006
Giáo sư Đ IN H XUAN LÂM
MÙA XUÂN CÁI THIỆN, CÃI Ác
r r ì ừ khi con người sông th à n h xã hội, T hiện và Ác
X luôn đ ấ u tr a n h gay g ắ t vói n h au . D ân tộc nào
c ũ n g gần như có chung một cách p h á n xét: Ác là xấu,
T h iệ n ià tôt. Cái tôt n h ấ t định th ắ n g cái xấu. Cái Thiện
nhâ't địn h th ắ n g cái Ác.
Thiện và Ác được phản án h khá sâu sắc trong v ăn học
d â n gian t h ế giới.
Tục ngữ Đức có câu: "Cái ác tàn bạo n h ấ t là cái ác
th ầ m lặng nhất, n h ư sự độc ác vô cùng của con chó dại”.
Ngưồi Pháp cảnh giác: “N gọn ỉủa độc ác tưởng đ ã nguội
rôỉ nh ư n g thư ờ ng lạ i đ a n g ngủ trong đống tro". D anh
ngôn
tin h n h ắ c nhở: “Ác là m ột cơn g iậ n ch ỉ chờ dịp
Irỏ thù". Đ ánh giá sức m ạnh, nhà văn Pháp Alphonse
D au d et p h á t hiện rằng; “Độc ác là cơn th ịn h nộ của
nhữ ng kẻ yếu hèn".
ò nước ta, n h à n dân thường nhác đến hai câu đầu
c-ủa sách Tam tự kinh (Kình ba chữ) của T ru n g Quôc,
Nho giáo cổ: N h ã n chi sơ. tĩnh, bản íh iện (Con người mối
sinh vốn iành). N hưng n h â n dân lại ít nói đến câu tiếp:
T ín h tương cận, tập tương viễn (Ý nói do thói quen của
xã hội làm cho mỗi ngày mỗi xa đức thiện).
C) Tạp chi Nhà báo vá công luận số Xuân 1992.
7
NGUYỄN VAN khoan
35 n ăm trướo, năm ỉ 956, tạ i trường Đại học N h ân
d â n H à Nội, C hủ tịch Hồ C hí M inh nói: "N hà nước lo
ỉà m cho n h â n dăn, trước k ế t là n h â n dàn lao động, ngày
càng tiến bộ về vật chất và tin h thần, làm cho trong xã
hội kh ô n g có người hóc lột ngưỉÂ, th ế là Thiện. Mỗi người
ch ú n g ta nên h ết lòng p h ụ n g s ự T ổ quốc, p h ạ c vụ n h â n
dân, th ế là Thiện. Nếu. ch ỉ lo lợi ích của m inh, không lo
đến lợi ích chung của nước nhà, của dân tộc, íhê là Ac.
N ếu p h ạ m p h ả i q u a n lỉéu, m ện h lệìih, thxiTn ô, lười
biếng, th ế là Ác”.
Ngưòi nói tiếp:
B ả n th ầ n ch ú n g ta đều ả n h hưởng của x ã hội củ
hoặc nhiều hoặc ít. Cho nên trong mồi người ch ú n g ta
nhờ sự g iú p đỡ, giáo dục của Đ ảng, của chinh p h ủ , sự cô
g ắ n g học tập và cải tạo... th i cái Á c trong m in h ch ú n g ta
ngày càng bớt, cái T h iện ngày càng tă n ể '.
Theo lời dạy và cũng là điều mong mỏi của C hủ tịch
Hồ Chí M inh, cái T hiện phải có từ mỗi con người là ông
bà, c h a mẹ, là a n h chị, là con cháu của mọi nh à. Cái
T hiện n h ư tâ'm gương trong, p h ả i t ừ mồi “đầy tó n h â n
d ân ” lã n h đạo, q u ả n lý cao n h ấ t của mỗi cộng đồng, mỗi
n hà nước, chính p h ủ , đoàn th ể “xuóng” đến người th ấ p
n h ấ t tro n g bộ m áy đó.
Cái T hiện của mỗi người, mỗi gia đình - tế b à o của xã
hội - mỗi tậ p th ể ngưòi, mỗi quôc gia sẽ đóng góp chung
vào cái T hiện của D ất - Trơi, của n h ả n loại.
12 n àm sau, vào th á n g 6 n ăm 1968, trong khi tra o đổi
với m ột sô'cán bộ p h ụ trách x u ấ t b ản loại sách Ngưìii tốt,
việc tối (có th ể hiểu là người T hiện, việc Thiện?), C hủ
tịch Hồ C hí Minh n h ắc nhủ: "M ỗi người đều có cái Thiện
DÒ Á c Ồ trong lòng. Ta p h ả i biết là m sao cho p h ầ n tốt ở
8
Đ I IƠ IM Õ I t t ì l A y U Ã N - l ư l ư Ỡ N i; tìô C H Í M IN H
trnng m ỗi con người n ẩ y nờ n h ư hoa m ù a xu â n và p h ầ n
xấ u m ấ t d ầ n đi. Đó là th á i độ của người Cách m a n ¿ '.
SôVig với điểu Thiện là trồng thèm nhiều cây hoa cho
quà n g ọ t vào Vườn Xuân. Cuộc Đời dược thắm , đồng thời
h ạn c h ế bốt đi những cỏ ác sinh sôi, nảy nỏ...
Dưi^c như vậy, cái ác xấu xa, bần tiện, đê hèn, ghê tởm
như c á i gai b ẩn ìàni thối da thịt, như nhọt ung th ư hoại
tử cứ thổ, n h ư rắn độc trong tim, trong nhà, như sói ỉang
trong làng, trong xóm sẽ không cỏn “đất” m à tồn tại.
35 Tiăm. nhác lại nhũ n g mong ước diều Thiện cho dân,
cho nưâc của Bác Hổ muôn vàn kính yôu, nhán Xuân mới
N hâm Thân (1992) này, xin mỏi chúng ta, mỗi gia đình
treo cho một câu đôì trong lòng ta và trong n hà ta:
X u â n mới, người người trồng hoa Thiện
Tết vé, chốn chốn diệt ác lang.
ĐI TỚỊ MỘT MÙA XUÂN
TƯTUỬNG HỒ CHÍ M INH"
Một cây cổ th ụ trăm năm tuổi trong rừ n g đại ngàn đã
tìm thấy, đưỢc “đ á n h dấu” mói hơn m ột m ù a xuân.
Bám rỗ s â u trong đất, h ú t nước m ạch nguồn, tiếp
nhận p h ầ n sá n g bôn hướng m ặ t tròi, toẵ bóng che khi
nắng cháy, cỉỡ gió lúc trời giông, cây đại th ụ ấ y đã nảy
mầm sông cho bao nhiêu !ằ, oành, hoa, trái.
Giữa n h ũ n g tiếng bom dạn của v ẳn m inh, hiện đại, mù
m ịt góc trôi vùng Vịnh, theo những dòng nưốc m át nôi dài
mãi của các bà mẹ ỏ những miền đ ấ t một thời yên lành
nay nổi sóng sắc tộc, con ngưííi lại hướng về miệt vưòn
Việt Nam - Hồ Chí M inh - gửi gắm yên tĩn h của lương tri,
bằng a n của tâ m hồn, hy vọng cùa hoà hợp.
Cây đại Ih ụ tư tưởng Hồ Chí M inh trong m iệt vườn
xanh ấy đã có những quả ngọt đ ầu mùa.
Còn k h á đống người chưa đôn được vối gốc cây. Có
ngưòi, chân đứng dưới bóng m á t của cây mà tâm thì như
bẻ cành b ằ n g h à n h động b ấ t n h â n nghĩa, vô lương tâm.
ước mong c ủ a nhiều người khác m uôn tìm hiểu cội
nfîuon cây hiếm quý đó mà chưa có diều kiện.
Đầu Xuân, nên chăng, hãy h à n h hương về cuộc sống
hàng ngày của mình, tới cây phúc, lộc, thọ, khang, ninh ấy.
Cuộc đi tới một m ù a Xuân cho ta và còn có thể là cho
cả láng giềng, bẽ bạn...
C)Tạp chl Nhà bão và công luận số tháng 1-1993.
10
vì MỘT MÙA XUÂN CHO
TRIỆU TRIỆU CŨN N G Ư ãl'
Từ năm 1883, các cường quôc ch âu Âu và châu Mỹ đã
d ẩy b á n h xc ch ủ ngh ĩa thực dân di thêm những chặng
đưòng mối. N ăm 1885, việc p h â n chia thuộc dịa ở châu
l'hi d ã hoàn tấ t. N ăm 1918 v à tiếp sâu dó với Hiệp ưốc
Véc-xây nàm 1919, n h ữ ng p h ầ n đ ấ t cùa ch âu Á, châu
Úc và châu Đại Dương còn lại cũng đà được “xí phần"
đ ầy đủ,
Năm 1900, th ế giới bước vào th ế kỷ XX với hàng trăm dàn
tộc bị áp bức và trên 100 nưốc thuộc dịa với sô' dân khoảng
800 triệu ngưòi, chiếm gần 70% dân sô”toàn th ế giới,
Trong điều kiện t h ế giới ỉúc dó, Mác và Ảng -ghen
chưa th ể n h ậ n sứ m ệnh giải quyết vấn để thuộc địa.
N àm 1851. Mác mâi có được một số thông tin í t ỏi VỂ “xứ
lìắc Kỷ và N am K ỳ'. Ả ng-ghen chỉ hai lần để cập đến
Đông Bương vào năm 1895 và 1896. Ivê-nin, trước sau có
bốn lầ n nói đến vùng đ ấ t hình ch ữ s này, lần đ ầu vào
nám 1905, lần cuòi vào nãm 1916.
Năm 1919. trong Tuyên ngôn th à n h lập Quốc tế TII, có
một câu: “Công nhân uà nâng dân không những ở An
N am , An-giê-ri, Ben-gan m à cả ở Ba-tư, Ac-mê-ni-a... chỉ
có th ể già n h được độc lập kh i m à công nhân nước A n h và
Pháp lật đ ổ chinh quyền nhà nước fào tay minh".
C) Bào S ài Gỏn gĩẻì phóng, s ố ngày 29-Ô-1993.
11
NGUYỄN VẪN KHOAN
Tiến sỹ p h á p lý Mỹ La tin h De S téphano cho ràng:
"Cho tới lúc đó, chư a từ n g có m ột a i của các d ă n tộc áfì
bức đ ả lên á n nhiều lần s ự bóc lột các d â n tộc thuộc đ ịa
n h ư Nguyễn- Ả i Quốc". M auricc Thorez? - Tổng Bí th ư
Đ ảng Cộng sản P h á p công n h ậ n rằng; "Chi có Hồ C hi
M in h là người d u y n h ấ t có trinh độ tư d u y về vấn để
(thuộc địa) náy".
Con người nhỏ bé về th â n hình, vĩ d ạ i trong tư duy là
Nguyễn Ái Quốc đ ă tìn h nguyện chấp n h ậ n sứ m ệnh m à
lịch sử đà giao cho.
Vượt qua bao nhiêu khó khăn, tr ă n trỏ, chịu đựng lời
trách của P h a n C hâu Trinh: "Tôi (Phan C hâu Trinh)
không thích chính sách “ngoạ ngoại chiêu hiền, đãi thời
đột nội”'” c ủ a a n h (Nguyễn Ái Quốc), nhưng v ẫn kỳ vọng
rà n g việc lớn chi còn trông cậy vào a n h m à thôi”. Các
đồng chí th á m niên trong phong trà o cộng sản, công
n h â n khô n g p h ải t ấ t cả đều tá n th à n h tư tưởng của
Nguyễn Ái Quốc. Các dồng chí trong nước, k ể cả những
ngưdi hôm q u a còn là học trò của lớp h u ấ n luyện Q uảng
Châu, cũng đã có ngưòi này nghe người khác “không
đồng tìn h với phương pháp cách m ạng của Nguyễn Ái
Quôc”, th ậ m chí còn phê phán quyết liệt...
Sự hi s in h của Bác th âm trầm , sâ u lắng, để cho ch ú ng
ta có lúc n ghĩ lại th ấ y day dứt.
Mong ước của Bác là dem [ại h ạ n h phúc cho con người
của mọi d ần tộc. N gay cả những đôi tưựng đ ấu tra n h của
Iihân dồii Việt N am cũng đã nói: "Cụ ỈIỒ không có kủ
th ù ”. Người châu Mỹ La tin h r ấ t sòng p h ẳn g cho rằng:
“Lịch sử đ ã chứ ng m in h nhữ ng n h â n vậ t vĩ đ ạ i đều có kẻ
gièm ph a , n h ư n g trong trường hỢp H ồ C h i M inh th i
Ngói ă nuỡc ngoài, clìièu m ộ người là i giỏì, (điờ
núòc.
12
thời th ế trỏ vé đáì
ữ\ l ứ l M Ổ Ỉ t t Ù A X U Ả N - ỉ ư ĩ ư ở f j G
tiồ
C fjÍM íN H
kh ô n g n h ié ù '. Ngưòi N hật Bản cõng n h ậ n rằng:
C hí
M in h là nhăn vật d u y n h ấ t (1 N h ậ t B án m à từ kh i người
N h ậ t biết đến vần g iữ nguyên được h in h ả n h của Người
trong lòng m in h '\
Cho dến nãm 1975, khi m ùa Xuân trọn vẹn đã vể vói
Viột Nam, sau khi Chủ tịch Hồ Chí M inh đã di vào lịch
sử, theo thôVig kẽ của Liên HỢp quôc, tre n thc^ giối này
chì có “70 triệu d â n còn bị nô lệ, hệ thống thuộc địa cơ
bản đả bị thủ tiỀu'\ N hư vậy lằ trong thô^ kỷ XX, hàng
tră m triộu con người trong các nước thuộc địa đẵ đưỢc
giải phóng» đă biôt có m ùa Xuân cho mình, cho dân tộc
mình. Các n h à lịch sử ch ân chính đổu n h ấ t trí đ á n h giá:
''Sự g iả i phó n g các dân tộc thuộc địa trong th ế kỳ X X là
m ột trong nhữ ng sự kiện vĩ đ ạ i nhất, kh ô n g thê không
công n h ậ n sự đóng góp to lớn của Hồ C hí M inh".
Vì vậy, tổ chức UNESCO của Liên Hợp quốc đâ công
nhận Hồ Chí M inh là một '^biểu tượng kiệt xu ấ t về lòng
quyết tâm của m ột dân tộc... đả góp p h ầ n vào cuộc đàu
trũnh chung của các dân tộc vi hoà bỉnh, độc lập dân tộc,
(lân chủ oà tiến bó xã k ô r .
13
MÙA XUÂN VÀ HAI CHỮ "DÓNG BÀO
THEO Ý CỤ HỔ
§f
Các n hà “Hồ C hí M in h học” cho rằ n g a n h N guyễn T ất
T h à n h đưỢc nghe h a i ch ữ đồng bào khi a n h đ a n g theo
học năm th ứ hai tạ i T n íò n g Quôc học Huế.
N ăm ấy, nông d â n m iền T ru n g nổi dậy, chông sưu
thuế, rầm rậ p đi biểu tìn h , đòi quyền lợi... Để tỏ tình
đoàn kết n h ấ t trí, họ đ ều c ắ t tóc ngắn và gọi n h a u là
đồng bào“'.
Trước ngày đi r a b ên ngoài, xem nước P h áp và các
nước khác, N guyễn T ấ t T h à n h đâ xác địn h mục đích là
sẽ trỏ vể giúp đổng bào ch ú n g ta...
Vôn k iến thức c h ũ H á n dã giúp a n h th a n h niên
T h à n h hiểu rằ n g n g h ĩa h ẹp c ủ a đồng bào là con chung
một lòng cha, một lòng mẹ đẻ ra. Theo ng hĩa rộng thì
Tròi là cha lớn, Đ ấ t là mẹ lớn, tấ t cả loài người là con
chung một bọc mà ra , n ê n có câu nói rằ n g “B ốn b ể đồng
bào, th ế giới đồng bào"'''-'.
Trong thời gian h o ạ t động học tập làm ch ín h trị ở
Pháp, n h ữ n g năm 20 c ủ a t h ế kỷ XX - a n h T h à n h bấy giờ
có tên ià N guyễn Ái Quõc - đ ã phán biệt dưỢc t h ế giới chỉ
(1) Trần Dản Tiên, Nhũng m ẩu chuyện vê ổòi hoạt động của Hó Chủ
tịch. NXB Vén học, Hà Nội. 1969, tr'ó.
(2) Đào Duy Anh. Hàn - Việt từ điền, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1992, tr.302.
14
Cl ìứl
m m XUẢN • iư ỈUỦNG fjố mMINH
có hai loại người: loại đi bóc lột và loại bị bốc lột. Nguyễn
Ái Quốc q u a n niệm rà n g n h â n d ân lao động, trong th ế
kỷ XX bị bọn đê quốc thực d â n á p bức bóc lột thì d ù màu
da, tiếng nói có khác n h au , n h ư ng dều là ruộ t thịt.
Q uan san m uôn d ặ m m ội nhà
Bôn phương vô sả n đều là anh em...
A n h em cùng một bào th a i sinh ra, đổng bào cùng
một bọc sin h ra...
Bao nhiêu n âm lưu lạc ở nưốc ngoài, Nguyễn Ái Quốc
vẩn ngày đêm mong được trở lại sôVig trong tìn h yêu Tổ
quốc, nghĩa n ặ n g đồng bào..., n h ư con chim Việt khi đậu
trê n càn h cây bao giò cũng quay đầu về phía Nam...
N guyễn Ái Quốc đã từ ng viết th ư nhò một đồng bào có
tin gì mới m ách cho biết. Người cũng đà bao lần thưa đồng
bào trong xã, trong huyện, đồng bào cả nước... Đốì với
nhân dân lao động các nước bạn, Người cho rằn g đồng bào:
Lọ là thân th iết ruột rà
Vì theo Ngưòi:
Công nông t h ế giới đều là anh em...
... N ước xa m à lòng không xa,
T h ậ t là bầu bạn, th ậ t là a n h em...
M ù a x u á n đô) với C hủ tịch Hồ C hí M inh là m ù a xuân,
xuân cả t h ế gian. Cho dù:
Q u a n san xa cách, tin h th ầ n không xa
Và nếu;
N g à n trùng nước biếc non xanh
Người vẫn:
Gửi trao nước bạn m ối tìn h anh em
H oặc:
... M ối tinh hữ u nghị sắ t son.
S ô n g có th ể cạn,
15
NGƯYẾN VĂN KHOAN
N ú i có thê mòn,
T inh thần đoàn kết dài còn m uôn thu...
T h ậ t là khó hiểu mà cũng cỉễ hiểu thôi, khi Chủ tịch
Hồ Chí M inh th ân ái kêu gọi đồng bào I-{oa kiểu ỏ trê n
đ ấ t Việt N am là an h em láng giềng, T ru n g Quốc, Việt
N am vôn là người cùng một nh à, cám ơn đồng bào tín đồ
P h ậ t giáo, lại trở nên b ạn bè th â n th iế t với người Mỹ
s . P h en như an h em một nhà.'"
Trong một lần gặp gỡ với cán bộ quân đội, Người c6 nói:
Giải thích cho đồng bào địa chủ hiểu quy lu ậ t p h á t triển
của lỊch sử là chế độ phong kiến sỗ không còn tồn tạị...
Đấy là Người đã hiểu chữ “đồng bào” của th á n h hiền
theo nghĩa rộng. Không phải chỉ hiểu để b iết m à Kgưòi
còn thực hiện, còn thực hành... Và thực tiễn thòi dại đã
chứng m inh rằ n g Ngưòi đúng.
Sau h à n g trăm nám bị nỏ lộ, n h â n d ân lao động các
nước châu Á, châu Phi... đã bẻ gãy gông xiềng của thực
dân, bước đ ầu đi vào kỷ nguyên độc lập d ân tộc... T hế
nhưng, n hữ ng năm g ần đây, ỏ ch âu Á, ch âu p h i và ngay
cả ch âu Âu, con quỉ ám sắc tộc đã gieo rắc bao nhiêu hận
th ù trong tr á i tim con người mổi hôm qua còn là anh em,
đồng bào của nhau...
Q uan điểm, lòng mong mỏi của Cụ Hồ là mong sao mỗi
n ăm xuân về không chỉ riêng cho ai m à cho t ấ t cả th ế gian
này, cho t ấ t cả bốn phương vô sản a n h em, cho bốh bể
đồng bào... Thực hiện đưỢc hai chữ đồng bào ấy, theoý Cụ
Hổ phải chăng là mùa xuân n h â n loại đã dên? P h ải chăng
là hy vọng cho mọi thời đại s a u Hồ Chí Minh?
(1) s. Phen, Phàc thảo tiểu sử H ó Chi Minh, NXB studio Vesta, London.
1973, trSO.
16
DI CHÚC BÁC HỔ > MỘT NÉT TƯTƯỬNG
NHÂN VẦN HỔ CHÍ MINH
TRONG MỘT "M ÙA XUÂN NHÂN LOẠI"'
m
•
“T rong lịch sử n h â n loại, từ xưa đến nay, đẫ có nhiều
học thuyôt, tư tương dể cập tói Siố phận con ngưòi, phản
á n h tâ m tư, nguyộn vọng của con ngưòi muôVi được giải
toả khỏi những h ạ n chê" rà n g buộc của tự nhiên, xă hội
và c ủ a b ản th â n con ngưòi. Đó chính là tư tưởng, nhân
vãn , n h â n dạo được th ổ hiện ở những múc dộ, trìn h độ
k hác n h au , tiếp cận từ n h ữ ng giác ngộ khác nhau^'^*'.
S in h ra và lớn lên trong một đất nưổc văn hiên, đã
từ n g “L áý c h í nhăn đê thay cường b ạ ò \ với một cộng
dồng dân cư từ ngàn năm đã biết ^'Thương người n h ư thê
thư ơ ng th â r í\ từ ng lưu tru y ền qua bao nhiêu th ế hệ
rằ n g
ơi thương lấy b í cũng, tu y rằng khác giỏng
n h ư n g chung m ột g ừ irí\ cậu bó Nguyễn Sinh Cung N guyễn T ất T h àn h không nhữ ng chỉ tiêp n h ậ n những
yêu tổ^ n h â n đạo, nhân vãn ấy q ua lòi ru của bà, của mọ,
trong nhữ ng hội hè h ấ t phường v«ải m à còn cả trong sách
vỏ của tiền nhân.
Ợ) Tham luận Ịại H ội nghị khoa học vể thực hiện D i chúc của Bàc Hó,
Hà Nội, 2004.
(1) Võ Nguyên Giáp. Tư tưỏng Hỗ Chi Minh và con đường cách mạng
Việt Nam. NXB Chinh trị quỗc gia, 1997, tr 227,
2-DTMX
17
NGUYÊN VĂN KHOAN
Không chịu cảnh sống nô lệ cùa bản th ân , cùa gia
đình, đồng bào, Tổ quôc, N guyễn T ấ t T h àn h dã ra đi tìm
cách cứu nước. H ành tr ìn h q u a mấy đại dương châu lục
đã đúc kết cho a n h thuỷ th ủ V ăn Ra nhận xét: “Trên thê
giới này ch ỉ có hai h ạ n g người: đ i bóc lột và bị bóc lột",
“ớ đâu có đ ế quốc thực d â n ở đ ấ y n h á n dân còn đau kh ố '.
N ghiên cứu chủ n ghĩa Mác, Nguyễn Ái Quốc nh ìn
th ấy rõ và trưổc h ế t là ch ủ ngh ĩa Mác m ang tín h n h â n
văn cao cả nhàm giải phóng con người, là một “chủ
nghĩa n h ả n đạo hiện thực".
Đi theo con đưồng m à chủ nghĩa Mác - Lê-nin dă
vạch ra, Nguyễn Ái Quốc - Hồ C hí Minh đã k ế th ừ a được
n hữ ng giá trị tư tưông của v àn hoá, n h â n vãn tru y ền
thốhg Việt N am và cả n h ữ n g tin h hoa văn hoá, n h â n
vẳn của n h â n loại để giải quyết và dáp ứng yêu cầu về
vãn hoá, n h â n văn của d â n tộc... Và Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí M inh, trong q uá tr ìn h h o ạ t dộng cách m ạng cùa
m ình đ ã n êu một tấ m gương sáng, tiêu biểu nhả't cho
chủ nghĩa n h â n đạo, n h â n v ăn mác xít Việt Nam.
Từ tư tưởng “Không cần th iế t không ra quân”, luôn
luôn tra n h th ủ giữ gìn h oà bình, trá n h khiêu khích đôi
phương, “g iả m đại s ự xuống tru n g sự, rồi tiểu sự đê vô
s ự \ trá n h cho quần c h ú n g m ột cuộc chiến tra n h , Hồ Chí
M inh ch ủ trương “còn nước còn tát" để khỏi phải cầm
súng. N hưng khi kẻ th ù đã chà đạp lên công lý, lên danh
dự dán tộc, đã vác đao kiếm vào nhà chém giết dân lành
thì việc “động binh” dể cứu n h â n dân đau khổ... là một
ứng xử n h â n đạo, vì đa sô' người chông lại số í t ngưòi.
T ín h c h ấ t chiến dấu trong chiến tra n h giải pbóng dân
tộc Việt N am không bao giờ bao hàm ý địn h h à n h động
“hiếu sá t”, Khi kẻ th ừ đã h ạ vũ khí, n hữ ng con cháu,
b inh sĩ, n h â n dân của Cụ Hồ đ ã cho họ cơm á n áo mặc,
18
Cl lổi
ÄÖI ftiiÄ ï m
■Iư
luỡN s HÔCHÍ ầ\m
cho họ hiểu biê't, chỉ cho họ con đưòng về vởi gia dỉnh,
cho họ m ạng sòng và h ạ n h phúc - như xa xưa đả từng
sửa dưòng cấp gạo cho quân xâm lược phưdng Bắc th u a
trộ n trỏ vể dể mong mỏi “muôn đòi tắ t chiến tra n h ”.
T rong raột hội nghị của ngành T ư pháp Việt Nam m ột cơ quan mà không í t cán bộ nghĩ rằ n g làm tư pháp,
h à n h pháp, quan toà, tr ạ i giam là p h ải trừ ng trị - Hồ
Chí M inh lại nói; “N g h ĩ cho cùng, m ọi vấn đề... là vấn đề
ở cỉời i)à làm người, ớ đời và làm người là p h ả i thương
nưôc, thương dân, thương nhân loại đau k h ổ bị áp
bức"'"- Đây là “triế t lý” sông của Hồ C hí M inh, là tấm
lòng thương ngưòi hết sức rộng rài, sâu sắc, thực lòng,
toàn diện của Hồ Chí M inh với mọi kiếp con người...
Trong suôt cuộc ddi của mình, Người đã chia sẻ mẩu
b á n h mì ít ỏi kiếm được trong ngày với một em bé da
(len, đã khóc trà n nưóc m ắ t khi một th a n h niên người
nước ngoài vì mình m à m ang hoạ, Người đã dành bát
cơm trắ n g cho ngưòi già Cao Bang, còn m ình bưng bát
(!ơin ngó. Thấy một tù binh rét, Ngưồi đà cỗi áo â'm mình
(íang mặc khoác cho a n h ta, coi "anh m ặc cũng như tôi
m ặc...''. Người lo sao cho em bé mồ côi có đưỢc nơi nương
tựji, các cụ già không bị h ắ t hủi lúc x ế chiều. Ngưòi lo
lừng viên thuốc, h ạ t gạo, chiếc guốc đi, “cái con c h ữ ' cho
(lồng bào ít ngưừi...
Cho đến th á n g 5 năm 1965, biết m ình sắp đi gặp “Cụ
Các Mác - cụ L ê-nin”, Hồ Chí Minh đã viết đi viết lại
bản D ì chúc.
Bản bổ sung vào trưốc ngày 10 th á n g 5 n ăm 1969, Hồ
Chí M inh đã viết thèm mấy điểm không đi sâu vào chi
tiết như sau:
(1) H6 Chi Minh. Nhà nước và pháp luật, NXB Pháp lý, H, 1990. tr174.
19
nguyẻnv An khoan
“Đ ầu tiê n là công việc đối với con người”. “Con người"
tro n g Di ch úc c ủ a Hồ C hí M inh là “n h ữ ng ngưòi đã dũnK
càm hy s in h ”, là “các liệt s ĩ', là “cha mẹ, vợ con củn
thư ơng b in h liệt s ĩ', ỉà “các chiến sĩ trẻ trong lực lượn^
vũ tra n g , t h a n h niên xung phong”. Hồ C hủ tịch yêu cầu:
“Đ ảng, C h ín h p h ủ , đồng hào p h ả i tim m ọi cách làm cho
họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, m ở lớp d ạ y nghề, x ă y dựtiịỉ
vườn hoa và bia k ỷ niệm ghi s ự hy sin h a n h d ũ n g đè đời
đời giáo d ụ c tin h th ầ n yêu nước cho n h â n dân... g iú p đờ
họ có công việc là m á n thích hỢp, q uyết không đê họ bị
đói rét... chọn m ộ t s ố ư u tú n h ấ t (trong lớp chiến s ĩ trẻ và
th a n h n iên x u n g phorìỂ) đ i học thèm các ngành, các
ngkể... đ ể đ à o tạo th à n h đội quăn ch ả lực trong công
cuộc xâ y d ự n g th ắ n g lợi chủ ngh ĩa xã hội ở nước ta...""'
Đòì với p h ụ nữ Việt Nam, Hồ Chí Minh đã d à n h riông
cho giối n ày những lòi lõ rá t n h â n ái, sâu sắc, xúc động:
“Trong s ự nghiệp chống Mỹ cứu nưởc, p h ụ n ữ đ ả m đang
ta đ ã gỏp p h ẩ n xứng đáng trong chiên đấu và trong sản
xuất". "Đàng và C hinh p h ủ cần p h ả i có k ể hoạch thiết thực
đê bồi dưởng, cất nhắc và giúp đ ỡ đê riỂàỵ thêm nhiều p h ụ
n ữ p h ụ trách m ọi công việc k ể cả công việc lã n h đạo... B ản
th á n p h ụ n ữ th ì p h ả i c ố gắng vươn Un. Đó là m ột cuộc
cách m ạ n g đ ư a đến quyền binh đẳng thật s ự cho p h ụ nữ '.
P h ầ n cuốỉ cùng về “đầu tiôn là công việc đôi vối con
ngưòi”, C h ủ tịc h Hồ Chí M inh dà đề cập tối n hữ ng số'
p h ậ n bị k h ô n g ít người coi là “cận bã xà hội''- Hồ Chí
M inh viết; "Đối với những nạn n h â n của chê độ xã hội
củ n h ư trộ m cắp, g á i điếm, cờ bạc, buôn lậu... th i N h à
nước p h ả i d ù n g uừa giáo dục, oừa p h á p lu ậ t đ ể cải tạo
họ, g iú p h ọ tr ở nên n h ữ n g người lao động lương th iệ n .”'^
(1) Bút th h D i chú c của Chõ tịch Hỗ C hl Minh. NXB Chinh trị quốc gia.
1995. tr42 .
(2) Sđd. tr 42.
20
ĐIĨỚI m m XUẢN-ỈƯÌƯỞNG fiổ m m w
ở dây cần lưu ý dến mấv quan niệm của Hồ Chí Minh;
1. Hồ Chí M in h thường nói: “Con người sin h r a tín h
vô”n lành, vôn thiện". N hững thói h ư tậ t xấu là do xâ hội
cũ gây nên, chĩ m ột p h ầ n là do b àn th â n con ngưòi đó.
N hưng Mồ C hí M inh không chu họ hoàn toàn là n h ữ ng
kẻ tự ý, tự m ình gây ra, mà coi họ là n ạ n n h ân , là người
không inay mắc nạn, m à nguyên n h â n chính, kẻ chủ
mưu chính, k ẻ gây ra chủ yếu là chê" độ xấu xa cũ...
2. Trái với ý đ ịnh “trừ n g trị là trước h ế t”, Hồ Chí
M inh chủ trưcíng vừa giáo dục, vừa câi tạo, đ ặ t giáo dục
lên trê n việc d ù n g p h á p lu ậ t, để họ không “ngựa quen
đường cũ'* m à “giúp họ trỏ nên một con người lương
th iện ”, giúp trà ho về đòi sốiig bình thư ờng của một
người lao động, một con ngưừi tín h vô'n lành đ ầ u tiên
c ủ a họ.
Phải chàng đây cũng là truyền thống d ân tộc “m áu
('háy, ruột m ềm '', là ý của P h ậ t ''dù xây chín bậc nhà đồ,
.'•'OO hằng lầm p h ú c cứu cho m ột người", của C h ú a “hãy
í hương yêu m ọi người, k ế cả kẻ th ù của ía"?
HỒ Chí M inh dã từ ng nói “T rừ bọn Việt g ia n bán
nước, trừ bọn p h ớ t x ít thự c dân, là n h ữ n g ác q u ỷ nên ta
p h ả i kiên q uyết đ á n h đ ổ (xin chú ý là Hồ C hí M inh
không dùng từ "giết sạch, g iết hết"...), đối ưới tấ t cả
ìứiững người k h á c (xin chú ý: kể cả trộm cướp, gái diếm,
buôn ỉặu...) th ì p h ả i yêu quý, k ín h trọng, gưỢng đờ. Phải
thực hành c h ữ "Bác ái."'"
Chủ ní?)iĩa n h à n vãn. nhân đạo Hồ Chí M inh được
chứng tô bàng' một Hồ Chi M inh mà “lòng thương yêu
đõ'i với nliân dỗn và n h â n loại là không bao giò th a y đổi”.
Đó chinh là k ê t q u ả của lòng tin m ã n h liệt vào sức sõng
của dân tộc, của n h â n dân, của mỗi th à n h viên xã hội (1) Hó Chi Minh. Toàn lập. tàp 5. NXB Chính trị quốc gia. 1995, Ir 644.
21
NGUYỀN VĂN KHOAN
cho dù họ khô ng m ay lầm lỗi, trở th à n h n ạ n n h à n của tọ
n ạn nào đó.
Di chúc c ủ a Hồ Chí M inh, ngoài n h ữ n g giá trị lịch sử,
chính trị... còn là một “Di chúc” vể chủ ng h ĩa n h â n vãii
của d ân tộc ta, của n h á n dân ta - m à Hồ Chí M inh là
người tiêu biểu, m ột n h à n h â n vãn h à n h động, m ột n h à
n h â n v ãn c h â n chính.
Người cũng từ n g khuyên bảo cán bộ, đ ả n g viên, n h â n
d ân ta rằ n g “Nói đi đôi với làm ”, “Một việc cụ thể còn giá
trị hơn n g à n lầ n nói suông"Đ ền đáp công ơn của Hồ Chí M inh, tro n g dịp n hắc lại
D i chúc c ủ a Người, không gì cụ th ể b ằ n g là mỗi người
ch ú n g ta, n h â n dân, đảng viên, cán bộ h ã y thực sự làm
theo lời dạy tro n g D i chúc của Người.
Và tro n g n ăm 2005 này, một việc làm th iê t thực để kỷ
niệm Người 115 m ù a Xuân, chúng t a h ã y cố gắng thực
hiện 'T h ư ơ n g nước, thương dân, thư ơng n h â n loại đau
khổ” theo tấ m lòng bác ái của Bác, tro n g hy vọng “X uân
cho cả loài người”.
22
HO CHÍ MINH
VỚI CÁC DÂN TỘC ĐỒNG NAM Á'
gày 20 th á n g 5 nàm 1924, trong t h ư gửi dồng chí
Pê-tơ-rốp, N guyễn Ái Quốc viết:
N
"Nguyên n h ă n đầu tiên g â y ra sự suy yếu của các dăn
tộc phương Đông, đó là sự đơn. độc"'". Tiếp đó, Ngưòi phân
tích nguyên nhàn: “Vỉ các dân tộc phương Đông không có
s ự quan hệ và tiếp xú c giữa các Lục đia với nhau'' nên "họ
hoàn toàn kh ô n g biết đến nhữ ng việc xả y ra ở các nưàc
lá n g giềng gần- g ũ i của họ, do đó họ thiếu s ự tin cậy lổn
nhau, s ự phối hợp h à n h động và s ự c ổ vũ lẫ n n h a u ”.
Đây là một ý kiến m à Nguyễn Ái Quốc đã “ngẫm nghĩ
t ừ lâu” và “th ấ y có trá c h nhiệm phải trìn h b ày”. Ý kiến
này được nêu lên tro n g bôì cảnh lịch sử k h i m à chủ
n gh ĩa tư bàn đ ã p h á t triể n m ạ n h mẽ ở phường Tây, khi
mà “việc tă n g th êm nh iều phương tiện tra o đổi... viộc
tìm thêm nhiều h à n g hoá đ ã đem lại cho thư ơng nghiệp,
cho nghể h à n g hải, cho công nghiệp m ột s ự p h á t dạt
chưa từ n g có và đo đấy đã dem lại m ột sự p h á t triể n
m au chóng cho yếu tố cách m ạng trong xã hội phong
kiên đang ta n r ã ”'-''.
n ^ộ'
Ouốc tể kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hố Chl Minh,
danh nhản vỗn hoá Ihẽ giới, Hà Nội, thàng 3-1990.
(1) Hó Chl Mình. Toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, 1960, tr.207. T ậ p m ó iin
nảm 1995 đã đ ô i ch ữ 'đon độc' thành "biệt lập“.
(2) Uàc • A n g e h e n - Tuy&ì íập, tập 1. Tuyên ngôn cộng sản' NXB Sự
thật. Há N ội 1970. tr.29.
23
NGIĨYẾN VẪN KHOAN
ở Việt N am v à m ột sô nước thuộc địa E)ông N am Á,
ngoài c h ế độ p h ong k iến kìm hãm còn bị ch ủ nghía thực
d â n cù xâm lược, chiếm dỏng, nơi m à “nhữ ng biên giới tư
bản chủ ngh ĩa cho đến nay ch ỉ là n h ữ n g vách tường dày
ngăn cản n h ữ n g người lao động trẽn th ế giới hiểu nhau
và thương yêu n k a u ""\ nơi m à “ch ỉ với lực lương riêriịỊ
của m in h , n ô n ^ d â n kh ô n g bao giờ trú t bò đưỢc g á n h
n ặ n g đ a n g đ è n én ftọ”® và “ch ỉ với s ự g iú p đ d của n h ữ n g
người a n h n/n b ị á p bức của m ìn h ở các nưâc c h ă u À u , họ
mới tự g iả i p h ó n g được
C hâu Âu, th eo n h ậ n xét
của N guyễn Ái Quôc, là nđi “m à đời sống hiện nay p h ụ
thuộc trước hết vào n h ữ n g trung tâ m cồng nghiệp lớn
m ạ n h và vào n h ữ n g đường gừio thônể''*'.
Rióng ở V iệt N am , “sự đơn độc” càng n ặ n g n ề hơn khi
đê quốc P h á p b ít tấ t cả những “cửa” vào, dưồng bộ,
đưòng th ủ y , c ấm n h ậ p k h ẩ u mọi sách báo tiến bộ, mọi
th ô n g tin về các trà o lưu chính t n , k inh tế, v ãn hoá, xă
hội. C húng xử tội r ấ t n ặ n g t ấ t cả n h ữ ng ai “x u ấ t dương”
không đưỢc phép của chính quyển d ù với b ấ t kỳ mục
đích nào, đe doạ n h ữ n g người có liên hộ với nước ngoài,
k h ủ n g bô”cả n h ữ n g người được chúng cho ra nước ngoài
lúc trỏ về có n h ữ n g h à n h dộng m à chính quyền gọi là
“tuyên tru y ề n k ích động”.
Trưóc N guyễn Ái Quốc, cũng đ ã có n h ữ n g mối giao
lưu v àn h o á với A n Độ, T rung Quốc, N h ậ t Bản, In-đônc-xi-a, với phương Tây, chủ yếu là Pháp, cùĩig đã có
n h ữ n g kiến nghị k h ông n ên 'Tíếquan, toả cảng” m à phải
“mỏ cửa” với v án m inh phưdng Tây. N hưng do nhiều
nguyên n h â n tác động, do bảo th ủ , định kiôVi, hoài nghi
c ủ a n h ữ n g ngưòi cầm quyền, do h à n h vi b ấ t tín, vụ lợi
c ù a đỐì tượng “m d cửa” n ên Việt N am cuối cùng v ẫn chịu
sự “đơn độc" cay đ ắ n g kéo dài.
(1). (2). (3). (4)
Hô C hlM inh,
Toàn tập. sơd, tr.115. 157, 130, 157.
24
fil ỉớ l  ồí flÙA XUẲN - ỉư rưỞNG Hổ CHÍ MINH
G ần Nguyễn Ái Quôc, Phan Bội C háu c ũ n g đã “mỏ
cửa" sang phương Đông, nhưng do sự h ạn c h ế chủ quan,
két q u ả cuôl (tùng vẫn không ''mcV' dưỢc.
Kguyẽn Ái Quốc đã ngiim nghĩ từ lảu v ấn dề này, ít
ra cũng từ khoảng nám 1904. khi đi bộ theo th â n phụ
vào Huê lần th ứ hai để h w tại Trường Quốc học íiuế.
Cho đến khi “th ấy có trách nhiệm'' phải trìn h b ày vấn để
này, Nguyễn Ái Quôc đã trải qua 20 nấm sòng, đi, thấy,
lắng nghe, học tập, ngẫm nghĩ, tư duy và tự m ình r ú t ra
k ế t luận. Cho dến năm 1924, khi p h á t biểu V kiến này,
so với ngưòi dương thời, Nguyễn Ái Quốc là m ột trong
n hữ ng ngưòi dã đi biển, đi bộ nhiều n h â t, tiếp cận với
hàng chục nước ỏ châu Âu, châu Mỹ, ch âu Phi... để có
được tầm m át mỏ rộng nhất- Theo n h ữ ng tà i liệu...
/7
TS. NGUYEN v a n KHOAN
f t
-
r .
'V *
i
$1
m u ^UAN
^TU Tl^NG
] ®
r f [
V '
K - ' ”
NHA XUAT BAN THANH NIEN
TS. NGUYỄN VẢN KHOAN
ĐI TỚI
MÙA WẰfị
JƯTƯỎNG
HỖ CHÍ MINH
NHÀ XUẤT BẰN THANH N llN
LỞI GIỚI THIỆU
uổn sách các bạn có trong tay tập hợp m ột s ố bài
viết về C hủ tịch H ồ C h i M in h của tiến s ĩ sử học
N guyễn Văn Khoan, đ ă được công bỏ' trẽn các sách báo,
tạ p chí, kỳ yếu hội thảo... từ nhữ ng năm 80 của th ế kỷ
trước đến nay.
C
Chủ đ ề xuyên suốt công trìn h là quá trinh p h á t triển
tư tường của m ột người Việt N a m yêu nước v ĩ đại, từ
th u ở ấ u thơ đến k h i trưởng th à n h ra đi tim đường cứu
nuớc, rồi trở th à n h người cộng sầ n đầu tiên của Việt
N a m , lãnh tụ của d ã n tộc, a n h h ừ n g g iả i phóng dân tộc,
d a n h n h â n vă n hoá t h ế giới.
Trên cơ sở m ột tin h th ầ n yêu nước m ãnh liệt, lại nắm
hắt được bản sắc của văn hoá d â n tộc, anh thanh niên
N ịỉuỵễn Á i Quốc (sau này là C hủ tịch Hổ C h í M inh) đã
''p h á t h iện ” đ ú n g cái h a y củ a ch ả nghĩa M ác là phép
hiọ.n chứ ng đê rồi uận d ụ n g vào h o à n cảnh Việt N a m
m ột cách đ ầ y sá n g tạo, thúc đ ẩ y cách m ạ n g Việt N a m
vượt qua m uôn trừ n g trở ngại, khó k h ă n đ ể không ngừng
tiến tới.
N guyễn Ả i Ọuôé - H ồ C hí M in h trước sau kiên trì tư
d u y độc lập của m ìn h về m ột xã hội phương Đồng, về
động lực cách m ạ n g của chù ngh ĩa d â n tộc. C hinh vi vậy
m à đ ã từ n g có m ột thời g ia n dài, Người không được
Quõ'c t ế Cộng sản ủ n g hộ. Cả đêh k h i tư tưòng của Người
đã được thực tiễn cách m ạng uà khoa học chứ ng m in h ỉà
đúng, N guyễn Á i Quốc - H ồ C hí M in h vẫn k h ô n g p h ả i
không có lúc, có người tìm cách h ạ n chế, bao vãy, dùng
đ a s ố ỉà m áp ỉực biLỘe p h ả i noi theo. N h ư n g uới bản lĩnh
vững vàng, vâi tin h th ầ n đ ấ u tra n h kiên đ ịn h , Người
vẫn luôn hướng tới h ạ n h p h ú c của nhân d ă n , của dân
tộc m ìn h và m ở rộng ra cho các dân tộc bị áp hức, bóc lột
trên toàn th ếg iớ i.
Qua cúc bài viết, có bài th ì tương đối sâu, có bài chi
mới là phác thảo, n h ư n g ngiứĩi đọc n h ậ n th ấ y tác g iả rất
tâ m đắc với đ ề tài m in h ấp ả, chÁc rằng õng còn có dịp
đi sđw hơn, viết kỷ hơn. trong thời g ia n tới về đề tài đầy
hứ n g th ú này. Với tên sách: Đ i tở i m ô t m ù a X u â n tư
tư ở n g H ồ C h i M in h , tác g iả k h ả n g đ ịn h lòng tin vững
chắc của m ìn h vào th ắ n g lợi cuối cùng của cách m ạng
Việt N a m , iúc đó, m ộ t xã hội cõng bằng, dàn. chủ, uăn
m in h sẽ được thiết lập cho m ỗi người, m ỗi g ia đinh, cho
cả nước, không nh ữ n g vậy còn m ở rộng ra các d â n tộc
trên toàn t h ể giới. M à rõ ràng lòng tin đó kh ô n g c h ỉ của
riêng tác giả, m à cũng là lòng tin của toàn t h ề chúng ta.
X in trân trọng giới thiệu cuôh sách với b ạ n đọc rộng
rải trong cả nứđc.
H à Nội, th á n g 6 '2006
Giáo sư Đ IN H XUAN LÂM
MÙA XUÂN CÁI THIỆN, CÃI Ác
r r ì ừ khi con người sông th à n h xã hội, T hiện và Ác
X luôn đ ấ u tr a n h gay g ắ t vói n h au . D ân tộc nào
c ũ n g gần như có chung một cách p h á n xét: Ác là xấu,
T h iệ n ià tôt. Cái tôt n h ấ t định th ắ n g cái xấu. Cái Thiện
nhâ't địn h th ắ n g cái Ác.
Thiện và Ác được phản án h khá sâu sắc trong v ăn học
d â n gian t h ế giới.
Tục ngữ Đức có câu: "Cái ác tàn bạo n h ấ t là cái ác
th ầ m lặng nhất, n h ư sự độc ác vô cùng của con chó dại”.
Ngưồi Pháp cảnh giác: “N gọn ỉủa độc ác tưởng đ ã nguội
rôỉ nh ư n g thư ờ ng lạ i đ a n g ngủ trong đống tro". D anh
ngôn
tin h n h ắ c nhở: “Ác là m ột cơn g iậ n ch ỉ chờ dịp
Irỏ thù". Đ ánh giá sức m ạnh, nhà văn Pháp Alphonse
D au d et p h á t hiện rằng; “Độc ác là cơn th ịn h nộ của
nhữ ng kẻ yếu hèn".
ò nước ta, n h à n dân thường nhác đến hai câu đầu
c-ủa sách Tam tự kinh (Kình ba chữ) của T ru n g Quôc,
Nho giáo cổ: N h ã n chi sơ. tĩnh, bản íh iện (Con người mối
sinh vốn iành). N hưng n h â n dân lại ít nói đến câu tiếp:
T ín h tương cận, tập tương viễn (Ý nói do thói quen của
xã hội làm cho mỗi ngày mỗi xa đức thiện).
C) Tạp chi Nhà báo vá công luận số Xuân 1992.
7
NGUYỄN VAN khoan
35 n ăm trướo, năm ỉ 956, tạ i trường Đại học N h ân
d â n H à Nội, C hủ tịch Hồ C hí M inh nói: "N hà nước lo
ỉà m cho n h â n dăn, trước k ế t là n h â n dàn lao động, ngày
càng tiến bộ về vật chất và tin h thần, làm cho trong xã
hội kh ô n g có người hóc lột ngưỉÂ, th ế là Thiện. Mỗi người
ch ú n g ta nên h ết lòng p h ụ n g s ự T ổ quốc, p h ạ c vụ n h â n
dân, th ế là Thiện. Nếu. ch ỉ lo lợi ích của m inh, không lo
đến lợi ích chung của nước nhà, của dân tộc, íhê là Ac.
N ếu p h ạ m p h ả i q u a n lỉéu, m ện h lệìih, thxiTn ô, lười
biếng, th ế là Ác”.
Ngưòi nói tiếp:
B ả n th ầ n ch ú n g ta đều ả n h hưởng của x ã hội củ
hoặc nhiều hoặc ít. Cho nên trong mồi người ch ú n g ta
nhờ sự g iú p đỡ, giáo dục của Đ ảng, của chinh p h ủ , sự cô
g ắ n g học tập và cải tạo... th i cái Á c trong m in h ch ú n g ta
ngày càng bớt, cái T h iện ngày càng tă n ể '.
Theo lời dạy và cũng là điều mong mỏi của C hủ tịch
Hồ Chí M inh, cái T hiện phải có từ mỗi con người là ông
bà, c h a mẹ, là a n h chị, là con cháu của mọi nh à. Cái
T hiện n h ư tâ'm gương trong, p h ả i t ừ mồi “đầy tó n h â n
d ân ” lã n h đạo, q u ả n lý cao n h ấ t của mỗi cộng đồng, mỗi
n hà nước, chính p h ủ , đoàn th ể “xuóng” đến người th ấ p
n h ấ t tro n g bộ m áy đó.
Cái T hiện của mỗi người, mỗi gia đình - tế b à o của xã
hội - mỗi tậ p th ể ngưòi, mỗi quôc gia sẽ đóng góp chung
vào cái T hiện của D ất - Trơi, của n h ả n loại.
12 n àm sau, vào th á n g 6 n ăm 1968, trong khi tra o đổi
với m ột sô'cán bộ p h ụ trách x u ấ t b ản loại sách Ngưìii tốt,
việc tối (có th ể hiểu là người T hiện, việc Thiện?), C hủ
tịch Hồ C hí Minh n h ắc nhủ: "M ỗi người đều có cái Thiện
DÒ Á c Ồ trong lòng. Ta p h ả i biết là m sao cho p h ầ n tốt ở
8
Đ I IƠ IM Õ I t t ì l A y U Ã N - l ư l ư Ỡ N i; tìô C H Í M IN H
trnng m ỗi con người n ẩ y nờ n h ư hoa m ù a xu â n và p h ầ n
xấ u m ấ t d ầ n đi. Đó là th á i độ của người Cách m a n ¿ '.
SôVig với điểu Thiện là trồng thèm nhiều cây hoa cho
quà n g ọ t vào Vườn Xuân. Cuộc Đời dược thắm , đồng thời
h ạn c h ế bốt đi những cỏ ác sinh sôi, nảy nỏ...
Dưi^c như vậy, cái ác xấu xa, bần tiện, đê hèn, ghê tởm
như c á i gai b ẩn ìàni thối da thịt, như nhọt ung th ư hoại
tử cứ thổ, n h ư rắn độc trong tim, trong nhà, như sói ỉang
trong làng, trong xóm sẽ không cỏn “đất” m à tồn tại.
35 Tiăm. nhác lại nhũ n g mong ước diều Thiện cho dân,
cho nưâc của Bác Hổ muôn vàn kính yôu, nhán Xuân mới
N hâm Thân (1992) này, xin mỏi chúng ta, mỗi gia đình
treo cho một câu đôì trong lòng ta và trong n hà ta:
X u â n mới, người người trồng hoa Thiện
Tết vé, chốn chốn diệt ác lang.
ĐI TỚỊ MỘT MÙA XUÂN
TƯTUỬNG HỒ CHÍ M INH"
Một cây cổ th ụ trăm năm tuổi trong rừ n g đại ngàn đã
tìm thấy, đưỢc “đ á n h dấu” mói hơn m ột m ù a xuân.
Bám rỗ s â u trong đất, h ú t nước m ạch nguồn, tiếp
nhận p h ầ n sá n g bôn hướng m ặ t tròi, toẵ bóng che khi
nắng cháy, cỉỡ gió lúc trời giông, cây đại th ụ ấ y đã nảy
mầm sông cho bao nhiêu !ằ, oành, hoa, trái.
Giữa n h ũ n g tiếng bom dạn của v ẳn m inh, hiện đại, mù
m ịt góc trôi vùng Vịnh, theo những dòng nưốc m át nôi dài
mãi của các bà mẹ ỏ những miền đ ấ t một thời yên lành
nay nổi sóng sắc tộc, con ngưííi lại hướng về miệt vưòn
Việt Nam - Hồ Chí M inh - gửi gắm yên tĩn h của lương tri,
bằng a n của tâ m hồn, hy vọng cùa hoà hợp.
Cây đại Ih ụ tư tưởng Hồ Chí M inh trong m iệt vườn
xanh ấy đã có những quả ngọt đ ầu mùa.
Còn k h á đống người chưa đôn được vối gốc cây. Có
ngưòi, chân đứng dưới bóng m á t của cây mà tâm thì như
bẻ cành b ằ n g h à n h động b ấ t n h â n nghĩa, vô lương tâm.
ước mong c ủ a nhiều người khác m uôn tìm hiểu cội
nfîuon cây hiếm quý đó mà chưa có diều kiện.
Đầu Xuân, nên chăng, hãy h à n h hương về cuộc sống
hàng ngày của mình, tới cây phúc, lộc, thọ, khang, ninh ấy.
Cuộc đi tới một m ù a Xuân cho ta và còn có thể là cho
cả láng giềng, bẽ bạn...
C)Tạp chl Nhà bão và công luận số tháng 1-1993.
10
vì MỘT MÙA XUÂN CHO
TRIỆU TRIỆU CŨN N G Ư ãl'
Từ năm 1883, các cường quôc ch âu Âu và châu Mỹ đã
d ẩy b á n h xc ch ủ ngh ĩa thực dân di thêm những chặng
đưòng mối. N ăm 1885, việc p h â n chia thuộc dịa ở châu
l'hi d ã hoàn tấ t. N ăm 1918 v à tiếp sâu dó với Hiệp ưốc
Véc-xây nàm 1919, n h ữ ng p h ầ n đ ấ t cùa ch âu Á, châu
Úc và châu Đại Dương còn lại cũng đà được “xí phần"
đ ầy đủ,
Năm 1900, th ế giới bước vào th ế kỷ XX với hàng trăm dàn
tộc bị áp bức và trên 100 nưốc thuộc dịa với sô' dân khoảng
800 triệu ngưòi, chiếm gần 70% dân sô”toàn th ế giới,
Trong điều kiện t h ế giới ỉúc dó, Mác và Ảng -ghen
chưa th ể n h ậ n sứ m ệnh giải quyết vấn để thuộc địa.
N àm 1851. Mác mâi có được một số thông tin í t ỏi VỂ “xứ
lìắc Kỷ và N am K ỳ'. Ả ng-ghen chỉ hai lần để cập đến
Đông Bương vào năm 1895 và 1896. Ivê-nin, trước sau có
bốn lầ n nói đến vùng đ ấ t hình ch ữ s này, lần đ ầu vào
nám 1905, lần cuòi vào nãm 1916.
Năm 1919. trong Tuyên ngôn th à n h lập Quốc tế TII, có
một câu: “Công nhân uà nâng dân không những ở An
N am , An-giê-ri, Ben-gan m à cả ở Ba-tư, Ac-mê-ni-a... chỉ
có th ể già n h được độc lập kh i m à công nhân nước A n h và
Pháp lật đ ổ chinh quyền nhà nước fào tay minh".
C) Bào S ài Gỏn gĩẻì phóng, s ố ngày 29-Ô-1993.
11
NGUYỄN VẪN KHOAN
Tiến sỹ p h á p lý Mỹ La tin h De S téphano cho ràng:
"Cho tới lúc đó, chư a từ n g có m ột a i của các d ă n tộc áfì
bức đ ả lên á n nhiều lần s ự bóc lột các d â n tộc thuộc đ ịa
n h ư Nguyễn- Ả i Quốc". M auricc Thorez? - Tổng Bí th ư
Đ ảng Cộng sản P h á p công n h ậ n rằng; "Chi có Hồ C hi
M in h là người d u y n h ấ t có trinh độ tư d u y về vấn để
(thuộc địa) náy".
Con người nhỏ bé về th â n hình, vĩ d ạ i trong tư duy là
Nguyễn Ái Quốc đ ă tìn h nguyện chấp n h ậ n sứ m ệnh m à
lịch sử đà giao cho.
Vượt qua bao nhiêu khó khăn, tr ă n trỏ, chịu đựng lời
trách của P h a n C hâu Trinh: "Tôi (Phan C hâu Trinh)
không thích chính sách “ngoạ ngoại chiêu hiền, đãi thời
đột nội”'” c ủ a a n h (Nguyễn Ái Quốc), nhưng v ẫn kỳ vọng
rà n g việc lớn chi còn trông cậy vào a n h m à thôi”. Các
đồng chí th á m niên trong phong trà o cộng sản, công
n h â n khô n g p h ải t ấ t cả đều tá n th à n h tư tưởng của
Nguyễn Ái Quốc. Các dồng chí trong nước, k ể cả những
ngưdi hôm q u a còn là học trò của lớp h u ấ n luyện Q uảng
Châu, cũng đã có ngưòi này nghe người khác “không
đồng tìn h với phương pháp cách m ạng của Nguyễn Ái
Quôc”, th ậ m chí còn phê phán quyết liệt...
Sự hi s in h của Bác th âm trầm , sâ u lắng, để cho ch ú ng
ta có lúc n ghĩ lại th ấ y day dứt.
Mong ước của Bác là dem [ại h ạ n h phúc cho con người
của mọi d ần tộc. N gay cả những đôi tưựng đ ấu tra n h của
Iihân dồii Việt N am cũng đã nói: "Cụ ỈIỒ không có kủ
th ù ”. Người châu Mỹ La tin h r ấ t sòng p h ẳn g cho rằng:
“Lịch sử đ ã chứ ng m in h nhữ ng n h â n vậ t vĩ đ ạ i đều có kẻ
gièm ph a , n h ư n g trong trường hỢp H ồ C h i M inh th i
Ngói ă nuỡc ngoài, clìièu m ộ người là i giỏì, (điờ
núòc.
12
thời th ế trỏ vé đáì
ữ\ l ứ l M Ổ Ỉ t t Ù A X U Ả N - ỉ ư ĩ ư ở f j G
tiồ
C fjÍM íN H
kh ô n g n h ié ù '. Ngưòi N hật Bản cõng n h ậ n rằng:
C hí
M in h là nhăn vật d u y n h ấ t (1 N h ậ t B án m à từ kh i người
N h ậ t biết đến vần g iữ nguyên được h in h ả n h của Người
trong lòng m in h '\
Cho dến nãm 1975, khi m ùa Xuân trọn vẹn đã vể vói
Viột Nam, sau khi Chủ tịch Hồ Chí M inh đã di vào lịch
sử, theo thôVig kẽ của Liên HỢp quôc, tre n thc^ giối này
chì có “70 triệu d â n còn bị nô lệ, hệ thống thuộc địa cơ
bản đả bị thủ tiỀu'\ N hư vậy lằ trong thô^ kỷ XX, hàng
tră m triộu con người trong các nước thuộc địa đẵ đưỢc
giải phóng» đă biôt có m ùa Xuân cho mình, cho dân tộc
mình. Các n h à lịch sử ch ân chính đổu n h ấ t trí đ á n h giá:
''Sự g iả i phó n g các dân tộc thuộc địa trong th ế kỳ X X là
m ột trong nhữ ng sự kiện vĩ đ ạ i nhất, kh ô n g thê không
công n h ậ n sự đóng góp to lớn của Hồ C hí M inh".
Vì vậy, tổ chức UNESCO của Liên Hợp quốc đâ công
nhận Hồ Chí M inh là một '^biểu tượng kiệt xu ấ t về lòng
quyết tâm của m ột dân tộc... đả góp p h ầ n vào cuộc đàu
trũnh chung của các dân tộc vi hoà bỉnh, độc lập dân tộc,
(lân chủ oà tiến bó xã k ô r .
13
MÙA XUÂN VÀ HAI CHỮ "DÓNG BÀO
THEO Ý CỤ HỔ
§f
Các n hà “Hồ C hí M in h học” cho rằ n g a n h N guyễn T ất
T h à n h đưỢc nghe h a i ch ữ đồng bào khi a n h đ a n g theo
học năm th ứ hai tạ i T n íò n g Quôc học Huế.
N ăm ấy, nông d â n m iền T ru n g nổi dậy, chông sưu
thuế, rầm rậ p đi biểu tìn h , đòi quyền lợi... Để tỏ tình
đoàn kết n h ấ t trí, họ đ ều c ắ t tóc ngắn và gọi n h a u là
đồng bào“'.
Trước ngày đi r a b ên ngoài, xem nước P h áp và các
nước khác, N guyễn T ấ t T h à n h đâ xác địn h mục đích là
sẽ trỏ vể giúp đổng bào ch ú n g ta...
Vôn k iến thức c h ũ H á n dã giúp a n h th a n h niên
T h à n h hiểu rằ n g n g h ĩa h ẹp c ủ a đồng bào là con chung
một lòng cha, một lòng mẹ đẻ ra. Theo ng hĩa rộng thì
Tròi là cha lớn, Đ ấ t là mẹ lớn, tấ t cả loài người là con
chung một bọc mà ra , n ê n có câu nói rằ n g “B ốn b ể đồng
bào, th ế giới đồng bào"'''-'.
Trong thời gian h o ạ t động học tập làm ch ín h trị ở
Pháp, n h ữ n g năm 20 c ủ a t h ế kỷ XX - a n h T h à n h bấy giờ
có tên ià N guyễn Ái Quõc - đ ã phán biệt dưỢc t h ế giới chỉ
(1) Trần Dản Tiên, Nhũng m ẩu chuyện vê ổòi hoạt động của Hó Chủ
tịch. NXB Vén học, Hà Nội. 1969, tr'ó.
(2) Đào Duy Anh. Hàn - Việt từ điền, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1992, tr.302.
14
Cl ìứl
m m XUẢN • iư ỈUỦNG fjố mMINH
có hai loại người: loại đi bóc lột và loại bị bốc lột. Nguyễn
Ái Quốc q u a n niệm rà n g n h â n d ân lao động, trong th ế
kỷ XX bị bọn đê quốc thực d â n á p bức bóc lột thì d ù màu
da, tiếng nói có khác n h au , n h ư ng dều là ruộ t thịt.
Q uan san m uôn d ặ m m ội nhà
Bôn phương vô sả n đều là anh em...
A n h em cùng một bào th a i sinh ra, đổng bào cùng
một bọc sin h ra...
Bao nhiêu n âm lưu lạc ở nưốc ngoài, Nguyễn Ái Quốc
vẩn ngày đêm mong được trở lại sôVig trong tìn h yêu Tổ
quốc, nghĩa n ặ n g đồng bào..., n h ư con chim Việt khi đậu
trê n càn h cây bao giò cũng quay đầu về phía Nam...
N guyễn Ái Quốc đã từ ng viết th ư nhò một đồng bào có
tin gì mới m ách cho biết. Người cũng đà bao lần thưa đồng
bào trong xã, trong huyện, đồng bào cả nước... Đốì với
nhân dân lao động các nước bạn, Người cho rằn g đồng bào:
Lọ là thân th iết ruột rà
Vì theo Ngưòi:
Công nông t h ế giới đều là anh em...
... N ước xa m à lòng không xa,
T h ậ t là bầu bạn, th ậ t là a n h em...
M ù a x u á n đô) với C hủ tịch Hồ C hí M inh là m ù a xuân,
xuân cả t h ế gian. Cho dù:
Q u a n san xa cách, tin h th ầ n không xa
Và nếu;
N g à n trùng nước biếc non xanh
Người vẫn:
Gửi trao nước bạn m ối tìn h anh em
H oặc:
... M ối tinh hữ u nghị sắ t son.
S ô n g có th ể cạn,
15
NGƯYẾN VĂN KHOAN
N ú i có thê mòn,
T inh thần đoàn kết dài còn m uôn thu...
T h ậ t là khó hiểu mà cũng cỉễ hiểu thôi, khi Chủ tịch
Hồ Chí M inh th ân ái kêu gọi đồng bào I-{oa kiểu ỏ trê n
đ ấ t Việt N am là an h em láng giềng, T ru n g Quốc, Việt
N am vôn là người cùng một nh à, cám ơn đồng bào tín đồ
P h ậ t giáo, lại trở nên b ạn bè th â n th iế t với người Mỹ
s . P h en như an h em một nhà.'"
Trong một lần gặp gỡ với cán bộ quân đội, Người c6 nói:
Giải thích cho đồng bào địa chủ hiểu quy lu ậ t p h á t triển
của lỊch sử là chế độ phong kiến sỗ không còn tồn tạị...
Đấy là Người đã hiểu chữ “đồng bào” của th á n h hiền
theo nghĩa rộng. Không phải chỉ hiểu để b iết m à Kgưòi
còn thực hiện, còn thực hành... Và thực tiễn thòi dại đã
chứng m inh rằ n g Ngưòi đúng.
Sau h à n g trăm nám bị nỏ lộ, n h â n d ân lao động các
nước châu Á, châu Phi... đã bẻ gãy gông xiềng của thực
dân, bước đ ầu đi vào kỷ nguyên độc lập d ân tộc... T hế
nhưng, n hữ ng năm g ần đây, ỏ ch âu Á, ch âu p h i và ngay
cả ch âu Âu, con quỉ ám sắc tộc đã gieo rắc bao nhiêu hận
th ù trong tr á i tim con người mổi hôm qua còn là anh em,
đồng bào của nhau...
Q uan điểm, lòng mong mỏi của Cụ Hồ là mong sao mỗi
n ăm xuân về không chỉ riêng cho ai m à cho t ấ t cả th ế gian
này, cho t ấ t cả bốn phương vô sản a n h em, cho bốh bể
đồng bào... Thực hiện đưỢc hai chữ đồng bào ấy, theoý Cụ
Hổ phải chăng là mùa xuân n h â n loại đã dên? P h ải chăng
là hy vọng cho mọi thời đại s a u Hồ Chí Minh?
(1) s. Phen, Phàc thảo tiểu sử H ó Chi Minh, NXB studio Vesta, London.
1973, trSO.
16
DI CHÚC BÁC HỔ > MỘT NÉT TƯTƯỬNG
NHÂN VẦN HỔ CHÍ MINH
TRONG MỘT "M ÙA XUÂN NHÂN LOẠI"'
m
•
“T rong lịch sử n h â n loại, từ xưa đến nay, đẫ có nhiều
học thuyôt, tư tương dể cập tói Siố phận con ngưòi, phản
á n h tâ m tư, nguyộn vọng của con ngưòi muôVi được giải
toả khỏi những h ạ n chê" rà n g buộc của tự nhiên, xă hội
và c ủ a b ản th â n con ngưòi. Đó chính là tư tưởng, nhân
vãn , n h â n dạo được th ổ hiện ở những múc dộ, trìn h độ
k hác n h au , tiếp cận từ n h ữ ng giác ngộ khác nhau^'^*'.
S in h ra và lớn lên trong một đất nưổc văn hiên, đã
từ n g “L áý c h í nhăn đê thay cường b ạ ò \ với một cộng
dồng dân cư từ ngàn năm đã biết ^'Thương người n h ư thê
thư ơ ng th â r í\ từ ng lưu tru y ền qua bao nhiêu th ế hệ
rằ n g
ơi thương lấy b í cũng, tu y rằng khác giỏng
n h ư n g chung m ột g ừ irí\ cậu bó Nguyễn Sinh Cung N guyễn T ất T h àn h không nhữ ng chỉ tiêp n h ậ n những
yêu tổ^ n h â n đạo, nhân vãn ấy q ua lòi ru của bà, của mọ,
trong nhữ ng hội hè h ấ t phường v«ải m à còn cả trong sách
vỏ của tiền nhân.
Ợ) Tham luận Ịại H ội nghị khoa học vể thực hiện D i chúc của Bàc Hó,
Hà Nội, 2004.
(1) Võ Nguyên Giáp. Tư tưỏng Hỗ Chi Minh và con đường cách mạng
Việt Nam. NXB Chinh trị quỗc gia, 1997, tr 227,
2-DTMX
17
NGUYÊN VĂN KHOAN
Không chịu cảnh sống nô lệ cùa bản th ân , cùa gia
đình, đồng bào, Tổ quôc, N guyễn T ấ t T h àn h dã ra đi tìm
cách cứu nước. H ành tr ìn h q u a mấy đại dương châu lục
đã đúc kết cho a n h thuỷ th ủ V ăn Ra nhận xét: “Trên thê
giới này ch ỉ có hai h ạ n g người: đ i bóc lột và bị bóc lột",
“ớ đâu có đ ế quốc thực d â n ở đ ấ y n h á n dân còn đau kh ố '.
N ghiên cứu chủ n ghĩa Mác, Nguyễn Ái Quốc nh ìn
th ấy rõ và trưổc h ế t là ch ủ ngh ĩa Mác m ang tín h n h â n
văn cao cả nhàm giải phóng con người, là một “chủ
nghĩa n h ả n đạo hiện thực".
Đi theo con đưồng m à chủ nghĩa Mác - Lê-nin dă
vạch ra, Nguyễn Ái Quốc - Hồ C hí Minh đã k ế th ừ a được
n hữ ng giá trị tư tưông của v àn hoá, n h â n vãn tru y ền
thốhg Việt N am và cả n h ữ n g tin h hoa văn hoá, n h â n
vẳn của n h â n loại để giải quyết và dáp ứng yêu cầu về
vãn hoá, n h â n văn của d â n tộc... Và Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí M inh, trong q uá tr ìn h h o ạ t dộng cách m ạng cùa
m ình đ ã n êu một tấ m gương sáng, tiêu biểu nhả't cho
chủ nghĩa n h â n đạo, n h â n v ăn mác xít Việt Nam.
Từ tư tưởng “Không cần th iế t không ra quân”, luôn
luôn tra n h th ủ giữ gìn h oà bình, trá n h khiêu khích đôi
phương, “g iả m đại s ự xuống tru n g sự, rồi tiểu sự đê vô
s ự \ trá n h cho quần c h ú n g m ột cuộc chiến tra n h , Hồ Chí
M inh ch ủ trương “còn nước còn tát" để khỏi phải cầm
súng. N hưng khi kẻ th ù đã chà đạp lên công lý, lên danh
dự dán tộc, đã vác đao kiếm vào nhà chém giết dân lành
thì việc “động binh” dể cứu n h â n dân đau khổ... là một
ứng xử n h â n đạo, vì đa sô' người chông lại số í t ngưòi.
T ín h c h ấ t chiến dấu trong chiến tra n h giải pbóng dân
tộc Việt N am không bao giờ bao hàm ý địn h h à n h động
“hiếu sá t”, Khi kẻ th ừ đã h ạ vũ khí, n hữ ng con cháu,
b inh sĩ, n h â n dân của Cụ Hồ đ ã cho họ cơm á n áo mặc,
18
Cl lổi
ÄÖI ftiiÄ ï m
■Iư
luỡN s HÔCHÍ ầ\m
cho họ hiểu biê't, chỉ cho họ con đưòng về vởi gia dỉnh,
cho họ m ạng sòng và h ạ n h phúc - như xa xưa đả từng
sửa dưòng cấp gạo cho quân xâm lược phưdng Bắc th u a
trộ n trỏ vể dể mong mỏi “muôn đòi tắ t chiến tra n h ”.
T rong raột hội nghị của ngành T ư pháp Việt Nam m ột cơ quan mà không í t cán bộ nghĩ rằ n g làm tư pháp,
h à n h pháp, quan toà, tr ạ i giam là p h ải trừ ng trị - Hồ
Chí M inh lại nói; “N g h ĩ cho cùng, m ọi vấn đề... là vấn đề
ở cỉời i)à làm người, ớ đời và làm người là p h ả i thương
nưôc, thương dân, thương nhân loại đau k h ổ bị áp
bức"'"- Đây là “triế t lý” sông của Hồ C hí M inh, là tấm
lòng thương ngưòi hết sức rộng rài, sâu sắc, thực lòng,
toàn diện của Hồ Chí M inh với mọi kiếp con người...
Trong suôt cuộc ddi của mình, Người đã chia sẻ mẩu
b á n h mì ít ỏi kiếm được trong ngày với một em bé da
(len, đã khóc trà n nưóc m ắ t khi một th a n h niên người
nước ngoài vì mình m à m ang hoạ, Người đã dành bát
cơm trắ n g cho ngưòi già Cao Bang, còn m ình bưng bát
(!ơin ngó. Thấy một tù binh rét, Ngưồi đà cỗi áo â'm mình
(íang mặc khoác cho a n h ta, coi "anh m ặc cũng như tôi
m ặc...''. Người lo sao cho em bé mồ côi có đưỢc nơi nương
tựji, các cụ già không bị h ắ t hủi lúc x ế chiều. Ngưòi lo
lừng viên thuốc, h ạ t gạo, chiếc guốc đi, “cái con c h ữ ' cho
(lồng bào ít ngưừi...
Cho đến th á n g 5 năm 1965, biết m ình sắp đi gặp “Cụ
Các Mác - cụ L ê-nin”, Hồ Chí Minh đã viết đi viết lại
bản D ì chúc.
Bản bổ sung vào trưốc ngày 10 th á n g 5 n ăm 1969, Hồ
Chí M inh đã viết thèm mấy điểm không đi sâu vào chi
tiết như sau:
(1) H6 Chi Minh. Nhà nước và pháp luật, NXB Pháp lý, H, 1990. tr174.
19
nguyẻnv An khoan
“Đ ầu tiê n là công việc đối với con người”. “Con người"
tro n g Di ch úc c ủ a Hồ C hí M inh là “n h ữ ng ngưòi đã dũnK
càm hy s in h ”, là “các liệt s ĩ', là “cha mẹ, vợ con củn
thư ơng b in h liệt s ĩ', ỉà “các chiến sĩ trẻ trong lực lượn^
vũ tra n g , t h a n h niên xung phong”. Hồ C hủ tịch yêu cầu:
“Đ ảng, C h ín h p h ủ , đồng hào p h ả i tim m ọi cách làm cho
họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, m ở lớp d ạ y nghề, x ă y dựtiịỉ
vườn hoa và bia k ỷ niệm ghi s ự hy sin h a n h d ũ n g đè đời
đời giáo d ụ c tin h th ầ n yêu nước cho n h â n dân... g iú p đờ
họ có công việc là m á n thích hỢp, q uyết không đê họ bị
đói rét... chọn m ộ t s ố ư u tú n h ấ t (trong lớp chiến s ĩ trẻ và
th a n h n iên x u n g phorìỂ) đ i học thèm các ngành, các
ngkể... đ ể đ à o tạo th à n h đội quăn ch ả lực trong công
cuộc xâ y d ự n g th ắ n g lợi chủ ngh ĩa xã hội ở nước ta...""'
Đòì với p h ụ nữ Việt Nam, Hồ Chí Minh đã d à n h riông
cho giối n ày những lòi lõ rá t n h â n ái, sâu sắc, xúc động:
“Trong s ự nghiệp chống Mỹ cứu nưởc, p h ụ n ữ đ ả m đang
ta đ ã gỏp p h ẩ n xứng đáng trong chiên đấu và trong sản
xuất". "Đàng và C hinh p h ủ cần p h ả i có k ể hoạch thiết thực
đê bồi dưởng, cất nhắc và giúp đ ỡ đê riỂàỵ thêm nhiều p h ụ
n ữ p h ụ trách m ọi công việc k ể cả công việc lã n h đạo... B ản
th á n p h ụ n ữ th ì p h ả i c ố gắng vươn Un. Đó là m ột cuộc
cách m ạ n g đ ư a đến quyền binh đẳng thật s ự cho p h ụ nữ '.
P h ầ n cuốỉ cùng về “đầu tiôn là công việc đôi vối con
ngưòi”, C h ủ tịc h Hồ Chí M inh dà đề cập tối n hữ ng số'
p h ậ n bị k h ô n g ít người coi là “cận bã xà hội''- Hồ Chí
M inh viết; "Đối với những nạn n h â n của chê độ xã hội
củ n h ư trộ m cắp, g á i điếm, cờ bạc, buôn lậu... th i N h à
nước p h ả i d ù n g uừa giáo dục, oừa p h á p lu ậ t đ ể cải tạo
họ, g iú p h ọ tr ở nên n h ữ n g người lao động lương th iệ n .”'^
(1) Bút th h D i chú c của Chõ tịch Hỗ C hl Minh. NXB Chinh trị quốc gia.
1995. tr42 .
(2) Sđd. tr 42.
20
ĐIĨỚI m m XUẢN-ỈƯÌƯỞNG fiổ m m w
ở dây cần lưu ý dến mấv quan niệm của Hồ Chí Minh;
1. Hồ Chí M in h thường nói: “Con người sin h r a tín h
vô”n lành, vôn thiện". N hững thói h ư tậ t xấu là do xâ hội
cũ gây nên, chĩ m ột p h ầ n là do b àn th â n con ngưòi đó.
N hưng Mồ C hí M inh không chu họ hoàn toàn là n h ữ ng
kẻ tự ý, tự m ình gây ra, mà coi họ là n ạ n n h ân , là người
không inay mắc nạn, m à nguyên n h â n chính, kẻ chủ
mưu chính, k ẻ gây ra chủ yếu là chê" độ xấu xa cũ...
2. Trái với ý đ ịnh “trừ n g trị là trước h ế t”, Hồ Chí
M inh chủ trưcíng vừa giáo dục, vừa câi tạo, đ ặ t giáo dục
lên trê n việc d ù n g p h á p lu ậ t, để họ không “ngựa quen
đường cũ'* m à “giúp họ trỏ nên một con người lương
th iện ”, giúp trà ho về đòi sốiig bình thư ờng của một
người lao động, một con ngưừi tín h vô'n lành đ ầ u tiên
c ủ a họ.
Phải chàng đây cũng là truyền thống d ân tộc “m áu
('háy, ruột m ềm '', là ý của P h ậ t ''dù xây chín bậc nhà đồ,
.'•'OO hằng lầm p h ú c cứu cho m ột người", của C h ú a “hãy
í hương yêu m ọi người, k ế cả kẻ th ù của ía"?
HỒ Chí M inh dã từ ng nói “T rừ bọn Việt g ia n bán
nước, trừ bọn p h ớ t x ít thự c dân, là n h ữ n g ác q u ỷ nên ta
p h ả i kiên q uyết đ á n h đ ổ (xin chú ý là Hồ C hí M inh
không dùng từ "giết sạch, g iết hết"...), đối ưới tấ t cả
ìứiững người k h á c (xin chú ý: kể cả trộm cướp, gái diếm,
buôn ỉặu...) th ì p h ả i yêu quý, k ín h trọng, gưỢng đờ. Phải
thực hành c h ữ "Bác ái."'"
Chủ ní?)iĩa n h à n vãn. nhân đạo Hồ Chí M inh được
chứng tô bàng' một Hồ Chi M inh mà “lòng thương yêu
đõ'i với nliân dỗn và n h â n loại là không bao giò th a y đổi”.
Đó chinh là k ê t q u ả của lòng tin m ã n h liệt vào sức sõng
của dân tộc, của n h â n dân, của mỗi th à n h viên xã hội (1) Hó Chi Minh. Toàn lập. tàp 5. NXB Chính trị quốc gia. 1995, Ir 644.
21
NGUYỀN VĂN KHOAN
cho dù họ khô ng m ay lầm lỗi, trở th à n h n ạ n n h à n của tọ
n ạn nào đó.
Di chúc c ủ a Hồ Chí M inh, ngoài n h ữ n g giá trị lịch sử,
chính trị... còn là một “Di chúc” vể chủ ng h ĩa n h â n vãii
của d ân tộc ta, của n h á n dân ta - m à Hồ Chí M inh là
người tiêu biểu, m ột n h à n h â n vãn h à n h động, m ột n h à
n h â n v ãn c h â n chính.
Người cũng từ n g khuyên bảo cán bộ, đ ả n g viên, n h â n
d ân ta rằ n g “Nói đi đôi với làm ”, “Một việc cụ thể còn giá
trị hơn n g à n lầ n nói suông"Đ ền đáp công ơn của Hồ Chí M inh, tro n g dịp n hắc lại
D i chúc c ủ a Người, không gì cụ th ể b ằ n g là mỗi người
ch ú n g ta, n h â n dân, đảng viên, cán bộ h ã y thực sự làm
theo lời dạy tro n g D i chúc của Người.
Và tro n g n ăm 2005 này, một việc làm th iê t thực để kỷ
niệm Người 115 m ù a Xuân, chúng t a h ã y cố gắng thực
hiện 'T h ư ơ n g nước, thương dân, thư ơng n h â n loại đau
khổ” theo tấ m lòng bác ái của Bác, tro n g hy vọng “X uân
cho cả loài người”.
22
HO CHÍ MINH
VỚI CÁC DÂN TỘC ĐỒNG NAM Á'
gày 20 th á n g 5 nàm 1924, trong t h ư gửi dồng chí
Pê-tơ-rốp, N guyễn Ái Quốc viết:
N
"Nguyên n h ă n đầu tiên g â y ra sự suy yếu của các dăn
tộc phương Đông, đó là sự đơn. độc"'". Tiếp đó, Ngưòi phân
tích nguyên nhàn: “Vỉ các dân tộc phương Đông không có
s ự quan hệ và tiếp xú c giữa các Lục đia với nhau'' nên "họ
hoàn toàn kh ô n g biết đến nhữ ng việc xả y ra ở các nưàc
lá n g giềng gần- g ũ i của họ, do đó họ thiếu s ự tin cậy lổn
nhau, s ự phối hợp h à n h động và s ự c ổ vũ lẫ n n h a u ”.
Đây là một ý kiến m à Nguyễn Ái Quốc đã “ngẫm nghĩ
t ừ lâu” và “th ấ y có trá c h nhiệm phải trìn h b ày”. Ý kiến
này được nêu lên tro n g bôì cảnh lịch sử k h i m à chủ
n gh ĩa tư bàn đ ã p h á t triể n m ạ n h mẽ ở phường Tây, khi
mà “việc tă n g th êm nh iều phương tiện tra o đổi... viộc
tìm thêm nhiều h à n g hoá đ ã đem lại cho thư ơng nghiệp,
cho nghể h à n g hải, cho công nghiệp m ột s ự p h á t dạt
chưa từ n g có và đo đấy đã dem lại m ột sự p h á t triể n
m au chóng cho yếu tố cách m ạng trong xã hội phong
kiên đang ta n r ã ”'-''.
n ^ộ'
Ouốc tể kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hố Chl Minh,
danh nhản vỗn hoá Ihẽ giới, Hà Nội, thàng 3-1990.
(1) Hó Chl Mình. Toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, 1960, tr.207. T ậ p m ó iin
nảm 1995 đã đ ô i ch ữ 'đon độc' thành "biệt lập“.
(2) Uàc • A n g e h e n - Tuy&ì íập, tập 1. Tuyên ngôn cộng sản' NXB Sự
thật. Há N ội 1970. tr.29.
23
NGIĨYẾN VẪN KHOAN
ở Việt N am v à m ột sô nước thuộc địa E)ông N am Á,
ngoài c h ế độ p h ong k iến kìm hãm còn bị ch ủ nghía thực
d â n cù xâm lược, chiếm dỏng, nơi m à “nhữ ng biên giới tư
bản chủ ngh ĩa cho đến nay ch ỉ là n h ữ n g vách tường dày
ngăn cản n h ữ n g người lao động trẽn th ế giới hiểu nhau
và thương yêu n k a u ""\ nơi m à “ch ỉ với lực lương riêriịỊ
của m in h , n ô n ^ d â n kh ô n g bao giờ trú t bò đưỢc g á n h
n ặ n g đ a n g đ è n én ftọ”® và “ch ỉ với s ự g iú p đ d của n h ữ n g
người a n h n/n b ị á p bức của m ìn h ở các nưâc c h ă u À u , họ
mới tự g iả i p h ó n g được
C hâu Âu, th eo n h ậ n xét
của N guyễn Ái Quôc, là nđi “m à đời sống hiện nay p h ụ
thuộc trước hết vào n h ữ n g trung tâ m cồng nghiệp lớn
m ạ n h và vào n h ữ n g đường gừio thônể''*'.
Rióng ở V iệt N am , “sự đơn độc” càng n ặ n g n ề hơn khi
đê quốc P h á p b ít tấ t cả những “cửa” vào, dưồng bộ,
đưòng th ủ y , c ấm n h ậ p k h ẩ u mọi sách báo tiến bộ, mọi
th ô n g tin về các trà o lưu chính t n , k inh tế, v ãn hoá, xă
hội. C húng xử tội r ấ t n ặ n g t ấ t cả n h ữ ng ai “x u ấ t dương”
không đưỢc phép của chính quyển d ù với b ấ t kỳ mục
đích nào, đe doạ n h ữ n g người có liên hộ với nước ngoài,
k h ủ n g bô”cả n h ữ n g người được chúng cho ra nước ngoài
lúc trỏ về có n h ữ n g h à n h dộng m à chính quyền gọi là
“tuyên tru y ề n k ích động”.
Trưóc N guyễn Ái Quốc, cũng đ ã có n h ữ n g mối giao
lưu v àn h o á với A n Độ, T rung Quốc, N h ậ t Bản, In-đônc-xi-a, với phương Tây, chủ yếu là Pháp, cùĩig đã có
n h ữ n g kiến nghị k h ông n ên 'Tíếquan, toả cảng” m à phải
“mỏ cửa” với v án m inh phưdng Tây. N hưng do nhiều
nguyên n h â n tác động, do bảo th ủ , định kiôVi, hoài nghi
c ủ a n h ữ n g ngưòi cầm quyền, do h à n h vi b ấ t tín, vụ lợi
c ù a đỐì tượng “m d cửa” n ên Việt N am cuối cùng v ẫn chịu
sự “đơn độc" cay đ ắ n g kéo dài.
(1). (2). (3). (4)
Hô C hlM inh,
Toàn tập. sơd, tr.115. 157, 130, 157.
24
fil ỉớ l  ồí flÙA XUẲN - ỉư rưỞNG Hổ CHÍ MINH
G ần Nguyễn Ái Quôc, Phan Bội C háu c ũ n g đã “mỏ
cửa" sang phương Đông, nhưng do sự h ạn c h ế chủ quan,
két q u ả cuôl (tùng vẫn không ''mcV' dưỢc.
Kguyẽn Ái Quốc đã ngiim nghĩ từ lảu v ấn dề này, ít
ra cũng từ khoảng nám 1904. khi đi bộ theo th â n phụ
vào Huê lần th ứ hai để h w tại Trường Quốc học íiuế.
Cho đến khi “th ấy có trách nhiệm'' phải trìn h b ày vấn để
này, Nguyễn Ái Quôc đã trải qua 20 nấm sòng, đi, thấy,
lắng nghe, học tập, ngẫm nghĩ, tư duy và tự m ình r ú t ra
k ế t luận. Cho dến năm 1924, khi p h á t biểu V kiến này,
so với ngưòi dương thời, Nguyễn Ái Quốc là m ột trong
n hữ ng ngưòi dã đi biển, đi bộ nhiều n h â t, tiếp cận với
hàng chục nước ỏ châu Âu, châu Mỹ, ch âu Phi... để có
được tầm m át mỏ rộng nhất- Theo n h ữ ng tà i liệu...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





