CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Đi tới mùa xuân tư tưởng Hồ Chí Minh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 22h:34' 15-03-2024
    Dung lượng: 2.1 MB
    Số lượt tải: 23
    Số lượt thích: 0 người
    •33T.
    /7
    TS. NGUYEN v a n KHOAN

    f t

    -

    r .

    'V *
    i

    $1
    m u ^UAN
    ^TU Tl^NG
    ] ®

    r f [
    V '
    K - ' ”

    NHA XUAT BAN THANH NIEN

    TS. NGUYỄN VẢN KHOAN

    ĐI TỚI

    MÙA WẰfị
    JƯTƯỎNG

    HỖ CHÍ MINH

    NHÀ XUẤT BẰN THANH N llN

    LỞI GIỚI THIỆU
    uổn sách các bạn có trong tay tập hợp m ột s ố bài
    viết về C hủ tịch H ồ C h i M in h của tiến s ĩ sử học
    N guyễn Văn Khoan, đ ă được công bỏ' trẽn các sách báo,
    tạ p chí, kỳ yếu hội thảo... từ nhữ ng năm 80 của th ế kỷ
    trước đến nay.

    C

    Chủ đ ề xuyên suốt công trìn h là quá trinh p h á t triển
    tư tường của m ột người Việt N a m yêu nước v ĩ đại, từ
    th u ở ấ u thơ đến k h i trưởng th à n h ra đi tim đường cứu
    nuớc, rồi trở th à n h người cộng sầ n đầu tiên của Việt
    N a m , lãnh tụ của d ã n tộc, a n h h ừ n g g iả i phóng dân tộc,
    d a n h n h â n vă n hoá t h ế giới.
    Trên cơ sở m ột tin h th ầ n yêu nước m ãnh liệt, lại nắm
    hắt được bản sắc của văn hoá d â n tộc, anh thanh niên
    N ịỉuỵễn Á i Quốc (sau này là C hủ tịch Hổ C h í M inh) đã
    ''p h á t h iện ” đ ú n g cái h a y củ a ch ả nghĩa M ác là phép
    hiọ.n chứ ng đê rồi uận d ụ n g vào h o à n cảnh Việt N a m
    m ột cách đ ầ y sá n g tạo, thúc đ ẩ y cách m ạ n g Việt N a m
    vượt qua m uôn trừ n g trở ngại, khó k h ă n đ ể không ngừng
    tiến tới.
    N guyễn Ả i Ọuôé - H ồ C hí M in h trước sau kiên trì tư
    d u y độc lập của m ìn h về m ột xã hội phương Đồng, về
    động lực cách m ạ n g của chù ngh ĩa d â n tộc. C hinh vi vậy
    m à đ ã từ n g có m ột thời g ia n dài, Người không được
    Quõ'c t ế Cộng sản ủ n g hộ. Cả đêh k h i tư tưòng của Người

    đã được thực tiễn cách m ạng uà khoa học chứ ng m in h ỉà
    đúng, N guyễn Á i Quốc - H ồ C hí M in h vẫn k h ô n g p h ả i
    không có lúc, có người tìm cách h ạ n chế, bao vãy, dùng
    đ a s ố ỉà m áp ỉực biLỘe p h ả i noi theo. N h ư n g uới bản lĩnh
    vững vàng, vâi tin h th ầ n đ ấ u tra n h kiên đ ịn h , Người
    vẫn luôn hướng tới h ạ n h p h ú c của nhân d ă n , của dân
    tộc m ìn h và m ở rộng ra cho các dân tộc bị áp hức, bóc lột
    trên toàn th ếg iớ i.
    Qua cúc bài viết, có bài th ì tương đối sâu, có bài chi
    mới là phác thảo, n h ư n g ngiứĩi đọc n h ậ n th ấ y tác g iả rất
    tâ m đắc với đ ề tài m in h ấp ả, chÁc rằng õng còn có dịp
    đi sđw hơn, viết kỷ hơn. trong thời g ia n tới về đề tài đầy
    hứ n g th ú này. Với tên sách: Đ i tở i m ô t m ù a X u â n tư
    tư ở n g H ồ C h i M in h , tác g iả k h ả n g đ ịn h lòng tin vững
    chắc của m ìn h vào th ắ n g lợi cuối cùng của cách m ạng
    Việt N a m , iúc đó, m ộ t xã hội cõng bằng, dàn. chủ, uăn
    m in h sẽ được thiết lập cho m ỗi người, m ỗi g ia đinh, cho
    cả nước, không nh ữ n g vậy còn m ở rộng ra các d â n tộc
    trên toàn t h ể giới. M à rõ ràng lòng tin đó kh ô n g c h ỉ của
    riêng tác giả, m à cũng là lòng tin của toàn t h ề chúng ta.
    X in trân trọng giới thiệu cuôh sách với b ạ n đọc rộng
    rải trong cả nứđc.
    H à Nội, th á n g 6 '2006
    Giáo sư Đ IN H XUAN LÂM

    MÙA XUÂN CÁI THIỆN, CÃI Ác
    r r ì ừ khi con người sông th à n h xã hội, T hiện và Ác
    X luôn đ ấ u tr a n h gay g ắ t vói n h au . D ân tộc nào
    c ũ n g gần như có chung một cách p h á n xét: Ác là xấu,
    T h iệ n ià tôt. Cái tôt n h ấ t định th ắ n g cái xấu. Cái Thiện
    nhâ't địn h th ắ n g cái Ác.
    Thiện và Ác được phản án h khá sâu sắc trong v ăn học
    d â n gian t h ế giới.
    Tục ngữ Đức có câu: "Cái ác tàn bạo n h ấ t là cái ác
    th ầ m lặng nhất, n h ư sự độc ác vô cùng của con chó dại”.
    Ngưồi Pháp cảnh giác: “N gọn ỉủa độc ác tưởng đ ã nguội
    rôỉ nh ư n g thư ờ ng lạ i đ a n g ngủ trong đống tro". D anh
    ngôn
    tin h n h ắ c nhở: “Ác là m ột cơn g iậ n ch ỉ chờ dịp
    Irỏ thù". Đ ánh giá sức m ạnh, nhà văn Pháp Alphonse
    D au d et p h á t hiện rằng; “Độc ác là cơn th ịn h nộ của
    nhữ ng kẻ yếu hèn".
    ò nước ta, n h à n dân thường nhác đến hai câu đầu
    c-ủa sách Tam tự kinh (Kình ba chữ) của T ru n g Quôc,
    Nho giáo cổ: N h ã n chi sơ. tĩnh, bản íh iện (Con người mối
    sinh vốn iành). N hưng n h â n dân lại ít nói đến câu tiếp:
    T ín h tương cận, tập tương viễn (Ý nói do thói quen của
    xã hội làm cho mỗi ngày mỗi xa đức thiện).
    C) Tạp chi Nhà báo vá công luận số Xuân 1992.

    7

    NGUYỄN VAN khoan
    35 n ăm trướo, năm ỉ 956, tạ i trường Đại học N h ân
    d â n H à Nội, C hủ tịch Hồ C hí M inh nói: "N hà nước lo
    ỉà m cho n h â n dăn, trước k ế t là n h â n dàn lao động, ngày
    càng tiến bộ về vật chất và tin h thần, làm cho trong xã
    hội kh ô n g có người hóc lột ngưỉÂ, th ế là Thiện. Mỗi người
    ch ú n g ta nên h ết lòng p h ụ n g s ự T ổ quốc, p h ạ c vụ n h â n
    dân, th ế là Thiện. Nếu. ch ỉ lo lợi ích của m inh, không lo
    đến lợi ích chung của nước nhà, của dân tộc, íhê là Ac.
    N ếu p h ạ m p h ả i q u a n lỉéu, m ện h lệìih, thxiTn ô, lười
    biếng, th ế là Ác”.
    Ngưòi nói tiếp:
    B ả n th ầ n ch ú n g ta đều ả n h hưởng của x ã hội củ
    hoặc nhiều hoặc ít. Cho nên trong mồi người ch ú n g ta
    nhờ sự g iú p đỡ, giáo dục của Đ ảng, của chinh p h ủ , sự cô
    g ắ n g học tập và cải tạo... th i cái Á c trong m in h ch ú n g ta
    ngày càng bớt, cái T h iện ngày càng tă n ể '.
    Theo lời dạy và cũng là điều mong mỏi của C hủ tịch
    Hồ Chí M inh, cái T hiện phải có từ mỗi con người là ông
    bà, c h a mẹ, là a n h chị, là con cháu của mọi nh à. Cái
    T hiện n h ư tâ'm gương trong, p h ả i t ừ mồi “đầy tó n h â n
    d ân ” lã n h đạo, q u ả n lý cao n h ấ t của mỗi cộng đồng, mỗi
    n hà nước, chính p h ủ , đoàn th ể “xuóng” đến người th ấ p
    n h ấ t tro n g bộ m áy đó.
    Cái T hiện của mỗi người, mỗi gia đình - tế b à o của xã
    hội - mỗi tậ p th ể ngưòi, mỗi quôc gia sẽ đóng góp chung
    vào cái T hiện của D ất - Trơi, của n h ả n loại.
    12 n àm sau, vào th á n g 6 n ăm 1968, trong khi tra o đổi
    với m ột sô'cán bộ p h ụ trách x u ấ t b ản loại sách Ngưìii tốt,
    việc tối (có th ể hiểu là người T hiện, việc Thiện?), C hủ
    tịch Hồ C hí Minh n h ắc nhủ: "M ỗi người đều có cái Thiện
    DÒ Á c Ồ trong lòng. Ta p h ả i biết là m sao cho p h ầ n tốt ở
    8

    Đ I IƠ IM Õ I t t ì l A y U Ã N - l ư l ư Ỡ N i; tìô C H Í M IN H

    trnng m ỗi con người n ẩ y nờ n h ư hoa m ù a xu â n và p h ầ n
    xấ u m ấ t d ầ n đi. Đó là th á i độ của người Cách m a n ¿ '.
    SôVig với điểu Thiện là trồng thèm nhiều cây hoa cho
    quà n g ọ t vào Vườn Xuân. Cuộc Đời dược thắm , đồng thời
    h ạn c h ế bốt đi những cỏ ác sinh sôi, nảy nỏ...
    Dưi^c như vậy, cái ác xấu xa, bần tiện, đê hèn, ghê tởm
    như c á i gai b ẩn ìàni thối da thịt, như nhọt ung th ư hoại
    tử cứ thổ, n h ư rắn độc trong tim, trong nhà, như sói ỉang
    trong làng, trong xóm sẽ không cỏn “đất” m à tồn tại.
    35 Tiăm. nhác lại nhũ n g mong ước diều Thiện cho dân,
    cho nưâc của Bác Hổ muôn vàn kính yôu, nhán Xuân mới
    N hâm Thân (1992) này, xin mỏi chúng ta, mỗi gia đình
    treo cho một câu đôì trong lòng ta và trong n hà ta:
    X u â n mới, người người trồng hoa Thiện
    Tết vé, chốn chốn diệt ác lang.

    ĐI TỚỊ MỘT MÙA XUÂN
    TƯTUỬNG HỒ CHÍ M INH"
    Một cây cổ th ụ trăm năm tuổi trong rừ n g đại ngàn đã
    tìm thấy, đưỢc “đ á n h dấu” mói hơn m ột m ù a xuân.
    Bám rỗ s â u trong đất, h ú t nước m ạch nguồn, tiếp
    nhận p h ầ n sá n g bôn hướng m ặ t tròi, toẵ bóng che khi
    nắng cháy, cỉỡ gió lúc trời giông, cây đại th ụ ấ y đã nảy
    mầm sông cho bao nhiêu !ằ, oành, hoa, trái.
    Giữa n h ũ n g tiếng bom dạn của v ẳn m inh, hiện đại, mù
    m ịt góc trôi vùng Vịnh, theo những dòng nưốc m át nôi dài
    mãi của các bà mẹ ỏ những miền đ ấ t một thời yên lành
    nay nổi sóng sắc tộc, con ngưííi lại hướng về miệt vưòn
    Việt Nam - Hồ Chí M inh - gửi gắm yên tĩn h của lương tri,
    bằng a n của tâ m hồn, hy vọng cùa hoà hợp.
    Cây đại Ih ụ tư tưởng Hồ Chí M inh trong m iệt vườn
    xanh ấy đã có những quả ngọt đ ầu mùa.
    Còn k h á đống người chưa đôn được vối gốc cây. Có
    ngưòi, chân đứng dưới bóng m á t của cây mà tâm thì như
    bẻ cành b ằ n g h à n h động b ấ t n h â n nghĩa, vô lương tâm.
    ước mong c ủ a nhiều người khác m uôn tìm hiểu cội
    nfîuon cây hiếm quý đó mà chưa có diều kiện.
    Đầu Xuân, nên chăng, hãy h à n h hương về cuộc sống
    hàng ngày của mình, tới cây phúc, lộc, thọ, khang, ninh ấy.
    Cuộc đi tới một m ù a Xuân cho ta và còn có thể là cho
    cả láng giềng, bẽ bạn...
    C)Tạp chl Nhà bão và công luận số tháng 1-1993.

    10

    vì MỘT MÙA XUÂN CHO
    TRIỆU TRIỆU CŨN N G Ư ãl'
    Từ năm 1883, các cường quôc ch âu Âu và châu Mỹ đã
    d ẩy b á n h xc ch ủ ngh ĩa thực dân di thêm những chặng
    đưòng mối. N ăm 1885, việc p h â n chia thuộc dịa ở châu
    l'hi d ã hoàn tấ t. N ăm 1918 v à tiếp sâu dó với Hiệp ưốc
    Véc-xây nàm 1919, n h ữ ng p h ầ n đ ấ t cùa ch âu Á, châu
    Úc và châu Đại Dương còn lại cũng đà được “xí phần"
    đ ầy đủ,
    Năm 1900, th ế giới bước vào th ế kỷ XX với hàng trăm dàn
    tộc bị áp bức và trên 100 nưốc thuộc dịa với sô' dân khoảng
    800 triệu ngưòi, chiếm gần 70% dân sô”toàn th ế giới,
    Trong điều kiện t h ế giới ỉúc dó, Mác và Ảng -ghen
    chưa th ể n h ậ n sứ m ệnh giải quyết vấn để thuộc địa.
    N àm 1851. Mác mâi có được một số thông tin í t ỏi VỂ “xứ
    lìắc Kỷ và N am K ỳ'. Ả ng-ghen chỉ hai lần để cập đến
    Đông Bương vào năm 1895 và 1896. Ivê-nin, trước sau có
    bốn lầ n nói đến vùng đ ấ t hình ch ữ s này, lần đ ầu vào
    nám 1905, lần cuòi vào nãm 1916.
    Năm 1919. trong Tuyên ngôn th à n h lập Quốc tế TII, có
    một câu: “Công nhân uà nâng dân không những ở An
    N am , An-giê-ri, Ben-gan m à cả ở Ba-tư, Ac-mê-ni-a... chỉ
    có th ể già n h được độc lập kh i m à công nhân nước A n h và
    Pháp lật đ ổ chinh quyền nhà nước fào tay minh".
    C) Bào S ài Gỏn gĩẻì phóng, s ố ngày 29-Ô-1993.

    11

    NGUYỄN VẪN KHOAN
    Tiến sỹ p h á p lý Mỹ La tin h De S téphano cho ràng:
    "Cho tới lúc đó, chư a từ n g có m ột a i của các d ă n tộc áfì
    bức đ ả lên á n nhiều lần s ự bóc lột các d â n tộc thuộc đ ịa
    n h ư Nguyễn- Ả i Quốc". M auricc Thorez? - Tổng Bí th ư
    Đ ảng Cộng sản P h á p công n h ậ n rằng; "Chi có Hồ C hi
    M in h là người d u y n h ấ t có trinh độ tư d u y về vấn để
    (thuộc địa) náy".
    Con người nhỏ bé về th â n hình, vĩ d ạ i trong tư duy là
    Nguyễn Ái Quốc đ ă tìn h nguyện chấp n h ậ n sứ m ệnh m à
    lịch sử đà giao cho.
    Vượt qua bao nhiêu khó khăn, tr ă n trỏ, chịu đựng lời
    trách của P h a n C hâu Trinh: "Tôi (Phan C hâu Trinh)
    không thích chính sách “ngoạ ngoại chiêu hiền, đãi thời
    đột nội”'” c ủ a a n h (Nguyễn Ái Quốc), nhưng v ẫn kỳ vọng
    rà n g việc lớn chi còn trông cậy vào a n h m à thôi”. Các
    đồng chí th á m niên trong phong trà o cộng sản, công
    n h â n khô n g p h ải t ấ t cả đều tá n th à n h tư tưởng của
    Nguyễn Ái Quốc. Các dồng chí trong nước, k ể cả những
    ngưdi hôm q u a còn là học trò của lớp h u ấ n luyện Q uảng
    Châu, cũng đã có ngưòi này nghe người khác “không
    đồng tìn h với phương pháp cách m ạng của Nguyễn Ái
    Quôc”, th ậ m chí còn phê phán quyết liệt...
    Sự hi s in h của Bác th âm trầm , sâ u lắng, để cho ch ú ng
    ta có lúc n ghĩ lại th ấ y day dứt.
    Mong ước của Bác là dem [ại h ạ n h phúc cho con người
    của mọi d ần tộc. N gay cả những đôi tưựng đ ấu tra n h của
    Iihân dồii Việt N am cũng đã nói: "Cụ ỈIỒ không có kủ
    th ù ”. Người châu Mỹ La tin h r ấ t sòng p h ẳn g cho rằng:
    “Lịch sử đ ã chứ ng m in h nhữ ng n h â n vậ t vĩ đ ạ i đều có kẻ
    gièm ph a , n h ư n g trong trường hỢp H ồ C h i M inh th i
    Ngói ă nuỡc ngoài, clìièu m ộ người là i giỏì, (điờ

    núòc.
    12

    thời th ế trỏ vé đáì

    ữ\ l ứ l M Ổ Ỉ t t Ù A X U Ả N - ỉ ư ĩ ư ở f j G

    tiồ

    C fjÍM íN H

    kh ô n g n h ié ù '. Ngưòi N hật Bản cõng n h ậ n rằng:
    C hí
    M in h là nhăn vật d u y n h ấ t (1 N h ậ t B án m à từ kh i người
    N h ậ t biết đến vần g iữ nguyên được h in h ả n h của Người
    trong lòng m in h '\
    Cho dến nãm 1975, khi m ùa Xuân trọn vẹn đã vể vói
    Viột Nam, sau khi Chủ tịch Hồ Chí M inh đã di vào lịch
    sử, theo thôVig kẽ của Liên HỢp quôc, tre n thc^ giối này
    chì có “70 triệu d â n còn bị nô lệ, hệ thống thuộc địa cơ
    bản đả bị thủ tiỀu'\ N hư vậy lằ trong thô^ kỷ XX, hàng
    tră m triộu con người trong các nước thuộc địa đẵ đưỢc
    giải phóng» đă biôt có m ùa Xuân cho mình, cho dân tộc
    mình. Các n h à lịch sử ch ân chính đổu n h ấ t trí đ á n h giá:
    ''Sự g iả i phó n g các dân tộc thuộc địa trong th ế kỳ X X là
    m ột trong nhữ ng sự kiện vĩ đ ạ i nhất, kh ô n g thê không
    công n h ậ n sự đóng góp to lớn của Hồ C hí M inh".
    Vì vậy, tổ chức UNESCO của Liên Hợp quốc đâ công
    nhận Hồ Chí M inh là một '^biểu tượng kiệt xu ấ t về lòng
    quyết tâm của m ột dân tộc... đả góp p h ầ n vào cuộc đàu
    trũnh chung của các dân tộc vi hoà bỉnh, độc lập dân tộc,
    (lân chủ oà tiến bó xã k ô r .

    13

    MÙA XUÂN VÀ HAI CHỮ "DÓNG BÀO
    THEO Ý CỤ HỔ

    §f

    Các n hà “Hồ C hí M in h học” cho rằ n g a n h N guyễn T ất
    T h à n h đưỢc nghe h a i ch ữ đồng bào khi a n h đ a n g theo
    học năm th ứ hai tạ i T n íò n g Quôc học Huế.
    N ăm ấy, nông d â n m iền T ru n g nổi dậy, chông sưu
    thuế, rầm rậ p đi biểu tìn h , đòi quyền lợi... Để tỏ tình
    đoàn kết n h ấ t trí, họ đ ều c ắ t tóc ngắn và gọi n h a u là
    đồng bào“'.
    Trước ngày đi r a b ên ngoài, xem nước P h áp và các
    nước khác, N guyễn T ấ t T h à n h đâ xác địn h mục đích là
    sẽ trỏ vể giúp đổng bào ch ú n g ta...
    Vôn k iến thức c h ũ H á n dã giúp a n h th a n h niên
    T h à n h hiểu rằ n g n g h ĩa h ẹp c ủ a đồng bào là con chung
    một lòng cha, một lòng mẹ đẻ ra. Theo ng hĩa rộng thì
    Tròi là cha lớn, Đ ấ t là mẹ lớn, tấ t cả loài người là con
    chung một bọc mà ra , n ê n có câu nói rằ n g “B ốn b ể đồng
    bào, th ế giới đồng bào"'''-'.
    Trong thời gian h o ạ t động học tập làm ch ín h trị ở
    Pháp, n h ữ n g năm 20 c ủ a t h ế kỷ XX - a n h T h à n h bấy giờ
    có tên ià N guyễn Ái Quõc - đ ã phán biệt dưỢc t h ế giới chỉ
    (1) Trần Dản Tiên, Nhũng m ẩu chuyện vê ổòi hoạt động của Hó Chủ
    tịch. NXB Vén học, Hà Nội. 1969, tr'ó.
    (2) Đào Duy Anh. Hàn - Việt từ điền, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
    1992, tr.302.

    14

    Cl ìứl

    m m XUẢN • iư ỈUỦNG fjố mMINH

    có hai loại người: loại đi bóc lột và loại bị bốc lột. Nguyễn
    Ái Quốc q u a n niệm rà n g n h â n d ân lao động, trong th ế
    kỷ XX bị bọn đê quốc thực d â n á p bức bóc lột thì d ù màu
    da, tiếng nói có khác n h au , n h ư ng dều là ruộ t thịt.
    Q uan san m uôn d ặ m m ội nhà
    Bôn phương vô sả n đều là anh em...
    A n h em cùng một bào th a i sinh ra, đổng bào cùng
    một bọc sin h ra...
    Bao nhiêu n âm lưu lạc ở nưốc ngoài, Nguyễn Ái Quốc
    vẩn ngày đêm mong được trở lại sôVig trong tìn h yêu Tổ
    quốc, nghĩa n ặ n g đồng bào..., n h ư con chim Việt khi đậu
    trê n càn h cây bao giò cũng quay đầu về phía Nam...
    N guyễn Ái Quốc đã từ ng viết th ư nhò một đồng bào có
    tin gì mới m ách cho biết. Người cũng đà bao lần thưa đồng
    bào trong xã, trong huyện, đồng bào cả nước... Đốì với
    nhân dân lao động các nước bạn, Người cho rằn g đồng bào:
    Lọ là thân th iết ruột rà
    Vì theo Ngưòi:
    Công nông t h ế giới đều là anh em...
    ... N ước xa m à lòng không xa,
    T h ậ t là bầu bạn, th ậ t là a n h em...
    M ù a x u á n đô) với C hủ tịch Hồ C hí M inh là m ù a xuân,
    xuân cả t h ế gian. Cho dù:
    Q u a n san xa cách, tin h th ầ n không xa
    Và nếu;
    N g à n trùng nước biếc non xanh
    Người vẫn:
    Gửi trao nước bạn m ối tìn h anh em
    H oặc:

    ... M ối tinh hữ u nghị sắ t son.
    S ô n g có th ể cạn,
    15

    NGƯYẾN VĂN KHOAN

    N ú i có thê mòn,
    T inh thần đoàn kết dài còn m uôn thu...
    T h ậ t là khó hiểu mà cũng cỉễ hiểu thôi, khi Chủ tịch
    Hồ Chí M inh th ân ái kêu gọi đồng bào I-{oa kiểu ỏ trê n
    đ ấ t Việt N am là an h em láng giềng, T ru n g Quốc, Việt
    N am vôn là người cùng một nh à, cám ơn đồng bào tín đồ
    P h ậ t giáo, lại trở nên b ạn bè th â n th iế t với người Mỹ
    s . P h en như an h em một nhà.'"
    Trong một lần gặp gỡ với cán bộ quân đội, Người c6 nói:
    Giải thích cho đồng bào địa chủ hiểu quy lu ậ t p h á t triển
    của lỊch sử là chế độ phong kiến sỗ không còn tồn tạị...
    Đấy là Người đã hiểu chữ “đồng bào” của th á n h hiền
    theo nghĩa rộng. Không phải chỉ hiểu để b iết m à Kgưòi
    còn thực hiện, còn thực hành... Và thực tiễn thòi dại đã
    chứng m inh rằ n g Ngưòi đúng.
    Sau h à n g trăm nám bị nỏ lộ, n h â n d ân lao động các
    nước châu Á, châu Phi... đã bẻ gãy gông xiềng của thực
    dân, bước đ ầu đi vào kỷ nguyên độc lập d ân tộc... T hế
    nhưng, n hữ ng năm g ần đây, ỏ ch âu Á, ch âu p h i và ngay
    cả ch âu Âu, con quỉ ám sắc tộc đã gieo rắc bao nhiêu hận
    th ù trong tr á i tim con người mổi hôm qua còn là anh em,
    đồng bào của nhau...
    Q uan điểm, lòng mong mỏi của Cụ Hồ là mong sao mỗi
    n ăm xuân về không chỉ riêng cho ai m à cho t ấ t cả th ế gian
    này, cho t ấ t cả bốn phương vô sản a n h em, cho bốh bể
    đồng bào... Thực hiện đưỢc hai chữ đồng bào ấy, theoý Cụ
    Hổ phải chăng là mùa xuân n h â n loại đã dên? P h ải chăng
    là hy vọng cho mọi thời đại s a u Hồ Chí Minh?
    (1) s. Phen, Phàc thảo tiểu sử H ó Chi Minh, NXB studio Vesta, London.
    1973, trSO.

    16

    DI CHÚC BÁC HỔ > MỘT NÉT TƯTƯỬNG
    NHÂN VẦN HỔ CHÍ MINH
    TRONG MỘT "M ÙA XUÂN NHÂN LOẠI"'
    m



    “T rong lịch sử n h â n loại, từ xưa đến nay, đẫ có nhiều
    học thuyôt, tư tương dể cập tói Siố phận con ngưòi, phản
    á n h tâ m tư, nguyộn vọng của con ngưòi muôVi được giải
    toả khỏi những h ạ n chê" rà n g buộc của tự nhiên, xă hội
    và c ủ a b ản th â n con ngưòi. Đó chính là tư tưởng, nhân
    vãn , n h â n dạo được th ổ hiện ở những múc dộ, trìn h độ
    k hác n h au , tiếp cận từ n h ữ ng giác ngộ khác nhau^'^*'.
    S in h ra và lớn lên trong một đất nưổc văn hiên, đã
    từ n g “L áý c h í nhăn đê thay cường b ạ ò \ với một cộng
    dồng dân cư từ ngàn năm đã biết ^'Thương người n h ư thê
    thư ơ ng th â r í\ từ ng lưu tru y ền qua bao nhiêu th ế hệ
    rằ n g
    ơi thương lấy b í cũng, tu y rằng khác giỏng
    n h ư n g chung m ột g ừ irí\ cậu bó Nguyễn Sinh Cung N guyễn T ất T h àn h không nhữ ng chỉ tiêp n h ậ n những
    yêu tổ^ n h â n đạo, nhân vãn ấy q ua lòi ru của bà, của mọ,
    trong nhữ ng hội hè h ấ t phường v«ải m à còn cả trong sách
    vỏ của tiền nhân.
    Ợ) Tham luận Ịại H ội nghị khoa học vể thực hiện D i chúc của Bàc Hó,
    Hà Nội, 2004.
    (1) Võ Nguyên Giáp. Tư tưỏng Hỗ Chi Minh và con đường cách mạng
    Việt Nam. NXB Chinh trị quỗc gia, 1997, tr 227,
    2-DTMX

    17

    NGUYÊN VĂN KHOAN

    Không chịu cảnh sống nô lệ cùa bản th ân , cùa gia
    đình, đồng bào, Tổ quôc, N guyễn T ấ t T h àn h dã ra đi tìm
    cách cứu nước. H ành tr ìn h q u a mấy đại dương châu lục
    đã đúc kết cho a n h thuỷ th ủ V ăn Ra nhận xét: “Trên thê
    giới này ch ỉ có hai h ạ n g người: đ i bóc lột và bị bóc lột",
    “ớ đâu có đ ế quốc thực d â n ở đ ấ y n h á n dân còn đau kh ố '.
    N ghiên cứu chủ n ghĩa Mác, Nguyễn Ái Quốc nh ìn
    th ấy rõ và trưổc h ế t là ch ủ ngh ĩa Mác m ang tín h n h â n
    văn cao cả nhàm giải phóng con người, là một “chủ
    nghĩa n h ả n đạo hiện thực".
    Đi theo con đưồng m à chủ nghĩa Mác - Lê-nin dă
    vạch ra, Nguyễn Ái Quốc - Hồ C hí Minh đã k ế th ừ a được
    n hữ ng giá trị tư tưông của v àn hoá, n h â n vãn tru y ền
    thốhg Việt N am và cả n h ữ n g tin h hoa văn hoá, n h â n
    vẳn của n h â n loại để giải quyết và dáp ứng yêu cầu về
    vãn hoá, n h â n văn của d â n tộc... Và Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí M inh, trong q uá tr ìn h h o ạ t dộng cách m ạng cùa
    m ình đ ã n êu một tấ m gương sáng, tiêu biểu nhả't cho
    chủ nghĩa n h â n đạo, n h â n v ăn mác xít Việt Nam.
    Từ tư tưởng “Không cần th iế t không ra quân”, luôn
    luôn tra n h th ủ giữ gìn h oà bình, trá n h khiêu khích đôi
    phương, “g iả m đại s ự xuống tru n g sự, rồi tiểu sự đê vô
    s ự \ trá n h cho quần c h ú n g m ột cuộc chiến tra n h , Hồ Chí
    M inh ch ủ trương “còn nước còn tát" để khỏi phải cầm
    súng. N hưng khi kẻ th ù đã chà đạp lên công lý, lên danh
    dự dán tộc, đã vác đao kiếm vào nhà chém giết dân lành
    thì việc “động binh” dể cứu n h â n dân đau khổ... là một
    ứng xử n h â n đạo, vì đa sô' người chông lại số í t ngưòi.
    T ín h c h ấ t chiến dấu trong chiến tra n h giải pbóng dân
    tộc Việt N am không bao giờ bao hàm ý địn h h à n h động
    “hiếu sá t”, Khi kẻ th ừ đã h ạ vũ khí, n hữ ng con cháu,
    b inh sĩ, n h â n dân của Cụ Hồ đ ã cho họ cơm á n áo mặc,
    18

    Cl lổi

    ÄÖI ftiiÄ ï m

    ■Iư

    luỡN s HÔCHÍ ầ\m

    cho họ hiểu biê't, chỉ cho họ con đưòng về vởi gia dỉnh,
    cho họ m ạng sòng và h ạ n h phúc - như xa xưa đả từng
    sửa dưòng cấp gạo cho quân xâm lược phưdng Bắc th u a
    trộ n trỏ vể dể mong mỏi “muôn đòi tắ t chiến tra n h ”.
    T rong raột hội nghị của ngành T ư pháp Việt Nam m ột cơ quan mà không í t cán bộ nghĩ rằ n g làm tư pháp,
    h à n h pháp, quan toà, tr ạ i giam là p h ải trừ ng trị - Hồ
    Chí M inh lại nói; “N g h ĩ cho cùng, m ọi vấn đề... là vấn đề
    ở cỉời i)à làm người, ớ đời và làm người là p h ả i thương
    nưôc, thương dân, thương nhân loại đau k h ổ bị áp
    bức"'"- Đây là “triế t lý” sông của Hồ C hí M inh, là tấm
    lòng thương ngưòi hết sức rộng rài, sâu sắc, thực lòng,
    toàn diện của Hồ Chí M inh với mọi kiếp con người...
    Trong suôt cuộc ddi của mình, Người đã chia sẻ mẩu
    b á n h mì ít ỏi kiếm được trong ngày với một em bé da
    (len, đã khóc trà n nưóc m ắ t khi một th a n h niên người
    nước ngoài vì mình m à m ang hoạ, Người đã dành bát
    cơm trắ n g cho ngưòi già Cao Bang, còn m ình bưng bát
    (!ơin ngó. Thấy một tù binh rét, Ngưồi đà cỗi áo â'm mình
    (íang mặc khoác cho a n h ta, coi "anh m ặc cũng như tôi
    m ặc...''. Người lo sao cho em bé mồ côi có đưỢc nơi nương
    tựji, các cụ già không bị h ắ t hủi lúc x ế chiều. Ngưòi lo
    lừng viên thuốc, h ạ t gạo, chiếc guốc đi, “cái con c h ữ ' cho
    (lồng bào ít ngưừi...
    Cho đến th á n g 5 năm 1965, biết m ình sắp đi gặp “Cụ
    Các Mác - cụ L ê-nin”, Hồ Chí Minh đã viết đi viết lại
    bản D ì chúc.
    Bản bổ sung vào trưốc ngày 10 th á n g 5 n ăm 1969, Hồ
    Chí M inh đã viết thèm mấy điểm không đi sâu vào chi
    tiết như sau:
    (1) H6 Chi Minh. Nhà nước và pháp luật, NXB Pháp lý, H, 1990. tr174.

    19

    nguyẻnv An khoan

    “Đ ầu tiê n là công việc đối với con người”. “Con người"
    tro n g Di ch úc c ủ a Hồ C hí M inh là “n h ữ ng ngưòi đã dũnK
    càm hy s in h ”, là “các liệt s ĩ', là “cha mẹ, vợ con củn
    thư ơng b in h liệt s ĩ', ỉà “các chiến sĩ trẻ trong lực lượn^
    vũ tra n g , t h a n h niên xung phong”. Hồ C hủ tịch yêu cầu:
    “Đ ảng, C h ín h p h ủ , đồng hào p h ả i tim m ọi cách làm cho
    họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, m ở lớp d ạ y nghề, x ă y dựtiịỉ
    vườn hoa và bia k ỷ niệm ghi s ự hy sin h a n h d ũ n g đè đời
    đời giáo d ụ c tin h th ầ n yêu nước cho n h â n dân... g iú p đờ
    họ có công việc là m á n thích hỢp, q uyết không đê họ bị
    đói rét... chọn m ộ t s ố ư u tú n h ấ t (trong lớp chiến s ĩ trẻ và
    th a n h n iên x u n g phorìỂ) đ i học thèm các ngành, các
    ngkể... đ ể đ à o tạo th à n h đội quăn ch ả lực trong công
    cuộc xâ y d ự n g th ắ n g lợi chủ ngh ĩa xã hội ở nước ta...""'
    Đòì với p h ụ nữ Việt Nam, Hồ Chí Minh đã d à n h riông
    cho giối n ày những lòi lõ rá t n h â n ái, sâu sắc, xúc động:
    “Trong s ự nghiệp chống Mỹ cứu nưởc, p h ụ n ữ đ ả m đang
    ta đ ã gỏp p h ẩ n xứng đáng trong chiên đấu và trong sản
    xuất". "Đàng và C hinh p h ủ cần p h ả i có k ể hoạch thiết thực
    đê bồi dưởng, cất nhắc và giúp đ ỡ đê riỂàỵ thêm nhiều p h ụ
    n ữ p h ụ trách m ọi công việc k ể cả công việc lã n h đạo... B ản
    th á n p h ụ n ữ th ì p h ả i c ố gắng vươn Un. Đó là m ột cuộc
    cách m ạ n g đ ư a đến quyền binh đẳng thật s ự cho p h ụ nữ '.
    P h ầ n cuốỉ cùng về “đầu tiôn là công việc đôi vối con
    ngưòi”, C h ủ tịc h Hồ Chí M inh dà đề cập tối n hữ ng số'
    p h ậ n bị k h ô n g ít người coi là “cận bã xà hội''- Hồ Chí
    M inh viết; "Đối với những nạn n h â n của chê độ xã hội
    củ n h ư trộ m cắp, g á i điếm, cờ bạc, buôn lậu... th i N h à
    nước p h ả i d ù n g uừa giáo dục, oừa p h á p lu ậ t đ ể cải tạo
    họ, g iú p h ọ tr ở nên n h ữ n g người lao động lương th iệ n .”'^
    (1) Bút th h D i chú c của Chõ tịch Hỗ C hl Minh. NXB Chinh trị quốc gia.
    1995. tr42 .
    (2) Sđd. tr 42.

    20

    ĐIĨỚI m m XUẢN-ỈƯÌƯỞNG fiổ m m w
    ở dây cần lưu ý dến mấv quan niệm của Hồ Chí Minh;
    1. Hồ Chí M in h thường nói: “Con người sin h r a tín h
    vô”n lành, vôn thiện". N hững thói h ư tậ t xấu là do xâ hội
    cũ gây nên, chĩ m ột p h ầ n là do b àn th â n con ngưòi đó.
    N hưng Mồ C hí M inh không chu họ hoàn toàn là n h ữ ng
    kẻ tự ý, tự m ình gây ra, mà coi họ là n ạ n n h ân , là người
    không inay mắc nạn, m à nguyên n h â n chính, kẻ chủ
    mưu chính, k ẻ gây ra chủ yếu là chê" độ xấu xa cũ...
    2. Trái với ý đ ịnh “trừ n g trị là trước h ế t”, Hồ Chí
    M inh chủ trưcíng vừa giáo dục, vừa câi tạo, đ ặ t giáo dục
    lên trê n việc d ù n g p h á p lu ậ t, để họ không “ngựa quen
    đường cũ'* m à “giúp họ trỏ nên một con người lương
    th iện ”, giúp trà ho về đòi sốiig bình thư ờng của một
    người lao động, một con ngưừi tín h vô'n lành đ ầ u tiên
    c ủ a họ.
    Phải chàng đây cũng là truyền thống d ân tộc “m áu
    ('háy, ruột m ềm '', là ý của P h ậ t ''dù xây chín bậc nhà đồ,
    .'•'OO hằng lầm p h ú c cứu cho m ột người", của C h ú a “hãy
    í hương yêu m ọi người, k ế cả kẻ th ù của ía"?
    HỒ Chí M inh dã từ ng nói “T rừ bọn Việt g ia n bán
    nước, trừ bọn p h ớ t x ít thự c dân, là n h ữ n g ác q u ỷ nên ta
    p h ả i kiên q uyết đ á n h đ ổ (xin chú ý là Hồ C hí M inh
    không dùng từ "giết sạch, g iết hết"...), đối ưới tấ t cả
    ìứiững người k h á c (xin chú ý: kể cả trộm cướp, gái diếm,
    buôn ỉặu...) th ì p h ả i yêu quý, k ín h trọng, gưỢng đờ. Phải
    thực hành c h ữ "Bác ái."'"
    Chủ ní?)iĩa n h à n vãn. nhân đạo Hồ Chí M inh được
    chứng tô bàng' một Hồ Chi M inh mà “lòng thương yêu
    đõ'i với nliân dỗn và n h â n loại là không bao giò th a y đổi”.
    Đó chinh là k ê t q u ả của lòng tin m ã n h liệt vào sức sõng
    của dân tộc, của n h â n dân, của mỗi th à n h viên xã hội (1) Hó Chi Minh. Toàn lập. tàp 5. NXB Chính trị quốc gia. 1995, Ir 644.

    21

    NGUYỀN VĂN KHOAN

    cho dù họ khô ng m ay lầm lỗi, trở th à n h n ạ n n h à n của tọ
    n ạn nào đó.
    Di chúc c ủ a Hồ Chí M inh, ngoài n h ữ n g giá trị lịch sử,
    chính trị... còn là một “Di chúc” vể chủ ng h ĩa n h â n vãii
    của d ân tộc ta, của n h á n dân ta - m à Hồ Chí M inh là
    người tiêu biểu, m ột n h à n h â n vãn h à n h động, m ột n h à
    n h â n v ãn c h â n chính.
    Người cũng từ n g khuyên bảo cán bộ, đ ả n g viên, n h â n
    d ân ta rằ n g “Nói đi đôi với làm ”, “Một việc cụ thể còn giá
    trị hơn n g à n lầ n nói suông"Đ ền đáp công ơn của Hồ Chí M inh, tro n g dịp n hắc lại
    D i chúc c ủ a Người, không gì cụ th ể b ằ n g là mỗi người
    ch ú n g ta, n h â n dân, đảng viên, cán bộ h ã y thực sự làm
    theo lời dạy tro n g D i chúc của Người.
    Và tro n g n ăm 2005 này, một việc làm th iê t thực để kỷ
    niệm Người 115 m ù a Xuân, chúng t a h ã y cố gắng thực
    hiện 'T h ư ơ n g nước, thương dân, thư ơng n h â n loại đau
    khổ” theo tấ m lòng bác ái của Bác, tro n g hy vọng “X uân
    cho cả loài người”.

    22

    HO CHÍ MINH
    VỚI CÁC DÂN TỘC ĐỒNG NAM Á'
    gày 20 th á n g 5 nàm 1924, trong t h ư gửi dồng chí
    Pê-tơ-rốp, N guyễn Ái Quốc viết:

    N

    "Nguyên n h ă n đầu tiên g â y ra sự suy yếu của các dăn
    tộc phương Đông, đó là sự đơn. độc"'". Tiếp đó, Ngưòi phân
    tích nguyên nhàn: “Vỉ các dân tộc phương Đông không có
    s ự quan hệ và tiếp xú c giữa các Lục đia với nhau'' nên "họ
    hoàn toàn kh ô n g biết đến nhữ ng việc xả y ra ở các nưàc
    lá n g giềng gần- g ũ i của họ, do đó họ thiếu s ự tin cậy lổn
    nhau, s ự phối hợp h à n h động và s ự c ổ vũ lẫ n n h a u ”.
    Đây là một ý kiến m à Nguyễn Ái Quốc đã “ngẫm nghĩ
    t ừ lâu” và “th ấ y có trá c h nhiệm phải trìn h b ày”. Ý kiến
    này được nêu lên tro n g bôì cảnh lịch sử k h i m à chủ
    n gh ĩa tư bàn đ ã p h á t triể n m ạ n h mẽ ở phường Tây, khi
    mà “việc tă n g th êm nh iều phương tiện tra o đổi... viộc
    tìm thêm nhiều h à n g hoá đ ã đem lại cho thư ơng nghiệp,
    cho nghể h à n g hải, cho công nghiệp m ột s ự p h á t dạt
    chưa từ n g có và đo đấy đã dem lại m ột sự p h á t triể n
    m au chóng cho yếu tố cách m ạng trong xã hội phong
    kiên đang ta n r ã ”'-''.
    n ^ộ'

    Ouốc tể kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hố Chl Minh,
    danh nhản vỗn hoá Ihẽ giới, Hà Nội, thàng 3-1990.
    (1) Hó Chl Mình. Toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, 1960, tr.207. T ậ p m ó iin
    nảm 1995 đã đ ô i ch ữ 'đon độc' thành "biệt lập“.
    (2) Uàc • A n g e h e n - Tuy&ì íập, tập 1. Tuyên ngôn cộng sản' NXB Sự
    thật. Há N ội 1970. tr.29.
    23

    NGIĨYẾN VẪN KHOAN

    ở Việt N am v à m ột sô nước thuộc địa E)ông N am Á,
    ngoài c h ế độ p h ong k iến kìm hãm còn bị ch ủ nghía thực
    d â n cù xâm lược, chiếm dỏng, nơi m à “nhữ ng biên giới tư
    bản chủ ngh ĩa cho đến nay ch ỉ là n h ữ n g vách tường dày
    ngăn cản n h ữ n g người lao động trẽn th ế giới hiểu nhau
    và thương yêu n k a u ""\ nơi m à “ch ỉ với lực lương riêriịỊ
    của m in h , n ô n ^ d â n kh ô n g bao giờ trú t bò đưỢc g á n h
    n ặ n g đ a n g đ è n én ftọ”® và “ch ỉ với s ự g iú p đ d của n h ữ n g
    người a n h n/n b ị á p bức của m ìn h ở các nưâc c h ă u À u , họ
    mới tự g iả i p h ó n g được
    C hâu Âu, th eo n h ậ n xét
    của N guyễn Ái Quôc, là nđi “m à đời sống hiện nay p h ụ
    thuộc trước hết vào n h ữ n g trung tâ m cồng nghiệp lớn
    m ạ n h và vào n h ữ n g đường gừio thônể''*'.
    Rióng ở V iệt N am , “sự đơn độc” càng n ặ n g n ề hơn khi
    đê quốc P h á p b ít tấ t cả những “cửa” vào, dưồng bộ,
    đưòng th ủ y , c ấm n h ậ p k h ẩ u mọi sách báo tiến bộ, mọi
    th ô n g tin về các trà o lưu chính t n , k inh tế, v ãn hoá, xă
    hội. C húng xử tội r ấ t n ặ n g t ấ t cả n h ữ ng ai “x u ấ t dương”
    không đưỢc phép của chính quyển d ù với b ấ t kỳ mục
    đích nào, đe doạ n h ữ n g người có liên hộ với nước ngoài,
    k h ủ n g bô”cả n h ữ n g người được chúng cho ra nước ngoài
    lúc trỏ về có n h ữ n g h à n h dộng m à chính quyền gọi là
    “tuyên tru y ề n k ích động”.
    Trưóc N guyễn Ái Quốc, cũng đ ã có n h ữ n g mối giao
    lưu v àn h o á với A n Độ, T rung Quốc, N h ậ t Bản, In-đônc-xi-a, với phương Tây, chủ yếu là Pháp, cùĩig đã có
    n h ữ n g kiến nghị k h ông n ên 'Tíếquan, toả cảng” m à phải
    “mỏ cửa” với v án m inh phưdng Tây. N hưng do nhiều
    nguyên n h â n tác động, do bảo th ủ , định kiôVi, hoài nghi
    c ủ a n h ữ n g ngưòi cầm quyền, do h à n h vi b ấ t tín, vụ lợi
    c ù a đỐì tượng “m d cửa” n ên Việt N am cuối cùng v ẫn chịu
    sự “đơn độc" cay đ ắ n g kéo dài.
    (1). (2). (3). (4)

    Hô C hlM inh,

    Toàn tập. sơd, tr.115. 157, 130, 157.

    24

    fil ỉớ l  ồí flÙA XUẲN - ỉư rưỞNG Hổ CHÍ MINH
    G ần Nguyễn Ái Quôc, Phan Bội C háu c ũ n g đã “mỏ
    cửa" sang phương Đông, nhưng do sự h ạn c h ế chủ quan,
    két q u ả cuôl (tùng vẫn không ''mcV' dưỢc.
    Kguyẽn Ái Quốc đã ngiim nghĩ từ lảu v ấn dề này, ít
    ra cũng từ khoảng nám 1904. khi đi bộ theo th â n phụ
    vào Huê lần th ứ hai để h w tại Trường Quốc học íiuế.
    Cho đến khi “th ấy có trách nhiệm'' phải trìn h b ày vấn để
    này, Nguyễn Ái Quôc đã trải qua 20 nấm sòng, đi, thấy,
    lắng nghe, học tập, ngẫm nghĩ, tư duy và tự m ình r ú t ra
    k ế t luận. Cho dến năm 1924, khi p h á t biểu V kiến này,
    so với ngưòi dương thời, Nguyễn Ái Quốc là m ột trong
    n hữ ng ngưòi dã đi biển, đi bộ nhiều n h â t, tiếp cận với
    hàng chục nước ỏ châu Âu, châu Mỹ, ch âu Phi... để có
    được tầm m át mỏ rộng nhất- Theo n h ữ ng tà i liệu...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML