CHÀO XUÂN MỚI
Chuyen voi nguoi chau gan nhat cua Bac Ho

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Lan
Ngày gửi: 13h:42' 30-04-2024
Dung lượng: 940.2 KB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Lan
Ngày gửi: 13h:42' 30-04-2024
Dung lượng: 940.2 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
D»nti
H O C H iM IN K
- V
i - '* :
•
V
'v ^
HỔNG KHANH
NHÀ XUẤT BÁN THANH NIÊN
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Cuộc đời và s ự nghiệp v ĩ đụi của Chủ tịch H ồ Chí
M inh ngày càng được nhiều sách, báo trong nước và
ngoài nước nêu ỉên, khác nào như ngôi sao sáng
giữa bầu trời xanh, càng n hìn vào càng lung linh,
sáng chói.
Cuốn sách này viết về m ột khía cạnh trong cuộc
đời của Bác Hồ thông qua m ột số m ẩu chuyện mà
đồng chí Nguyễn S in h Đ ịnh • cháu gần n hất của
B ác H ồ - k ể lại. Qua đó, chúng ta hiểu thêm về cuộc
đài Bác, về m ột vỊ lã n h tụ vĩ đại của Đ ảng ta và dân
tộc ta có m ột p h ẩ m chất tuyệt vời L>à m ột tư tưởng
n h ấ t quán trong m ục đích, hướng đi. S uốt đời hy
sin h quèn m inh cho sự nghiệp cách mạng, cho sự
ấm no, hạnh p húc của n h ă n dán.
Đ é tài viết về Bác H ồ ỉà rất phong phú, đa dạng,
chủng ta còn có th ể k h a i thác nhiều. Với cuốn sách
này, tác g iả đã cô'gắng kh a i thác ở góc độ những
người thân, họ h à n g của Bác k ể lại. Đây củng là
m ột đóng góp làm cho tủ sách viết về Bác Hồ thêm
phong phú.
Do yêu cầu của đông đảo bạn đọc trẻ tuổi trong
cả nước, N hà xuất bản Thanh Niên tái bản có bổ
sung cuốn: Chuyện với người cháu g ầ n nhất của
Bác Hậ, X in trăn trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN
6
'rong chúng ta, ai đã một lần được trực tiêp
nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hẳn
'đều coi đó là một vinh dự nhất, kỷ niệm sâu
sắc n h ất trong đòi mình. Riêng Nguyễn Sinh Định có
vinh dự đặc biệt là được nói chuyện với Bác Hồ trong
quan hệ anh em họ hàng ruột thịt. Bởi lẽ, bố^Nguyễn
Sinh Định là Nguyễn Sinh Mại. Nguyễn Sinh Mại là
con ỏng Nguyễn Sinh Thuyết“' - anh ruột của ông
Nguyễn Sinh sắc, thân sinh Hồ Chí Minh. Do đó,
Bác Hồ và Nguyễn Sinh Mại có chung ông nội là
Nguyễn Sinh N hậm (tức Nguyễn Sinh Vượng) thuộc
th ế hệ thứ mười của họ Nguyễn Sinh. Bởi vậy
Nguyễn Sinh Định gọi Bác Hồ là chú thúc bá.
Khi Bác Hồ đang trên đưòng từ P ari đến nưốc
Nga - quê hương Cách m ạng Tháng Mười, Nguyễn
Sình Định mỏi lọt lòng mẹ, cất tiếng chào đòi. Hai
mươi chín năm sau, nhân Đại hội Anh hừng, Chiến
9Ĩ thi đua toàn quốc lần thứ n h ất tổ chức tại chiến
khu Việt Bắc, thuộc huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên
Q uang bây giò, Nguyễn Sinh Đ ịnh mới có dịp lần
đ ầu tiên gặp người chú th â n yêu của mình.
ị1) Cồn c à tên Jé Nguyễn $inh TrỢ.
hỏng
K hanh
*
* *
Là nhữ ng ngưòi đồng hương N am D àn cùng
nhiều bạn bè khác đang công tác và về hưu ở H à
Nội, mặc dù đã đọc Tắt nhiều sách, báo cho biết về
quá trìn h hoạt động cách m ạng của Chủ tịch Hồ
Chí M inh, nhữ ng chúng tôi thường vẫn đến n h à
Nguyễn Sinh Định, n h ấ t là vào những dịp mừng kỷ
niệm ngày sinh của Bác, yêu cầu Nguyễn Sinh
Đ ịnh kể lại cho bạn bè, con cháu nghe những kỷ
niệm sâu sắc, lý th ú , bổ ích về vị Cha già kính yêu
của dân tộc.
Với giọng nói khi to, khi nhỏ, khi sôi nổi, khi
chậm rã i th a th iết, N guyễn Sinh Đ ịnh kể:
M ột ngày trước k h i chính thức khai mạc Đại hội
A nh hùng, Chiến sĩ th i đua toàn quô'c lần thứ nhất,
nhiều đại biểu các ngành và từ các chiến trường
Bắc - T rung - N am về, đang trò chuyện trước sân
hội trưòng, th ì Bác Hồ đến. Mục đích của Bác là đến
hỏi th á m sức khỏe, tìn h hình đi đường, nơi ăn nghỉ
của đại biểu và kiểm tra sự chuẩn bị cho Đại hội
đến mức nào rồi. Lúc đó, sau sáu nám làm công
n h â n quân giới và cán bộ th i đua của Bộ Lao động,
tôi được điều đến làm nhân viên trong bộ p hận phục
vụ Đại hội. T hấy Bác, tôi cũng như bao nhiêu ngưòi
khác đều chạy ù a đến bên Ngưòi. N hưng rồi tôi
chang biết nói gì, chỉ đứng nhìn. Sau đó tôi phải đi
lo công việc h ậ u cần cho Đ ại hội. Làm xong một số'
việc cần th iế t, tôi tâ't tưỏi chạy trỏ lại nơi Bác Hổ và
nh iều đại biểu đứng chuyện trò lúc chiều, th ì ôi thôi
8
_____________ C h u yện với người cháu gán nhất của Bác Hổ^
chẳng còn th ấy ai nữa. Mọi người đã về nơi nghỉ.
Bóng núi b ắ t đầu che sẫm các lốỉ đi ven rừng.
Đêm 30 tháng 4 năm 1952, tói nằm không ngủ
được, cứ đắn đo xoay quanh mấy câu hỏi tự đ ặ t ra:
Chẳng lẽ m ình là ngưòi cháu gần n h ất của Bác Hồ
m à không th ư a vói Bác điều gì ư? Gặp Bác th ì chào
ra sao? Chào chú có hỡp không, trong lúc mọi ngưòi
đều chào Bác? Bác hỏi thì trả lồi th ế nào? V ân vân
và vân vân...
H ết tră n trỏ suy nghĩ, tôi lại nhớ đến n h ũng cảu
chuyện do ông bà, cha mẹ tôi thường kể cho con
cháu nghe về cái chí ham học của ông Nguyễn Sinh
Sắc, về thuở niên th iế u của Bác Hồ gặp lắm gian
n a n vất vả. Chuyện là ông Nguyễn Sinh N hậm có
bà vỢ m ất sớm, đê lại cho chồng một người con trai
là Nguyễn Sinh Thuyết. Nuôi con đến tuổi trưởng
thành và lập gia (ônh riêng cho con, ông Nguyễn
Sinh Nhậm mới lấy vợ k ế là bà Hà Thị Hy, con một
gia đình nông dân ở làng M ậu Tài, xã C hung Cự
(nay thuộc xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An). Đến
năm N hâm T u ất (1862), bà Hà Thị Hy sinh con
trai, đật tê n là N guyễn Sinh sắc. N hưng Nguyễn
Sinh Sắc mới lên ba tuổi đã mồ côi cha, và lên bỗh
lại mồ côi mẹ. Nguyễn Sinh sắc đành dựa vào sự
nuôi nấng của gia đình người anh cả là Nguyễn
S inh Thuyết. N hưng gia đình người anh này cũng
p h ải lao động v ấ t vả mdi đủ sông. Cho nên lớn lên
Nguyễn Sinh sắ c phải tham gia lao động và không
được học h ành như b ạn bè cùng lứa tuổi, h ằn g ngày
chúng được ôm sách đến lốp học của th ầy Vương
hống
K hanh
Thúc M ậu mỏ tạ i làn g Sen. Với lòng k h á t khao học
tập, mỗi lầ n đi qua lớp học này, N guyễn Sinh Sắc
thưòng dành thòi gian đứng th ập thò ngoài hè lóp
nghe thầy Vương Thúc M ậu giảng bài, còn trâ u thì
được buộc thừng vào gốc tre gần đó chò. Và khi về
nhà, hay ra đồng có thì giò rản h là N guyễn Sinh
Sắc lại h í hoáy tậ p viết vào nền đ ấ t h ay lá cây.
Thấy vậy, b à con trong làng đều khen ngợi.
Một hòm, vào dịp m ùa x uân nấm M ậu Thìn
(1878), ông giáo H oàng Đưòng ỏ làng C hùa sang
thăm bạn dạy học là th ầy Vương Thúc M ậu ở làng
Sen. Trên đường đi qua c á n h đồng th ấy một c ậ u bé
đang say sưa đọc sách trê n lưng trâ u , trong lúc đám
trẻ quanh đó thì reo hò, chạy nhảy, ô n g giáo Hoàng
Đường dừng lại, lâ n la hỏi tên tuổi và gia đình cậu
bé đang ngồi trê n lưng trâ u đọc sách. Nghe xong,
động lòng thương, ông giáo Hoàng Đưòng nảy ra ý
định xin Nguyễn Sinh sắc về nuôi dạy. ô n g đến
gặp gia đình N guyễn Sinh Tiiuyết, bày tỏ ý định ấy.
A nh N guyễn S inh T huyết không khỏi p h ân vân,
lưỡng lự về trách nhiệm của m ình vói người em,
nhưng cảm động trưâc lòng n hân từ cao cả của ông
giáo Hoàng Đường, cuối cùng a n h đồng ý. Từ đây,
Nguyễn Sinh s ắ c được gia đình ông giáo Hoàng
Đưòng nuôi cho ă n học.
Gia đình ông giáo H oàng Đường vào h ạn g tru n g
lưu. Bà vợ cùng với h a i người con gái là H oàng Thị
Loan và Hoàng T hị An vừa làm ruộng vừa dệt vải.
Ngôi n h à gỗ năm gian, hai chái, ÌỢp tra n h , h a i gian
ngoài được dành làm nơi dạy học của ông giáo. Do
10
_____________C huyện với ngựởì cháu gán nhất cùa Bác Hổ^
có lóp học trong nhà, bà vợ và hai con gái cũng biết
ít chữ nghĩa,
Sáu năm sau ngày vế iàng Chùa, Nguyễn Sinh
Sắc trở th à n h một chàng trai khôi ngôi, vừa học
giỏi, vừa có lễ độ, càng được mọi ngưòi yêu mến.
Hoàng Thị Loan, con gái đầu lồng của ông giáo
Hoàng Đường cũng đã khôn lán và có duyên, ô n g
giáo bàn vối bà vợ chọn Nguyễn Sinh sắ c làm con
rê.
Năm 1883, lễ th àn h hôn của Hoàng Thị Loan và
Nguyễn Sinh sắc được tổ chức tại làng Chùa. Đôi vỢ
chồng trẻ được ỏ riêng trong ngôi n h à tra n h ba gian
xinh xắn mới dựng bên cạnh nhà cha mẹ. Căn nhà
đơn sơ nhưng bao giờ cũng ngăn nắp, sạch sẽ nhờ
b àn tay chàm chỉ của ngưòi vỢ trẻ, H ai người chung
sông ở đây đầm âm với cảnh;
Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.
Một năm sau ngày cưói, cô Hoàng Thị Loan sinh
ngưòi con gái đầu lòng đ ặ t tên là Nguyễn Thị
Thanh: bôn năm sau đó sinh ngưòi con tra i đặt tên
là Nguyễn Sinh Khiêm; rồi hai năm sau nữa sinh
ngưòi con tra i đ ặ t tên là Nguyễn Sinh Cung, tức là
Bác HỒ.
Nguyễn Sinh Cung cất tiếng chào đời khi nưốc ta
đã m ất hoàn toàn vào tay thực dân P háp (sáu năm
sau Hiệp ước Pa-tơ-nôt). Dân tộc V iệt Nam đứng
trưâc thảm hoạ diệt vong. Nhiều cuộc nổi dậy chông
thực dân Pháp, cứu nước nổ ra nhưng đều th ấ t bại.
11
hỏng
K hanh
Nguyễn Sinh Cung lớn lên trong tìn h thương yêu
đùm bọc của ông bà, cha mẹ, an h chị v à dì Hoàng
Thị An. Với sự săn sóc ân cần đó, lại được người vợ
luôn đảm đang làm tố t nghĩa vụ nuồi chồng, nuôi
con chu đáo, ông Nguyễn Sinh sắc càng có điều
kiện ngày đêm “dùi m ài kinh sủ”. ồ n g dự thi Hương
ần đầu ỏ Nghệ An, khoa Tân Mão (1891), nhưng chỉ
trú n g nhị trưòng"\ Không n ản chí, N guyễn Sinh sắ c
lạ i CỐ' g ắ n g học đ ể c h ò k h o a sau; đồng th ờ i tìm nơi
dạy học để có thêm điều kiện dạy con cái. N hưng
được hai năm đang trong không khí gia đình sum
vầy, ấm cúng thì ông Hoàng Đường lâm bệnh nặng
và qua đời (1893). Nỗi đau buồn tang tóc đó làm đảo
lộn sinh h o ạt bình thưòng trong gia đình. Để a n ủi
mẹ già và đỡ đần vợ con, Nguyễn Sinh sắ c niỏ lớp
dạy học ngay tại nhà (ở hai gian nhà ngoài của mẹ
vỢ) và càng không ngừng ôn luyện văn chương để
chuẩn bị đi thi Hương lần th ử hai. Kết quả khoa thi
Hưđng năm Giáp Ngọ (1894), ông đậu c ử nhân- Rồi
đến giữa năm 1895, N guyễn Sinh sắc vào K inh đô
H u ế dự kỳ th i Hội, song không đậu. ô n g lại xin vào
học trường Quốc Tử Giám ỏ Huế. N hưng vì hoc
bổng ít ỏi. ông phải về quê b àn vổi vợ cùng vào H uế
để tạo điều kiện giúp đỡ ông học tập. Từ đấy,
Nguyễn Sinh Cxmg cùng anh ruột N guyễn Sinh
Khiêm theo cha mẹ vào sông ỏ Huế. Được m ột thồi
gian tạm ổn thì gia đình lại gặp phải cảnh éo le, ông
(1) Tại các k ỳ tíìi Hương, tN H ội thòỉ đó, c á c ơ ìí sỉnh p h ã ỉ trẻi qưâ bốn
bưởc: nhất trường, nhị trường, tam trường, tứ trường. T ứ trưởng l i bước
cuối cùng ơ ể phẳn định học vị.
12
C ih u y ệ n với người cháu gần: n h ấ t của Bác Hồ
------------------------------------------------------------------------------------------- 1
Nguyễn Sin.h sắc hỏng khoa thi Hội nám 1898.
Hỏng thi kh'ông còn là nho sinh ở trường Quô'c Tử
Giám, m ất buôn cả khoản phụ cấp ít ỏi.
Trưốc hoà.n cảnh gia đình ngặt nghèo như vậy, bà
Hoàng Thị L oan càng phải cô' gắng thức khuya dậy
sớm để dệt vải. Ông Nguyễn Sinh sắc thì tìm nơi dạy
lọc. Hằng n gày dù bận đến mấy, ông sắc cũng
thường xuyên tran h th ủ dạy cho hai con là Nguyễn
Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung học chữ Hán, và đòi
hỏi hai con p h ải siêng năng học, chữ viết phải chân
phương.
Tháng 8 n ám Canh Tý (1900), ông Nguyễn Sinh
Sắc cùng con tra i cả về quê, Nguyền Sinh Cung ở lại
với mẹ tại Huế. Trong lúc ông sắc vắng nhà, bà
Hoàng Thị Loàn sinh thêm người con th ứ tư và lâm
bệnh nặng. T hấy mẹ mê man bất tỉnh, em mới sinh
là Nguyễn Sinh Xin thì đang đói sữa, khóc gào,
Nguyễn Sinh Cung tấ t bật chạy đi chạy về kêu cứu
bà con, cô bác quanh vùng đến chạy chữa cho mẹ,
N hiều người, kể cả số thầy thuốc giỏi trong vùng vội
vàng tìm đến giúp đỡ- Nhưng rồi vẫn không cứu
đưỢc. Trái tim bà' Hoàng Thị Loan đã ngừng đập
vào trư a ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý. Lúc đó
Nguyễn Sinh Cung - Bác Hồ của chúng ta chưa đầy
mười m ột tuổi.
H ay Un yợ mâ't, ông Nguyễn Sinh sắc lập tức trở
vào Huế. Ông đau đớn xót xa, thương tiếc vô cùng
n g ư ò i vỢ y ê u q u ý đ ã v ĩn h b iệ t ch ồ n g co n g iũ a tu ổ i
33, K hông thể sòng được vối cảnh “gà trông nuôi
con” giữa đất kinh th àn h Huế, sau khi đến cảm ơn
13
hống
K hanh
khắp lượt bà con cô bác, N guyễn Sinh sắc lại d ắ t
díu các con trỗ về Nam Đàn, Nghệ An.
Về lại Kim Liên, để vơi dần nỗi đau tang tóc và
cũng là yêu cầu của b à con xóm làng, ông Nguyễn
Sinh Sắc lại mở lớp dạy học tạ i mấy gian n h à hẹp
của một gia đình p h ụ huynh ở làng C hùa. Nguyễn
Sinh Khiêm và N guyễn Sinh C ung lại được học với
cha. Lúc n ày vốn H án tự của Nguyễn Sinh Cung đã
khá, vào lớp học, Nguyễn Sinh Cung v ẫn thích n h ấ t
là giờ tập đối chữ. Ai đối được câu h a y thường được
th ầy khen và bạn bè tá n thưởng. Có lần trong tiết
tậ p làm câu đôi ứng khẩu, thầy ra v ế đối: “Bạch
th an h n hân”, (nghĩa là m ắt trắ n g m ắt xanh). Một
số bạn xướng lên câu đối của m ình, nhưng chưa
được th ầy khen. N hác th ấy trong lóp có bạn vì m ắt
đau phải che m ảnh vải đỏ lên m é đầu, Nguyễn Sinh
Cung liền đọc: “Hồng hắc đầu”, (nghĩa là đầu đen
đầu đỏ). T h ế là cả lớp được một raẻ cưòi thoải mái.
Được ít lâu, có sự động viên của bà con họ mạc và
làng xóm, ông N guyễn Sinh s ắ c lại quyết định vào
H u ế đự thi lần nừa. N hưng không may, trong thời
gian ông Nguyễn Sinh sắ c vào H u ế dự thi Hội, bé
Nguyễn Sinh Xin ỏ n h à bị ốm rồi mất.
Cái chết của đứa em bé bỏng lại gieo vào tâm hồn
trẻ thơ của Nguyễn Sinh Cung một nỗi buồn da
diết. Nguyễn Sinh Cung chỉ còn cách lo ôn lại bài
vở, tra n h th ủ giúp đõ bà ngoại nhiều việc trong nhà,
ngoài vườn n h ư chàm sóc cây m ít, h àn g cau, bụi
chuõl, khóm hoa huệ. Bà ngoại - tức b à Hoàng
Đường - cũng r ấ t thương yêu đứa cháu bé n h ấ t là
14
_____________ C h u yệ n với người cháu gần nhất của Bác Hồ^
Nguyễn Sinh Cung bằng việc thưòng xuyên nhắc
nhỏ việc học tập, không để cho cháu chơi lêu lổng.
ít lâu sau, một tin vui đến vôi gia đình Nguyễn
Sinh Cung và dân làng: “ô n g Nguyễn Sinh sắc đậu
Phó bảng^''” (khoa thi Hội Tân Sửu, 1901). Dân làng
nô nức chuẩn bị trốhg cò, võng lọng đi rước quan Phó
bảng Nguyễn Sinh sắc “vinh qui bái Tổ”. Khi dân
làng kéo đến cầu Rượu, cách Kim Liên bôn cây sô' thì
vừa gặp quan Phó bâng Nguyên Sinh Sắc đi bộ từ
Vinh trỏ về. Mọi người mừng rỡ nổi trông, giương cờ,
lọng mời quan Phó bảng lên võng cho dân rưôc,
nhưng ông Nguyên Sinh sắc một mực từ chôl. T hế là
dân làng phải lặng trống, xếp cờ, lọng, đi bộ cùng
quan Phó bảng.
D ân làng ai cũng biết rằn g nhò có công lao của
ông giáo Hoàng Đưòng cùng gia (Knh bên vợ ỏ làng
Chùa, ông N guyễn Sinh sắ c mới th àn h đạt. Song
theo tập tục địa phương, ông Nguyễn Sinh sắc đã
vinh quy tạ i làng Sen quê nội.
Trước khi ông Nguyễn Sinh sắc trở về, làng Sen,
xã Kim Liên đã xuất quỹ công ích m ua một ngôi
n h à năm gian bằng gỗ, lợp tranh. Ngôi nhà dựng
trê n khoảng đ ấ t công, gần giếng Cốc. ó n g Nguyễn
Sinh Thuyết cũng dựng cho em ba gian n h à nhỏ
dùng làm n h à ngang. Làng Sen vui như ngày hội.
Từ già chí trẻ, ai cũng tự hào vì lần đầu tiên trong
xã có người đậu Đại khoa.
(1) P h ó bàng là học vị dưởi Tiến s l Củog ổậu Ph ò bẻng khoà này cò
õng Phan Chàu Trình.
15
hống
K hanh
về làng Sen, ông Phó bảng làm lễ “vào làng” cho
hai con trai. Chắc ông nghĩ đến tương lai của con,
bèn ghi tên Nguyễn Sinh Khiêm là N guyên T ấ t
Đ ạt, N guyễn Sinh Cung là N guyễn T ấ t Thành.
Từ đó, hai anh em Nguyễn Ta't Đ ạt và Nguyền
T ất T hành được cha gửi sang học với th ầy Vương
Thúc Quý, con tra i cụ Vucfng Thúc M ậu đ ã đậu Cử
n h ân khoa T ân Mão và cũng nổi tiếng về chữ đẹp,
giỏi câu đối, lại tích cực tham gia hoạt động yêu
nước. Một lần, đang dạy, th ầy Quý th ắp đèn, dầu
sánh ra , th ấy vậy th ầy liền r a cho học trò m ột vê
đối:
''Thắp đèn lên dầu vương ra đ ể '
Có học trò lớn tuổi đối m ột câu r ấ t chỉnh:
''Đốt nhang rồi gió quạt hay tà n ”
Trò Nguyễn T ất Thành cũng liền xin đôì:
“Ci/ỡỉ ngựa dong thẳng tiến lên đường"
T hầy Quý khen cả hai trò, như ng với câu của
Nguyễn T ất T hành thầy cho rằng đốỉ th o á t hơn, thể
hiện ý chí và hoài bão lớn hơn, không gò bó với
nghĩa đen của từng từ trong vế áối.
Thời gian sau, thầy Vương Thúc Quý bận hoạt
động bí m ật với cụ Phan Bội Châu, Nguyễn T ất
T hành lại được cha gửi sang học với thầy T rần
T hân d làng Ngọc Đ ình, cùng xã C hung Cụ. Đó là
một n h à nho thông minh, th a n h bạch, điểm dạm,
thường khuyên học trò phải biết tự sửa lòng m ình,
chớ đế đồng tiển làm đen tôì lương tâm .
16
_____________ C h uyện với ngưdi chậu gần nhất của Bác Hỏ^
Năm 1903, sau khi nân ná ỏ n h à “cáo ôm” chưa
chịu ra làm quan'“, ông Nguyễn Sinh sắc đưa hai
con Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tâ't T hành lên huyện
T h an h Chương, nơi đâ't cũng trù phú, nhưng dân
nịỉhèo như Nam Đàn, đê vừa mỏ lớp dạy học vừa
bày vẽ cho con. Lớp học mở ra đã đi vào nền nếp,
đưỢc nhân dân trong vùng mến mộ, gửi nhiều con
em đến học, thì đùng một cái có tin bà ngoại ỏ quê
lâm bệnh nặng, ỏ n g Nguyễn Sinh sắc lại đưa hai
con trỏ về để chăm sóc bà ngoại. Vì tuổi cao, bệnh
nặng, bà ngoại (là bà Hoàng Đường m à dân làng
thường gọi là bà Kép) đã qua đòi. T hế là trong tuổi
niên thiếu của Bác Hồ - Nguyễn T ất T hành - đã
phải chịu bốh cái tang của gia đình; mẹ, em, ông
ngoại, bà ngoại.
Sau kỳ đại tang đó (1904), ông Nguyễn Sinh sắc
lại sang huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh dạy học, và đưa
Nguyễn Tất T hành đi cùng để kèm cặp. Tới đây
N guyễn Tất T hành được tận m ắt thâV cảnh sống xa
hoa, đài các của bầu đoàn th ế tủ Hoàng Cao Khải,
m ộ t t ê n g ia n h ù n g , n h ờ bò đỢ Tây m à được th ă n g
đến tước Q uận công. Y đang xây dựng dinh thự đồ
sộ ỏ làng Đông Thái, bên cạnh những vùng bị triệ t
hạ ta n hoang trong cuộc đàn áp khởi nghĩa P han
Đ ình Phùng. Một thòi gian sau, Nguyễn T ất T hành
lại đưỢc theo cha đi đây đi đó, n h ư đến Quỵnh Đôi,
một làng nổi tiếng lắm người học giỏi, đỗ đạt cao;
đến là n g H ậu L u ật huyện Diễn Châu; đến xã Tràng
ựĩ) Th^o p/)ểp nưữc ìù c b ấ y giò, những vị đa ơậu Đại khoa, sa o m ộỊ thởi
gian \ in h qơy bối íđ" phải trở Ịạị Kinh đõ chở fậnh.
17
hổng
K hanh
Sdn, huyện Y ên T hành; rồi ra tậ n N am Đ ịnh, phủ
Kiến Xương, T hái Bình...
★
* *
Gà rừng cấ t tiếng gáy canh hai, tôi vẫn chưa ngủ
được - N guyễn Sinh Đ ịnh kể tiếp. - H ết nhữ ng câu
chuyện về thòi niên th iế u của Bác Hồ, tôi lại mường
tưỢng đến h ìn h ảnh Ngưòi lúc chiều 30-4-1952 m à
tôi mới được th ấ y lần đầu. Vóc dáng Người, khuôn
m ặt, đôi m ắ t, n ụ cười sao giông cô T hanh v à chú cả
Khiêm đến thế.
Cô T hanh, tê n th ậ t là N guyễn T hị Bạch Liên,
sinh năm 1884, chị ruột của Bác Hồ. Theo bô”tôi kể
lại, trong cuộc sồng, cô T hanh là một phụ nữ đảm
đang, dũng cảm, kiên nghị. N ăm lên mười một tuổi,
cô Thanh đã giúp bà ngoại lo liệu m ột số việc nội trợ
gia đìah. N ăm lên mưòi bảy tuổi, sau k h i b à Hoàng
Thị Loan - mẹ của Bác Hồ - qua đòi ỏ Huế, ông
Nguyễn S inh sắ c đưa N guyễn Sinh Cung và
Nguyễn Sinh Xin trở về quê, cô T hanh lại phải
chảm sóc các em, n h ấ t là lúc đó Nguyễn Sinh Xin
chưa đầy m ột tuổi, đang k h á t sữa mẹ. Đến tuổi
thành niên, cô T h an h là một cô gái đẹp, có học,
duyên dáng, như ng đôi khi cũng hay lý sự. Nhiều
thanh niên trong vùng đến dạm hỏi, cô chẳng n hận
lòi một ai. M ột th a n h niên bên Đức Thọ, thường gọi
là “Cậu ấm ” n h à quan lớn, n h à giàu sang, đến tò
tình muốh hỏi cô làm vợ, có người khuyên cô nên
cô T h an h hóm hỉnh đáp lại:
18
_____________ C h u yện với ngưởi cháu gần nhất của Bác Hổ^
- Ấm gì rồi cũng vd?
Riêng “an h tú ” người huyện Hưng N guyên (vì đã
đậu tú tài cho nên n h ân dân địa phương thường gọi
“anh tú ”) bị bọn cầm quyền nghi đi liên lạc cho
nghĩa quân chông lại chúng nên chúng b ắ t an h đem
về giam ồ Vinh. Khi được tin cha “anh tú ” mất, cô
T hanh tức tốc xuông Vinh, gập Tổng đôc và Công sứ
Nghệ An đòi chúng phải th ả “an h tú ”, để an h được
về chịu tang, nếu không thì cô sẽ ngồi tù thay “anh
tú ”. Trước th ái độ khảng khái và kiên quyết đó, bọn
cầm quyến buộc phải th ả “anh tú ”, v ể lạ i nhà, cô
T hanh còn mưa chuối, hướng và đi đến tậ n Hưng
Nguyên phúng viếng cha “anh tú ”, rồi nhẹ nhàng
khuyên anh;
- N ếu chỉ vì lo xây dựng gia đình riêng thì từ nay
an h đừng lên Kim Liên nữa m à bị nghi ngò là liên
lạc với nghĩa quân.
N ăm hai mưdi sáu tuổi, trong m ột chuyến đi liên
lạc vối nghĩa q uân (của Đội Quyển, Đội P hán ỏ
T h an h ChUđng, T ân Kỳ nổi lên chống Pháp) cô
T hanh bị bọn cầm quyền đón bắt. Chúng đánh đập,
tra tấ n dà man, cô vẫn không cung khai một lòi về
nghĩa quân là ai, ở đâu...
Sau khi ra tù (cuôi năm 1911), cô vẫn hăng hái
n h ậ n nhiệm vụ giúp nghĩa quân, bằng cách mở một
q uán cơm tạ i th à n h phố Vinh, để bể ngoài là buôn
bán ĩàm ăn, nhưng bên trong lây đó làm nơi liên hệ
vâi lính “k h ố xanh, khô' đổ”, m ua súng cho nghĩa
quân. Được ít lâu, việc m ua trộm súng bị bại lộ, cô
lại bị thực dân Pháp và phong kiến b ắ t giam lần
19
hổng
K hanh
thứ hai và k ế t án “đánh một trả m trương, giam
chín năm , đày cách xa Nghệ An õ.ooo dặtn”.
Ra khỏi tù ồ Q uảng Ngãi, vê' lại làng Sen, được ít
âu, cô T hanh lên thị tr ấ n Nam, Đ àn mở m ột quán
nhỏ b án hàng xén ở dốc chợ Sa N am với mục đích
vừa tự nuôi sông mình, vừa dò la làm công tác binh
vận, nắm tìn h hình cung cấp tin tức cho nhữiìg
ngưòi hoạt đ ộ n g cách mạng. Sa N am là chợ lớn n h ất
trong huyện, mỗi th á n g họp sáu phiên chính, còn
thường ngày vẫn có người vào ra nhộn n h ịp trao đổi
hàng hoá. Từ chợ Sa N am , các th ứ h àng nông, lâm
sản của N am Đ àn theo tuyến đưòng th u ỷ sông
Lam, đưòng bộ 49, đưòng đê 42, chuyển đi khắp các
xã trong huyện và nhiều nơi trong tỉn h , n h ấ t là
th àn h phô' Vinh. Cho nên dân gian đã có câu ca:
Sa Nam trên chợ dưới đò
B ánk đúc ba dãy, thịt bò bê thiên.
Đ ứng ỏ q uán cô T hanh, nhâ't là vào n h ữ n g ngày
tròi trong nắng đẹp là có thể th ây được địa th ế bôn
phía của huyện Nam Đàn. P hía Tây là dòng sông
Lam, trừ m ùa lũ nước chảy xiết, đục ngầu, còn
quanh năm trong xanh, hiền hoà. P hía Tây N am là
dãy núi Thiên N hẫn chạy xuổhg bến p h à Linh
Cảm, gần quê hương P h an Đình Phùng, T rầ n Phú.
Phía Đông Bắc là địa đầu dãy n ú i Đ ại H uệ, thuở
người an h h ù n g áo vải Q uang Trung, trê n đưòng
đưa q uân từ N am ra Bắc đại p h á q u ân T h an h , đã
tạm dừng lại đây lập đồn trú luyện quân, và mộ
thêm lính. Giữa hai dãy núi này là vùng vừa đồng
bằng vừa b án sơn địa, xoè ra như hình quạt. Trong
20
C h uyện vỏí người cháu gần nhất của Bác Hồ
đó có làng Đan Nhiệm, quê hương n h à chí sĩ yêu
nước P h an Bội Châu, và làng Sen, quê hương Chủ
tịch Hồ Chí M inh vĩ đại.
Tôi còn nhớ • vẫn lòi Nguyễn Sinh Định - một
hôm lên chợ Sa Nam, thấy cô T hanh đang chửi như
tá t nước vào m ặt tên Tây đồn N am Đ àn vì tội trắng
trỢn chọc ghẹo con gái và quỵt tiền m ua gà, vịt của
b à con nông dân.
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám th à n h công, bà
con, họ hàng làng Sen nhìn ảnh Chủ tịch Hồ Chí
M inh, cứ nửa tin, nửa ngờ:
P hải chăng đây là Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn
Tâ't T hành - Nguyễn Sinh Cung?
Cô T hanh là người đầu tiên thay m ật họ Nguyễn
Sinh và bà con trong làng ra Hà Nội gặp Bác Hồ,
như cô nói: “Đúng cậu Côông rồi, nhưng phải ra tận
nđi xem mới yên tâm!” Côông tức là Cung - Nguyễn
Sinh Cung - tên của Bác Hồ lúc còn nhỏ m à bà con
địa phương thường gọi là Cóông.
Đến nay, tôi vẫn nhớ hôm đó cô T hanh mặc quần
áo nâu, đầu chít khăn nhung, miệng nhai trầu, đôi
môi đỏ tươi, tay xách hai con vịt và bỏ hai chục
trứ ng gà chung quanh phủ tro vào cái bị cói, vai đeo
nái, được bà con tiễn ra đường 49 đê đón xe Nam
Đ àn - Vinh, rồi lên tàu lửa ra Hà Nội. Vui n h ất là
hôm cô T hanh vổ lại làng Sen. ĐưỢc tin cô từ Hà
Nội về, cả bên nội, bên ngoại và bà con quanh vùng
tới tấp tìm đến đông như mở hội, đứng^ vây quanh
lây cô, hỏi chuyện tíu tít, Cô T hanh kể rằng vào đến
cống n h à Cụ Hồ làm việc (lúc đó ỏ Bắc Bộ phủ, nay
21
h ổ n g K hanh
■----------------------------------------------------------------- -—
là n h à khách C hính phủ, ở đường Lý Thái Tổ) thì
gặp một ngưòi hỏi ngay:
■Bà có việc gì, cần gặp ai?
• Tôi là chị Cụ Hồ. Tôi ra thám Cụ một ch ú t rồi
tôi về.
Nghe vậy, ngưòi gác cổng bảo cô chò. Quả nhiên,
chờ một chốc là có người ra dẫn cô vào. Kể đến đây,
hai khóe m ắt cô rưng rưng. Niềm xúc động, tự hào
dâng lên. Rồi cô k h ẳ n g định trưốc bà con hai bên
nội, ngoại xóm giềng đứng vây quanh:
• Đúng một tră m p h ầ n tră m rồi! Cụ Hồ Chí M inh
là Nguyễn Sinh Cung, là Nguyễn T ất Thành, là
Nguyễn Ái Quôc.
Ngừng một lát, lấy k h ă n lau nưóc m ắt vì không
n én nổi xúc động, rồi cô T h an h cho b iết khi h a i chị
em gặp n hau sau bôn mươi năm xa cách, ngưồi nào
cũng nghẹn ngào, m ừng mừng, tủ i tủi. Chuyện trò
được khoảng nử a giờ, th ấ y có ngưồi vào trìn h việc,
biết cụ HỒ đang phải giải quyết nhiều việc cần kíp
của đất nưốc khi mới giành được độc lập, cô T hanh
về nhà ngưòì quen ở phố^ H àng Nón nghỉ. Hôm biết
cô sắp vê' quê, Bác Hồ đang bận quá nhiều công
việc, phải nhò ngưòi đem đến biếu cô mấy m ét vải
lĩnh để về may quần áo gọi là chút quà kỷ niệm sau
bôn thập kỷ chị em x a cách, n ay gặp lại. Từ đó cô
T hanh sống ỏ quê làn g Sen, ngày đêm vận động trai
gái gia nhập bộ đội, đi th a n h niên xung phong mỏ
đưòng phục vại cuộc kháng chiến chông thực dân
Pháp. Rồi cồ mâ't vào lúc chiến dịch Điện Biên Phủ
sắp kết thúc th ắ n g lợi, thọ tròn bảy mưdi tuổi.
22
C h u yện vdi ngưỏi cháu gần nhất của Bác Hồ
Còn chú cẩ Khiêm - vẫn lòi Nguyễn Sinh Định tức là Nguyễn T ất Đ ạt - Nguyễn Sinh Khiêm, sinh
nám 1888, anh ruột Bác Hồ, Theo bô”tôi kể lại, chú
cả Khiêm biết cả chữ Hán, chữ Pháp, chữ quốc ngủ,
là người đầu tiên dạy chữ quốc ngữ cho con cháu và
n h ân dân trong vùng. H ằng ngày chú thường mặc
bộ quần áo m àu nâu, đi đôi guốc gỗ, sông phóng
khoáng, tín h tình vui vẻ, hay cười, khinh ghét bọn
quan lại hách dịch, th am nhũng, hay giúp đỡ ngưòi
nghèo, yêu trẻ nhỏ, bênh vực những người yếu th ế
loặc gập phải oan trá i bằng cách giúp viết đơn cho
họ gửi đến cửa quan để khiếu nại. Khi cô Thanh
th am gia hoạt động giúp nghĩa quân, chú cả Khiêm
cũng góp sức tích cực, cho nên thực dân và phong
kiến b á t chú đày đi xa tỉn h Nghệ An. Ra tù, trỏ về
àng, chú lại hưống dẫn nhân dân cải cách các sinh
hoạt theo lôl mới, tổ chức mở trường dạy học cho
n h ân dân, lập hội diễn tuồng, cổ v ũ tin h th ầ n yêu
nước và ý thức dân tộc.
Năm tôi lên mưòi sáu tuổi, bô" tôi giao tôi cho chú
cả Khiêm mới ở H u ế về (sau khi bị thực dân Pháp
b ắ t đày đi Lao Bảo rồi Quảng Ngãi vì có tham gia
h oạt động cách mạng) để vìía được dạy dỗ, vừa hằng
ngày giúp đõ chú cả Khiêm nhủng việc lặ t vặt cần
thiết. Tôi nhớ một hôm cùng chú cả Khiêm đi chợ
Vạc. Gặp một số người m ua hình nộm, vàng m ã về
cúng và đô't để gọi hồn thiêng của m a quỷ lên chữa
bệnh cho con cháu, chú cả Khiêm dừng lại giải thích
v à k h u y ê n h ọ bỏ tụ c lệ m ê tí n đó, h ư ớ n g dẫn cách
chữa và lấy tiền trong tú i cho họ góp p hần mua
e
23
hóng
K hanh
thuôc chữa. Trên đường vê' nhà, gặp một nông dân
vác cày ra đồng, mặc quần áo rách tươm, vá chằng
vá đụp, chú cả Khiêm liền cởi chiếc áo mặc ngoài
của mình đem cho người nông dân đó- ít hôm sau,
vào một đêm trồi tôl như bưng, chú cả Khiêm cầm
bó đuôc đi trước và bảo bô' tôi khiêng một đầu, tôi
íhiêng một đầu cái tiêu sàn h trong đó đựng hài côt
bà Hoàng Thị Loan đưa từ vườn n h à lên chôn ỏ
choảng đát Ao Hồ ■Động T ran h trê n núi Đ ại Huệ
cao gần một trăm m ét so vối m ặt cánh đồng xã Nam
G iang dưới chân núi. Đứng ở đây, nhìn về phía
N am thấy rõ dãy núi Thiên N hẫn còn có dấu tích
th à n h Lục Niên của Lê Lợi xây dựng; có m iếu thờ
danh sĩ nổi tiếng thời Tây Sơn là La Sơn Phu Tử
Nguyễn Thiếp. N hìn về phía Tây th ấy núi Đ ụn còn
có dâ'u tích th àn h V ạn An do M ai Thúc Loan xây
dựng khi chông quân xâm lược n h à Đường. N hìn
xuông phía Đông N am thấy núi Độc Lôi và Đại Hài
có mộ tổ Quang T rung - Nguyễn Huệ.
Lúc ở quê, khoảng cuối nám 1883, bà H oàng Thị
Loan lấy ông Nguyễn Sinh sắc, một năm sau sinh
ngưòi con gái đầu là cô Thanh, bôn năm sau đó sinh
người con th ứ hai là chú cả Khiêm, hai năm sau khi
sinh chú cả Khiêm thì sinh Bác Hồ. õ n g N guyễn
Sinh Sắc đậu được Cử n hân lại phải vào H u ế học.
Bà Hoàng Thị Loan cùng đi theo chồng vào H u ế và
sinh thêm người con thứ tư. Sinh con trong lúc tú n g
thiếu, bà Hoàng Thị Loan phải nhò h àng xóm giúp
đỡ. Trưốc cảnh ngộ vâ^t vả ấy, bà đ ặ t tên cho đứa
con th ứ tư là N guyễn Sinh Xin. N hưng sau đó
24
C h u yện với ngưòi cháu gán nhất của Bác Hồ
không lâu bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh và mâ't ỏ
Huế, khi mới bước vào tuổi ba mươi ba. Khi đó theo
bố^ tôi kể lại, ông Nguyễn Sinh sắc và hai người con
là cô T hanh và chú cả Khiêm đang ò quê hương
H oàng T rù lo sửa phần mộ ông bà. Nguyễn Sinh
C ung chưa đầy mưòi một tuổi. Sông trong một căn
n h à nhỏ ở Huế, gặp hoàn cảnh mẹ chết, vắng cha,
vắng chị, vắng anh, Nguyễn Sinh Cung phải bồng
bế, chàm sóc em m ình là Nguyễn Sinh Xin chưa đầy
một tuổi. Trỏ lại cô” đô Huế, ông Nguyễn Sinh sắc
sông cảnh gà trông nuôi con gặp rấ t nhiều vất vả.
í t lâu sau, gia đình ông lại trở về quê, rồi gặp bất
hạnh: N guyễn Sinh Xin chết.
K hoảng năm 1922, cô Thanh đi vào H uế đưa hài
cót bà H oàng Thị Loan về chôn sau vưòn nhà.
C hú cả Khiêm, bồ'tôi và tôi sau khi loay hoay đào
huyệt, đặt tiếu sành xuống ngay ngắn, lấp đất đắp
xong mộ bà Hoàng Thị Loan thì trời sáng hắn. c ả
ba ngưòi đứng lặng trước nén hương thờm ngát cắm
trê n mộ bà Loan, nghiêng m ình tưởng nhớ ngưòi
m ẹ , n g ư ờ i th ím , n g ư ờ i b à cô đ ã từ n g t ầ n tả o la m lũ
h ế t mực yêu chồng, thương con, thuỷ chung với họ
h àng chòm xóm. Trong giây phút tra n g nghiêm ây,
tôi bỗng nghe chú cả Khiêm lẩm nhẩm khấn thành
tiếng:
Mẹ ơi! Chúc mẹ yên nghỉ ngàn th u ở đây. Em
Côông, con của mẹ n h ất định sẽ về nước,
Q uả đúng như thế, không ngờ câu nói ấy của chú
cả Khiêm đã th àn h sự thật. Không đầy một năm
sau đó, n h ân dân được tin Nguyễn Ai Quốc sau ba
25
hóng
K hanh
mươi năm xa Tổ quốc, qua 27 quốc gia trê n bôn
châu lục đi tìm đưòng cứu nưóc đã vê' Pác Bó lãn h
đạo V iệt M inh đứng lên đ án h Tây đuổi N hật, giành
độc lập cho đ ấ t nước.
Cách m ạng T háng T ám th à n h công • vẫn lòi
!'^guyễn Sinh Đ ịnh - sa u khi cô T hanh ra H à Nội
gặp Bác Hồ biết rõ chắc chắn đó là Nguyễn T ất
T hành ■ Nguyễn Ái Quốc, em ruột mình, chú cả
Khiêm bảo tôi cùng đi xuốhg Vinh, để lẽn tà u lử a ra
H à Nội th ăm Bác. Tôi xách chiếc va-ly đan bằng sợi
m ây cũ kỷ, trong bỏ m ột bộ quần áo và mây th ứ lặ t
v ặ t của chú cả Khiêm, rồi bưốc theo chú, lòng trà n
đầy p hân khỏi. N hưng không may, hai chú cháu
xưốhg đến Vinh thì Id tà u , phải trỏ lạ i làng Sen.
Hôm sau, tôi b ận đi h u ấ n luyện 'Võ bị”, chú cả
Khiêm quyết định đi m ộ t m ình ra H à Nội gặp Bác
HỒ.
Cũng như cô T hanh, hôm về lại làng Sen, chú cả
Khiêm đưỢc bên nội, bên ngoại và bà con trong xóm
đến vây quanh hỏi chuyện ríu rít. Chú cả Khiêm kể
rằn g lúc đến cổng n h à làm việc của Bác Hồ, chú
dừng lại lây b ú t viết n g ắn gọn mấy chữ vào m ột
m ảnh giấy rộng bằng h a i cái bao diêm “Đ ạ t đến
th ăm T hành” rồi đưa cho người gác cổng nhờ
chuyển lên Chủ tịch nưốc đang bận lo trả m công
nghìn việc của đ ấ t nước sau khi mới giành được
chính quyền vể ta y n h â n dân. Chờ khoảng b a p hút
thì chú cả Khiêm được lên tần g hai, nơi làm việc
của Bác và các đồng ...
H O C H iM IN K
- V
i - '* :
•
V
'v ^
HỔNG KHANH
NHÀ XUẤT BÁN THANH NIÊN
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Cuộc đời và s ự nghiệp v ĩ đụi của Chủ tịch H ồ Chí
M inh ngày càng được nhiều sách, báo trong nước và
ngoài nước nêu ỉên, khác nào như ngôi sao sáng
giữa bầu trời xanh, càng n hìn vào càng lung linh,
sáng chói.
Cuốn sách này viết về m ột khía cạnh trong cuộc
đời của Bác Hồ thông qua m ột số m ẩu chuyện mà
đồng chí Nguyễn S in h Đ ịnh • cháu gần n hất của
B ác H ồ - k ể lại. Qua đó, chúng ta hiểu thêm về cuộc
đài Bác, về m ột vỊ lã n h tụ vĩ đại của Đ ảng ta và dân
tộc ta có m ột p h ẩ m chất tuyệt vời L>à m ột tư tưởng
n h ấ t quán trong m ục đích, hướng đi. S uốt đời hy
sin h quèn m inh cho sự nghiệp cách mạng, cho sự
ấm no, hạnh p húc của n h ă n dán.
Đ é tài viết về Bác H ồ ỉà rất phong phú, đa dạng,
chủng ta còn có th ể k h a i thác nhiều. Với cuốn sách
này, tác g iả đã cô'gắng kh a i thác ở góc độ những
người thân, họ h à n g của Bác k ể lại. Đây củng là
m ột đóng góp làm cho tủ sách viết về Bác Hồ thêm
phong phú.
Do yêu cầu của đông đảo bạn đọc trẻ tuổi trong
cả nước, N hà xuất bản Thanh Niên tái bản có bổ
sung cuốn: Chuyện với người cháu g ầ n nhất của
Bác Hậ, X in trăn trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN
6
'rong chúng ta, ai đã một lần được trực tiêp
nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hẳn
'đều coi đó là một vinh dự nhất, kỷ niệm sâu
sắc n h ất trong đòi mình. Riêng Nguyễn Sinh Định có
vinh dự đặc biệt là được nói chuyện với Bác Hồ trong
quan hệ anh em họ hàng ruột thịt. Bởi lẽ, bố^Nguyễn
Sinh Định là Nguyễn Sinh Mại. Nguyễn Sinh Mại là
con ỏng Nguyễn Sinh Thuyết“' - anh ruột của ông
Nguyễn Sinh sắc, thân sinh Hồ Chí Minh. Do đó,
Bác Hồ và Nguyễn Sinh Mại có chung ông nội là
Nguyễn Sinh N hậm (tức Nguyễn Sinh Vượng) thuộc
th ế hệ thứ mười của họ Nguyễn Sinh. Bởi vậy
Nguyễn Sinh Định gọi Bác Hồ là chú thúc bá.
Khi Bác Hồ đang trên đưòng từ P ari đến nưốc
Nga - quê hương Cách m ạng Tháng Mười, Nguyễn
Sình Định mỏi lọt lòng mẹ, cất tiếng chào đòi. Hai
mươi chín năm sau, nhân Đại hội Anh hừng, Chiến
9Ĩ thi đua toàn quốc lần thứ n h ất tổ chức tại chiến
khu Việt Bắc, thuộc huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên
Q uang bây giò, Nguyễn Sinh Đ ịnh mới có dịp lần
đ ầu tiên gặp người chú th â n yêu của mình.
ị1) Cồn c à tên Jé Nguyễn $inh TrỢ.
hỏng
K hanh
*
* *
Là nhữ ng ngưòi đồng hương N am D àn cùng
nhiều bạn bè khác đang công tác và về hưu ở H à
Nội, mặc dù đã đọc Tắt nhiều sách, báo cho biết về
quá trìn h hoạt động cách m ạng của Chủ tịch Hồ
Chí M inh, nhữ ng chúng tôi thường vẫn đến n h à
Nguyễn Sinh Định, n h ấ t là vào những dịp mừng kỷ
niệm ngày sinh của Bác, yêu cầu Nguyễn Sinh
Đ ịnh kể lại cho bạn bè, con cháu nghe những kỷ
niệm sâu sắc, lý th ú , bổ ích về vị Cha già kính yêu
của dân tộc.
Với giọng nói khi to, khi nhỏ, khi sôi nổi, khi
chậm rã i th a th iết, N guyễn Sinh Đ ịnh kể:
M ột ngày trước k h i chính thức khai mạc Đại hội
A nh hùng, Chiến sĩ th i đua toàn quô'c lần thứ nhất,
nhiều đại biểu các ngành và từ các chiến trường
Bắc - T rung - N am về, đang trò chuyện trước sân
hội trưòng, th ì Bác Hồ đến. Mục đích của Bác là đến
hỏi th á m sức khỏe, tìn h hình đi đường, nơi ăn nghỉ
của đại biểu và kiểm tra sự chuẩn bị cho Đại hội
đến mức nào rồi. Lúc đó, sau sáu nám làm công
n h â n quân giới và cán bộ th i đua của Bộ Lao động,
tôi được điều đến làm nhân viên trong bộ p hận phục
vụ Đại hội. T hấy Bác, tôi cũng như bao nhiêu ngưòi
khác đều chạy ù a đến bên Ngưòi. N hưng rồi tôi
chang biết nói gì, chỉ đứng nhìn. Sau đó tôi phải đi
lo công việc h ậ u cần cho Đ ại hội. Làm xong một số'
việc cần th iế t, tôi tâ't tưỏi chạy trỏ lại nơi Bác Hổ và
nh iều đại biểu đứng chuyện trò lúc chiều, th ì ôi thôi
8
_____________ C h u yện với người cháu gán nhất của Bác Hổ^
chẳng còn th ấy ai nữa. Mọi người đã về nơi nghỉ.
Bóng núi b ắ t đầu che sẫm các lốỉ đi ven rừng.
Đêm 30 tháng 4 năm 1952, tói nằm không ngủ
được, cứ đắn đo xoay quanh mấy câu hỏi tự đ ặ t ra:
Chẳng lẽ m ình là ngưòi cháu gần n h ất của Bác Hồ
m à không th ư a vói Bác điều gì ư? Gặp Bác th ì chào
ra sao? Chào chú có hỡp không, trong lúc mọi ngưòi
đều chào Bác? Bác hỏi thì trả lồi th ế nào? V ân vân
và vân vân...
H ết tră n trỏ suy nghĩ, tôi lại nhớ đến n h ũng cảu
chuyện do ông bà, cha mẹ tôi thường kể cho con
cháu nghe về cái chí ham học của ông Nguyễn Sinh
Sắc, về thuở niên th iế u của Bác Hồ gặp lắm gian
n a n vất vả. Chuyện là ông Nguyễn Sinh N hậm có
bà vỢ m ất sớm, đê lại cho chồng một người con trai
là Nguyễn Sinh Thuyết. Nuôi con đến tuổi trưởng
thành và lập gia (ônh riêng cho con, ông Nguyễn
Sinh Nhậm mới lấy vợ k ế là bà Hà Thị Hy, con một
gia đình nông dân ở làng M ậu Tài, xã C hung Cự
(nay thuộc xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An). Đến
năm N hâm T u ất (1862), bà Hà Thị Hy sinh con
trai, đật tê n là N guyễn Sinh sắc. N hưng Nguyễn
Sinh Sắc mới lên ba tuổi đã mồ côi cha, và lên bỗh
lại mồ côi mẹ. Nguyễn Sinh sắc đành dựa vào sự
nuôi nấng của gia đình người anh cả là Nguyễn
S inh Thuyết. N hưng gia đình người anh này cũng
p h ải lao động v ấ t vả mdi đủ sông. Cho nên lớn lên
Nguyễn Sinh sắ c phải tham gia lao động và không
được học h ành như b ạn bè cùng lứa tuổi, h ằn g ngày
chúng được ôm sách đến lốp học của th ầy Vương
hống
K hanh
Thúc M ậu mỏ tạ i làn g Sen. Với lòng k h á t khao học
tập, mỗi lầ n đi qua lớp học này, N guyễn Sinh Sắc
thưòng dành thòi gian đứng th ập thò ngoài hè lóp
nghe thầy Vương Thúc M ậu giảng bài, còn trâ u thì
được buộc thừng vào gốc tre gần đó chò. Và khi về
nhà, hay ra đồng có thì giò rản h là N guyễn Sinh
Sắc lại h í hoáy tậ p viết vào nền đ ấ t h ay lá cây.
Thấy vậy, b à con trong làng đều khen ngợi.
Một hòm, vào dịp m ùa x uân nấm M ậu Thìn
(1878), ông giáo H oàng Đưòng ỏ làng C hùa sang
thăm bạn dạy học là th ầy Vương Thúc M ậu ở làng
Sen. Trên đường đi qua c á n h đồng th ấy một c ậ u bé
đang say sưa đọc sách trê n lưng trâ u , trong lúc đám
trẻ quanh đó thì reo hò, chạy nhảy, ô n g giáo Hoàng
Đường dừng lại, lâ n la hỏi tên tuổi và gia đình cậu
bé đang ngồi trê n lưng trâ u đọc sách. Nghe xong,
động lòng thương, ông giáo Hoàng Đưòng nảy ra ý
định xin Nguyễn Sinh sắc về nuôi dạy. ô n g đến
gặp gia đình N guyễn Sinh Tiiuyết, bày tỏ ý định ấy.
A nh N guyễn S inh T huyết không khỏi p h ân vân,
lưỡng lự về trách nhiệm của m ình vói người em,
nhưng cảm động trưâc lòng n hân từ cao cả của ông
giáo Hoàng Đường, cuối cùng a n h đồng ý. Từ đây,
Nguyễn Sinh s ắ c được gia đình ông giáo Hoàng
Đưòng nuôi cho ă n học.
Gia đình ông giáo H oàng Đường vào h ạn g tru n g
lưu. Bà vợ cùng với h a i người con gái là H oàng Thị
Loan và Hoàng T hị An vừa làm ruộng vừa dệt vải.
Ngôi n h à gỗ năm gian, hai chái, ÌỢp tra n h , h a i gian
ngoài được dành làm nơi dạy học của ông giáo. Do
10
_____________C huyện với ngựởì cháu gán nhất cùa Bác Hổ^
có lóp học trong nhà, bà vợ và hai con gái cũng biết
ít chữ nghĩa,
Sáu năm sau ngày vế iàng Chùa, Nguyễn Sinh
Sắc trở th à n h một chàng trai khôi ngôi, vừa học
giỏi, vừa có lễ độ, càng được mọi ngưòi yêu mến.
Hoàng Thị Loan, con gái đầu lồng của ông giáo
Hoàng Đường cũng đã khôn lán và có duyên, ô n g
giáo bàn vối bà vợ chọn Nguyễn Sinh sắ c làm con
rê.
Năm 1883, lễ th àn h hôn của Hoàng Thị Loan và
Nguyễn Sinh sắc được tổ chức tại làng Chùa. Đôi vỢ
chồng trẻ được ỏ riêng trong ngôi n h à tra n h ba gian
xinh xắn mới dựng bên cạnh nhà cha mẹ. Căn nhà
đơn sơ nhưng bao giờ cũng ngăn nắp, sạch sẽ nhờ
b àn tay chàm chỉ của ngưòi vỢ trẻ, H ai người chung
sông ở đây đầm âm với cảnh;
Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.
Một năm sau ngày cưói, cô Hoàng Thị Loan sinh
ngưòi con gái đầu lòng đ ặ t tên là Nguyễn Thị
Thanh: bôn năm sau đó sinh ngưòi con tra i đặt tên
là Nguyễn Sinh Khiêm; rồi hai năm sau nữa sinh
ngưòi con tra i đ ặ t tên là Nguyễn Sinh Cung, tức là
Bác HỒ.
Nguyễn Sinh Cung cất tiếng chào đời khi nưốc ta
đã m ất hoàn toàn vào tay thực dân P háp (sáu năm
sau Hiệp ước Pa-tơ-nôt). Dân tộc V iệt Nam đứng
trưâc thảm hoạ diệt vong. Nhiều cuộc nổi dậy chông
thực dân Pháp, cứu nước nổ ra nhưng đều th ấ t bại.
11
hỏng
K hanh
Nguyễn Sinh Cung lớn lên trong tìn h thương yêu
đùm bọc của ông bà, cha mẹ, an h chị v à dì Hoàng
Thị An. Với sự săn sóc ân cần đó, lại được người vợ
luôn đảm đang làm tố t nghĩa vụ nuồi chồng, nuôi
con chu đáo, ông Nguyễn Sinh sắc càng có điều
kiện ngày đêm “dùi m ài kinh sủ”. ồ n g dự thi Hương
ần đầu ỏ Nghệ An, khoa Tân Mão (1891), nhưng chỉ
trú n g nhị trưòng"\ Không n ản chí, N guyễn Sinh sắ c
lạ i CỐ' g ắ n g học đ ể c h ò k h o a sau; đồng th ờ i tìm nơi
dạy học để có thêm điều kiện dạy con cái. N hưng
được hai năm đang trong không khí gia đình sum
vầy, ấm cúng thì ông Hoàng Đường lâm bệnh nặng
và qua đời (1893). Nỗi đau buồn tang tóc đó làm đảo
lộn sinh h o ạt bình thưòng trong gia đình. Để a n ủi
mẹ già và đỡ đần vợ con, Nguyễn Sinh sắ c niỏ lớp
dạy học ngay tại nhà (ở hai gian nhà ngoài của mẹ
vỢ) và càng không ngừng ôn luyện văn chương để
chuẩn bị đi thi Hương lần th ử hai. Kết quả khoa thi
Hưđng năm Giáp Ngọ (1894), ông đậu c ử nhân- Rồi
đến giữa năm 1895, N guyễn Sinh sắc vào K inh đô
H u ế dự kỳ th i Hội, song không đậu. ô n g lại xin vào
học trường Quốc Tử Giám ỏ Huế. N hưng vì hoc
bổng ít ỏi. ông phải về quê b àn vổi vợ cùng vào H uế
để tạo điều kiện giúp đỡ ông học tập. Từ đấy,
Nguyễn Sinh Cxmg cùng anh ruột N guyễn Sinh
Khiêm theo cha mẹ vào sông ỏ Huế. Được m ột thồi
gian tạm ổn thì gia đình lại gặp phải cảnh éo le, ông
(1) Tại các k ỳ tíìi Hương, tN H ội thòỉ đó, c á c ơ ìí sỉnh p h ã ỉ trẻi qưâ bốn
bưởc: nhất trường, nhị trường, tam trường, tứ trường. T ứ trưởng l i bước
cuối cùng ơ ể phẳn định học vị.
12
C ih u y ệ n với người cháu gần: n h ấ t của Bác Hồ
------------------------------------------------------------------------------------------- 1
Nguyễn Sin.h sắc hỏng khoa thi Hội nám 1898.
Hỏng thi kh'ông còn là nho sinh ở trường Quô'c Tử
Giám, m ất buôn cả khoản phụ cấp ít ỏi.
Trưốc hoà.n cảnh gia đình ngặt nghèo như vậy, bà
Hoàng Thị L oan càng phải cô' gắng thức khuya dậy
sớm để dệt vải. Ông Nguyễn Sinh sắc thì tìm nơi dạy
lọc. Hằng n gày dù bận đến mấy, ông sắc cũng
thường xuyên tran h th ủ dạy cho hai con là Nguyễn
Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung học chữ Hán, và đòi
hỏi hai con p h ải siêng năng học, chữ viết phải chân
phương.
Tháng 8 n ám Canh Tý (1900), ông Nguyễn Sinh
Sắc cùng con tra i cả về quê, Nguyền Sinh Cung ở lại
với mẹ tại Huế. Trong lúc ông sắc vắng nhà, bà
Hoàng Thị Loàn sinh thêm người con th ứ tư và lâm
bệnh nặng. T hấy mẹ mê man bất tỉnh, em mới sinh
là Nguyễn Sinh Xin thì đang đói sữa, khóc gào,
Nguyễn Sinh Cung tấ t bật chạy đi chạy về kêu cứu
bà con, cô bác quanh vùng đến chạy chữa cho mẹ,
N hiều người, kể cả số thầy thuốc giỏi trong vùng vội
vàng tìm đến giúp đỡ- Nhưng rồi vẫn không cứu
đưỢc. Trái tim bà' Hoàng Thị Loan đã ngừng đập
vào trư a ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý. Lúc đó
Nguyễn Sinh Cung - Bác Hồ của chúng ta chưa đầy
mười m ột tuổi.
H ay Un yợ mâ't, ông Nguyễn Sinh sắc lập tức trở
vào Huế. Ông đau đớn xót xa, thương tiếc vô cùng
n g ư ò i vỢ y ê u q u ý đ ã v ĩn h b iệ t ch ồ n g co n g iũ a tu ổ i
33, K hông thể sòng được vối cảnh “gà trông nuôi
con” giữa đất kinh th àn h Huế, sau khi đến cảm ơn
13
hống
K hanh
khắp lượt bà con cô bác, N guyễn Sinh sắc lại d ắ t
díu các con trỗ về Nam Đàn, Nghệ An.
Về lại Kim Liên, để vơi dần nỗi đau tang tóc và
cũng là yêu cầu của b à con xóm làng, ông Nguyễn
Sinh Sắc lại mở lớp dạy học tạ i mấy gian n h à hẹp
của một gia đình p h ụ huynh ở làng C hùa. Nguyễn
Sinh Khiêm và N guyễn Sinh C ung lại được học với
cha. Lúc n ày vốn H án tự của Nguyễn Sinh Cung đã
khá, vào lớp học, Nguyễn Sinh Cung v ẫn thích n h ấ t
là giờ tập đối chữ. Ai đối được câu h a y thường được
th ầy khen và bạn bè tá n thưởng. Có lần trong tiết
tậ p làm câu đôi ứng khẩu, thầy ra v ế đối: “Bạch
th an h n hân”, (nghĩa là m ắt trắ n g m ắt xanh). Một
số bạn xướng lên câu đối của m ình, nhưng chưa
được th ầy khen. N hác th ấy trong lóp có bạn vì m ắt
đau phải che m ảnh vải đỏ lên m é đầu, Nguyễn Sinh
Cung liền đọc: “Hồng hắc đầu”, (nghĩa là đầu đen
đầu đỏ). T h ế là cả lớp được một raẻ cưòi thoải mái.
Được ít lâu, có sự động viên của bà con họ mạc và
làng xóm, ông N guyễn Sinh s ắ c lại quyết định vào
H u ế đự thi lần nừa. N hưng không may, trong thời
gian ông Nguyễn Sinh sắ c vào H u ế dự thi Hội, bé
Nguyễn Sinh Xin ỏ n h à bị ốm rồi mất.
Cái chết của đứa em bé bỏng lại gieo vào tâm hồn
trẻ thơ của Nguyễn Sinh Cung một nỗi buồn da
diết. Nguyễn Sinh Cung chỉ còn cách lo ôn lại bài
vở, tra n h th ủ giúp đõ bà ngoại nhiều việc trong nhà,
ngoài vườn n h ư chàm sóc cây m ít, h àn g cau, bụi
chuõl, khóm hoa huệ. Bà ngoại - tức b à Hoàng
Đường - cũng r ấ t thương yêu đứa cháu bé n h ấ t là
14
_____________ C h u yệ n với người cháu gần nhất của Bác Hồ^
Nguyễn Sinh Cung bằng việc thưòng xuyên nhắc
nhỏ việc học tập, không để cho cháu chơi lêu lổng.
ít lâu sau, một tin vui đến vôi gia đình Nguyễn
Sinh Cung và dân làng: “ô n g Nguyễn Sinh sắc đậu
Phó bảng^''” (khoa thi Hội Tân Sửu, 1901). Dân làng
nô nức chuẩn bị trốhg cò, võng lọng đi rước quan Phó
bảng Nguyễn Sinh sắc “vinh qui bái Tổ”. Khi dân
làng kéo đến cầu Rượu, cách Kim Liên bôn cây sô' thì
vừa gặp quan Phó bâng Nguyên Sinh Sắc đi bộ từ
Vinh trỏ về. Mọi người mừng rỡ nổi trông, giương cờ,
lọng mời quan Phó bảng lên võng cho dân rưôc,
nhưng ông Nguyên Sinh sắc một mực từ chôl. T hế là
dân làng phải lặng trống, xếp cờ, lọng, đi bộ cùng
quan Phó bảng.
D ân làng ai cũng biết rằn g nhò có công lao của
ông giáo Hoàng Đưòng cùng gia (Knh bên vợ ỏ làng
Chùa, ông N guyễn Sinh sắ c mới th àn h đạt. Song
theo tập tục địa phương, ông Nguyễn Sinh sắc đã
vinh quy tạ i làng Sen quê nội.
Trước khi ông Nguyễn Sinh sắc trở về, làng Sen,
xã Kim Liên đã xuất quỹ công ích m ua một ngôi
n h à năm gian bằng gỗ, lợp tranh. Ngôi nhà dựng
trê n khoảng đ ấ t công, gần giếng Cốc. ó n g Nguyễn
Sinh Thuyết cũng dựng cho em ba gian n h à nhỏ
dùng làm n h à ngang. Làng Sen vui như ngày hội.
Từ già chí trẻ, ai cũng tự hào vì lần đầu tiên trong
xã có người đậu Đại khoa.
(1) P h ó bàng là học vị dưởi Tiến s l Củog ổậu Ph ò bẻng khoà này cò
õng Phan Chàu Trình.
15
hống
K hanh
về làng Sen, ông Phó bảng làm lễ “vào làng” cho
hai con trai. Chắc ông nghĩ đến tương lai của con,
bèn ghi tên Nguyễn Sinh Khiêm là N guyên T ấ t
Đ ạt, N guyễn Sinh Cung là N guyễn T ấ t Thành.
Từ đó, hai anh em Nguyễn Ta't Đ ạt và Nguyền
T ất T hành được cha gửi sang học với th ầy Vương
Thúc Quý, con tra i cụ Vucfng Thúc M ậu đ ã đậu Cử
n h ân khoa T ân Mão và cũng nổi tiếng về chữ đẹp,
giỏi câu đối, lại tích cực tham gia hoạt động yêu
nước. Một lần, đang dạy, th ầy Quý th ắp đèn, dầu
sánh ra , th ấy vậy th ầy liền r a cho học trò m ột vê
đối:
''Thắp đèn lên dầu vương ra đ ể '
Có học trò lớn tuổi đối m ột câu r ấ t chỉnh:
''Đốt nhang rồi gió quạt hay tà n ”
Trò Nguyễn T ất Thành cũng liền xin đôì:
“Ci/ỡỉ ngựa dong thẳng tiến lên đường"
T hầy Quý khen cả hai trò, như ng với câu của
Nguyễn T ất T hành thầy cho rằng đốỉ th o á t hơn, thể
hiện ý chí và hoài bão lớn hơn, không gò bó với
nghĩa đen của từng từ trong vế áối.
Thời gian sau, thầy Vương Thúc Quý bận hoạt
động bí m ật với cụ Phan Bội Châu, Nguyễn T ất
T hành lại được cha gửi sang học với thầy T rần
T hân d làng Ngọc Đ ình, cùng xã C hung Cụ. Đó là
một n h à nho thông minh, th a n h bạch, điểm dạm,
thường khuyên học trò phải biết tự sửa lòng m ình,
chớ đế đồng tiển làm đen tôì lương tâm .
16
_____________ C h uyện với ngưdi chậu gần nhất của Bác Hỏ^
Năm 1903, sau khi nân ná ỏ n h à “cáo ôm” chưa
chịu ra làm quan'“, ông Nguyễn Sinh sắc đưa hai
con Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tâ't T hành lên huyện
T h an h Chương, nơi đâ't cũng trù phú, nhưng dân
nịỉhèo như Nam Đàn, đê vừa mỏ lớp dạy học vừa
bày vẽ cho con. Lớp học mở ra đã đi vào nền nếp,
đưỢc nhân dân trong vùng mến mộ, gửi nhiều con
em đến học, thì đùng một cái có tin bà ngoại ỏ quê
lâm bệnh nặng, ỏ n g Nguyễn Sinh sắc lại đưa hai
con trỏ về để chăm sóc bà ngoại. Vì tuổi cao, bệnh
nặng, bà ngoại (là bà Hoàng Đường m à dân làng
thường gọi là bà Kép) đã qua đòi. T hế là trong tuổi
niên thiếu của Bác Hồ - Nguyễn T ất T hành - đã
phải chịu bốh cái tang của gia đình; mẹ, em, ông
ngoại, bà ngoại.
Sau kỳ đại tang đó (1904), ông Nguyễn Sinh sắc
lại sang huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh dạy học, và đưa
Nguyễn Tất T hành đi cùng để kèm cặp. Tới đây
N guyễn Tất T hành được tận m ắt thâV cảnh sống xa
hoa, đài các của bầu đoàn th ế tủ Hoàng Cao Khải,
m ộ t t ê n g ia n h ù n g , n h ờ bò đỢ Tây m à được th ă n g
đến tước Q uận công. Y đang xây dựng dinh thự đồ
sộ ỏ làng Đông Thái, bên cạnh những vùng bị triệ t
hạ ta n hoang trong cuộc đàn áp khởi nghĩa P han
Đ ình Phùng. Một thòi gian sau, Nguyễn T ất T hành
lại đưỢc theo cha đi đây đi đó, n h ư đến Quỵnh Đôi,
một làng nổi tiếng lắm người học giỏi, đỗ đạt cao;
đến là n g H ậu L u ật huyện Diễn Châu; đến xã Tràng
ựĩ) Th^o p/)ểp nưữc ìù c b ấ y giò, những vị đa ơậu Đại khoa, sa o m ộỊ thởi
gian \ in h qơy bối íđ" phải trở Ịạị Kinh đõ chở fậnh.
17
hổng
K hanh
Sdn, huyện Y ên T hành; rồi ra tậ n N am Đ ịnh, phủ
Kiến Xương, T hái Bình...
★
* *
Gà rừng cấ t tiếng gáy canh hai, tôi vẫn chưa ngủ
được - N guyễn Sinh Đ ịnh kể tiếp. - H ết nhữ ng câu
chuyện về thòi niên th iế u của Bác Hồ, tôi lại mường
tưỢng đến h ìn h ảnh Ngưòi lúc chiều 30-4-1952 m à
tôi mới được th ấ y lần đầu. Vóc dáng Người, khuôn
m ặt, đôi m ắ t, n ụ cười sao giông cô T hanh v à chú cả
Khiêm đến thế.
Cô T hanh, tê n th ậ t là N guyễn T hị Bạch Liên,
sinh năm 1884, chị ruột của Bác Hồ. Theo bô”tôi kể
lại, trong cuộc sồng, cô T hanh là một phụ nữ đảm
đang, dũng cảm, kiên nghị. N ăm lên mười một tuổi,
cô Thanh đã giúp bà ngoại lo liệu m ột số việc nội trợ
gia đìah. N ăm lên mưòi bảy tuổi, sau k h i b à Hoàng
Thị Loan - mẹ của Bác Hồ - qua đòi ỏ Huế, ông
Nguyễn S inh sắ c đưa N guyễn Sinh Cung và
Nguyễn Sinh Xin trở về quê, cô T hanh lại phải
chảm sóc các em, n h ấ t là lúc đó Nguyễn Sinh Xin
chưa đầy m ột tuổi, đang k h á t sữa mẹ. Đến tuổi
thành niên, cô T h an h là một cô gái đẹp, có học,
duyên dáng, như ng đôi khi cũng hay lý sự. Nhiều
thanh niên trong vùng đến dạm hỏi, cô chẳng n hận
lòi một ai. M ột th a n h niên bên Đức Thọ, thường gọi
là “Cậu ấm ” n h à quan lớn, n h à giàu sang, đến tò
tình muốh hỏi cô làm vợ, có người khuyên cô nên
cô T h an h hóm hỉnh đáp lại:
18
_____________ C h u yện với ngưởi cháu gần nhất của Bác Hổ^
- Ấm gì rồi cũng vd?
Riêng “an h tú ” người huyện Hưng N guyên (vì đã
đậu tú tài cho nên n h ân dân địa phương thường gọi
“anh tú ”) bị bọn cầm quyền nghi đi liên lạc cho
nghĩa quân chông lại chúng nên chúng b ắ t an h đem
về giam ồ Vinh. Khi được tin cha “anh tú ” mất, cô
T hanh tức tốc xuông Vinh, gập Tổng đôc và Công sứ
Nghệ An đòi chúng phải th ả “an h tú ”, để an h được
về chịu tang, nếu không thì cô sẽ ngồi tù thay “anh
tú ”. Trước th ái độ khảng khái và kiên quyết đó, bọn
cầm quyến buộc phải th ả “anh tú ”, v ể lạ i nhà, cô
T hanh còn mưa chuối, hướng và đi đến tậ n Hưng
Nguyên phúng viếng cha “anh tú ”, rồi nhẹ nhàng
khuyên anh;
- N ếu chỉ vì lo xây dựng gia đình riêng thì từ nay
an h đừng lên Kim Liên nữa m à bị nghi ngò là liên
lạc với nghĩa quân.
N ăm hai mưdi sáu tuổi, trong m ột chuyến đi liên
lạc vối nghĩa q uân (của Đội Quyển, Đội P hán ỏ
T h an h ChUđng, T ân Kỳ nổi lên chống Pháp) cô
T hanh bị bọn cầm quyền đón bắt. Chúng đánh đập,
tra tấ n dà man, cô vẫn không cung khai một lòi về
nghĩa quân là ai, ở đâu...
Sau khi ra tù (cuôi năm 1911), cô vẫn hăng hái
n h ậ n nhiệm vụ giúp nghĩa quân, bằng cách mở một
q uán cơm tạ i th à n h phố Vinh, để bể ngoài là buôn
bán ĩàm ăn, nhưng bên trong lây đó làm nơi liên hệ
vâi lính “k h ố xanh, khô' đổ”, m ua súng cho nghĩa
quân. Được ít lâu, việc m ua trộm súng bị bại lộ, cô
lại bị thực dân Pháp và phong kiến b ắ t giam lần
19
hổng
K hanh
thứ hai và k ế t án “đánh một trả m trương, giam
chín năm , đày cách xa Nghệ An õ.ooo dặtn”.
Ra khỏi tù ồ Q uảng Ngãi, vê' lại làng Sen, được ít
âu, cô T hanh lên thị tr ấ n Nam, Đ àn mở m ột quán
nhỏ b án hàng xén ở dốc chợ Sa N am với mục đích
vừa tự nuôi sông mình, vừa dò la làm công tác binh
vận, nắm tìn h hình cung cấp tin tức cho nhữiìg
ngưòi hoạt đ ộ n g cách mạng. Sa N am là chợ lớn n h ất
trong huyện, mỗi th á n g họp sáu phiên chính, còn
thường ngày vẫn có người vào ra nhộn n h ịp trao đổi
hàng hoá. Từ chợ Sa N am , các th ứ h àng nông, lâm
sản của N am Đ àn theo tuyến đưòng th u ỷ sông
Lam, đưòng bộ 49, đưòng đê 42, chuyển đi khắp các
xã trong huyện và nhiều nơi trong tỉn h , n h ấ t là
th àn h phô' Vinh. Cho nên dân gian đã có câu ca:
Sa Nam trên chợ dưới đò
B ánk đúc ba dãy, thịt bò bê thiên.
Đ ứng ỏ q uán cô T hanh, nhâ't là vào n h ữ n g ngày
tròi trong nắng đẹp là có thể th ây được địa th ế bôn
phía của huyện Nam Đàn. P hía Tây là dòng sông
Lam, trừ m ùa lũ nước chảy xiết, đục ngầu, còn
quanh năm trong xanh, hiền hoà. P hía Tây N am là
dãy núi Thiên N hẫn chạy xuổhg bến p h à Linh
Cảm, gần quê hương P h an Đình Phùng, T rầ n Phú.
Phía Đông Bắc là địa đầu dãy n ú i Đ ại H uệ, thuở
người an h h ù n g áo vải Q uang Trung, trê n đưòng
đưa q uân từ N am ra Bắc đại p h á q u ân T h an h , đã
tạm dừng lại đây lập đồn trú luyện quân, và mộ
thêm lính. Giữa hai dãy núi này là vùng vừa đồng
bằng vừa b án sơn địa, xoè ra như hình quạt. Trong
20
C h uyện vỏí người cháu gần nhất của Bác Hồ
đó có làng Đan Nhiệm, quê hương n h à chí sĩ yêu
nước P h an Bội Châu, và làng Sen, quê hương Chủ
tịch Hồ Chí M inh vĩ đại.
Tôi còn nhớ • vẫn lòi Nguyễn Sinh Định - một
hôm lên chợ Sa Nam, thấy cô T hanh đang chửi như
tá t nước vào m ặt tên Tây đồn N am Đ àn vì tội trắng
trỢn chọc ghẹo con gái và quỵt tiền m ua gà, vịt của
b à con nông dân.
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám th à n h công, bà
con, họ hàng làng Sen nhìn ảnh Chủ tịch Hồ Chí
M inh, cứ nửa tin, nửa ngờ:
P hải chăng đây là Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn
Tâ't T hành - Nguyễn Sinh Cung?
Cô T hanh là người đầu tiên thay m ật họ Nguyễn
Sinh và bà con trong làng ra Hà Nội gặp Bác Hồ,
như cô nói: “Đúng cậu Côông rồi, nhưng phải ra tận
nđi xem mới yên tâm!” Côông tức là Cung - Nguyễn
Sinh Cung - tên của Bác Hồ lúc còn nhỏ m à bà con
địa phương thường gọi là Cóông.
Đến nay, tôi vẫn nhớ hôm đó cô T hanh mặc quần
áo nâu, đầu chít khăn nhung, miệng nhai trầu, đôi
môi đỏ tươi, tay xách hai con vịt và bỏ hai chục
trứ ng gà chung quanh phủ tro vào cái bị cói, vai đeo
nái, được bà con tiễn ra đường 49 đê đón xe Nam
Đ àn - Vinh, rồi lên tàu lửa ra Hà Nội. Vui n h ất là
hôm cô T hanh vổ lại làng Sen. ĐưỢc tin cô từ Hà
Nội về, cả bên nội, bên ngoại và bà con quanh vùng
tới tấp tìm đến đông như mở hội, đứng^ vây quanh
lây cô, hỏi chuyện tíu tít, Cô T hanh kể rằng vào đến
cống n h à Cụ Hồ làm việc (lúc đó ỏ Bắc Bộ phủ, nay
21
h ổ n g K hanh
■----------------------------------------------------------------- -—
là n h à khách C hính phủ, ở đường Lý Thái Tổ) thì
gặp một ngưòi hỏi ngay:
■Bà có việc gì, cần gặp ai?
• Tôi là chị Cụ Hồ. Tôi ra thám Cụ một ch ú t rồi
tôi về.
Nghe vậy, ngưòi gác cổng bảo cô chò. Quả nhiên,
chờ một chốc là có người ra dẫn cô vào. Kể đến đây,
hai khóe m ắt cô rưng rưng. Niềm xúc động, tự hào
dâng lên. Rồi cô k h ẳ n g định trưốc bà con hai bên
nội, ngoại xóm giềng đứng vây quanh:
• Đúng một tră m p h ầ n tră m rồi! Cụ Hồ Chí M inh
là Nguyễn Sinh Cung, là Nguyễn T ất Thành, là
Nguyễn Ái Quôc.
Ngừng một lát, lấy k h ă n lau nưóc m ắt vì không
n én nổi xúc động, rồi cô T h an h cho b iết khi h a i chị
em gặp n hau sau bôn mươi năm xa cách, ngưồi nào
cũng nghẹn ngào, m ừng mừng, tủ i tủi. Chuyện trò
được khoảng nử a giờ, th ấ y có ngưồi vào trìn h việc,
biết cụ HỒ đang phải giải quyết nhiều việc cần kíp
của đất nưốc khi mới giành được độc lập, cô T hanh
về nhà ngưòì quen ở phố^ H àng Nón nghỉ. Hôm biết
cô sắp vê' quê, Bác Hồ đang bận quá nhiều công
việc, phải nhò ngưòi đem đến biếu cô mấy m ét vải
lĩnh để về may quần áo gọi là chút quà kỷ niệm sau
bôn thập kỷ chị em x a cách, n ay gặp lại. Từ đó cô
T hanh sống ỏ quê làn g Sen, ngày đêm vận động trai
gái gia nhập bộ đội, đi th a n h niên xung phong mỏ
đưòng phục vại cuộc kháng chiến chông thực dân
Pháp. Rồi cồ mâ't vào lúc chiến dịch Điện Biên Phủ
sắp kết thúc th ắ n g lợi, thọ tròn bảy mưdi tuổi.
22
C h u yện vdi ngưỏi cháu gần nhất của Bác Hồ
Còn chú cẩ Khiêm - vẫn lòi Nguyễn Sinh Định tức là Nguyễn T ất Đ ạt - Nguyễn Sinh Khiêm, sinh
nám 1888, anh ruột Bác Hồ, Theo bô”tôi kể lại, chú
cả Khiêm biết cả chữ Hán, chữ Pháp, chữ quốc ngủ,
là người đầu tiên dạy chữ quốc ngữ cho con cháu và
n h ân dân trong vùng. H ằng ngày chú thường mặc
bộ quần áo m àu nâu, đi đôi guốc gỗ, sông phóng
khoáng, tín h tình vui vẻ, hay cười, khinh ghét bọn
quan lại hách dịch, th am nhũng, hay giúp đỡ ngưòi
nghèo, yêu trẻ nhỏ, bênh vực những người yếu th ế
loặc gập phải oan trá i bằng cách giúp viết đơn cho
họ gửi đến cửa quan để khiếu nại. Khi cô Thanh
th am gia hoạt động giúp nghĩa quân, chú cả Khiêm
cũng góp sức tích cực, cho nên thực dân và phong
kiến b á t chú đày đi xa tỉn h Nghệ An. Ra tù, trỏ về
àng, chú lại hưống dẫn nhân dân cải cách các sinh
hoạt theo lôl mới, tổ chức mở trường dạy học cho
n h ân dân, lập hội diễn tuồng, cổ v ũ tin h th ầ n yêu
nước và ý thức dân tộc.
Năm tôi lên mưòi sáu tuổi, bô" tôi giao tôi cho chú
cả Khiêm mới ở H u ế về (sau khi bị thực dân Pháp
b ắ t đày đi Lao Bảo rồi Quảng Ngãi vì có tham gia
h oạt động cách mạng) để vìía được dạy dỗ, vừa hằng
ngày giúp đõ chú cả Khiêm nhủng việc lặ t vặt cần
thiết. Tôi nhớ một hôm cùng chú cả Khiêm đi chợ
Vạc. Gặp một số người m ua hình nộm, vàng m ã về
cúng và đô't để gọi hồn thiêng của m a quỷ lên chữa
bệnh cho con cháu, chú cả Khiêm dừng lại giải thích
v à k h u y ê n h ọ bỏ tụ c lệ m ê tí n đó, h ư ớ n g dẫn cách
chữa và lấy tiền trong tú i cho họ góp p hần mua
e
23
hóng
K hanh
thuôc chữa. Trên đường vê' nhà, gặp một nông dân
vác cày ra đồng, mặc quần áo rách tươm, vá chằng
vá đụp, chú cả Khiêm liền cởi chiếc áo mặc ngoài
của mình đem cho người nông dân đó- ít hôm sau,
vào một đêm trồi tôl như bưng, chú cả Khiêm cầm
bó đuôc đi trước và bảo bô' tôi khiêng một đầu, tôi
íhiêng một đầu cái tiêu sàn h trong đó đựng hài côt
bà Hoàng Thị Loan đưa từ vườn n h à lên chôn ỏ
choảng đát Ao Hồ ■Động T ran h trê n núi Đ ại Huệ
cao gần một trăm m ét so vối m ặt cánh đồng xã Nam
G iang dưới chân núi. Đứng ở đây, nhìn về phía
N am thấy rõ dãy núi Thiên N hẫn còn có dấu tích
th à n h Lục Niên của Lê Lợi xây dựng; có m iếu thờ
danh sĩ nổi tiếng thời Tây Sơn là La Sơn Phu Tử
Nguyễn Thiếp. N hìn về phía Tây th ấy núi Đ ụn còn
có dâ'u tích th àn h V ạn An do M ai Thúc Loan xây
dựng khi chông quân xâm lược n h à Đường. N hìn
xuông phía Đông N am thấy núi Độc Lôi và Đại Hài
có mộ tổ Quang T rung - Nguyễn Huệ.
Lúc ở quê, khoảng cuối nám 1883, bà H oàng Thị
Loan lấy ông Nguyễn Sinh sắc, một năm sau sinh
ngưòi con gái đầu là cô Thanh, bôn năm sau đó sinh
người con th ứ hai là chú cả Khiêm, hai năm sau khi
sinh chú cả Khiêm thì sinh Bác Hồ. õ n g N guyễn
Sinh Sắc đậu được Cử n hân lại phải vào H u ế học.
Bà Hoàng Thị Loan cùng đi theo chồng vào H u ế và
sinh thêm người con thứ tư. Sinh con trong lúc tú n g
thiếu, bà Hoàng Thị Loan phải nhò h àng xóm giúp
đỡ. Trưốc cảnh ngộ vâ^t vả ấy, bà đ ặ t tên cho đứa
con th ứ tư là N guyễn Sinh Xin. N hưng sau đó
24
C h u yện với ngưòi cháu gán nhất của Bác Hồ
không lâu bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh và mâ't ỏ
Huế, khi mới bước vào tuổi ba mươi ba. Khi đó theo
bố^ tôi kể lại, ông Nguyễn Sinh sắc và hai người con
là cô T hanh và chú cả Khiêm đang ò quê hương
H oàng T rù lo sửa phần mộ ông bà. Nguyễn Sinh
C ung chưa đầy mưòi một tuổi. Sông trong một căn
n h à nhỏ ở Huế, gặp hoàn cảnh mẹ chết, vắng cha,
vắng chị, vắng anh, Nguyễn Sinh Cung phải bồng
bế, chàm sóc em m ình là Nguyễn Sinh Xin chưa đầy
một tuổi. Trỏ lại cô” đô Huế, ông Nguyễn Sinh sắc
sông cảnh gà trông nuôi con gặp rấ t nhiều vất vả.
í t lâu sau, gia đình ông lại trở về quê, rồi gặp bất
hạnh: N guyễn Sinh Xin chết.
K hoảng năm 1922, cô Thanh đi vào H uế đưa hài
cót bà H oàng Thị Loan về chôn sau vưòn nhà.
C hú cả Khiêm, bồ'tôi và tôi sau khi loay hoay đào
huyệt, đặt tiếu sành xuống ngay ngắn, lấp đất đắp
xong mộ bà Hoàng Thị Loan thì trời sáng hắn. c ả
ba ngưòi đứng lặng trước nén hương thờm ngát cắm
trê n mộ bà Loan, nghiêng m ình tưởng nhớ ngưòi
m ẹ , n g ư ờ i th ím , n g ư ờ i b à cô đ ã từ n g t ầ n tả o la m lũ
h ế t mực yêu chồng, thương con, thuỷ chung với họ
h àng chòm xóm. Trong giây phút tra n g nghiêm ây,
tôi bỗng nghe chú cả Khiêm lẩm nhẩm khấn thành
tiếng:
Mẹ ơi! Chúc mẹ yên nghỉ ngàn th u ở đây. Em
Côông, con của mẹ n h ất định sẽ về nước,
Q uả đúng như thế, không ngờ câu nói ấy của chú
cả Khiêm đã th àn h sự thật. Không đầy một năm
sau đó, n h ân dân được tin Nguyễn Ai Quốc sau ba
25
hóng
K hanh
mươi năm xa Tổ quốc, qua 27 quốc gia trê n bôn
châu lục đi tìm đưòng cứu nưóc đã vê' Pác Bó lãn h
đạo V iệt M inh đứng lên đ án h Tây đuổi N hật, giành
độc lập cho đ ấ t nước.
Cách m ạng T háng T ám th à n h công • vẫn lòi
!'^guyễn Sinh Đ ịnh - sa u khi cô T hanh ra H à Nội
gặp Bác Hồ biết rõ chắc chắn đó là Nguyễn T ất
T hành ■ Nguyễn Ái Quốc, em ruột mình, chú cả
Khiêm bảo tôi cùng đi xuốhg Vinh, để lẽn tà u lử a ra
H à Nội th ăm Bác. Tôi xách chiếc va-ly đan bằng sợi
m ây cũ kỷ, trong bỏ m ột bộ quần áo và mây th ứ lặ t
v ặ t của chú cả Khiêm, rồi bưốc theo chú, lòng trà n
đầy p hân khỏi. N hưng không may, hai chú cháu
xưốhg đến Vinh thì Id tà u , phải trỏ lạ i làng Sen.
Hôm sau, tôi b ận đi h u ấ n luyện 'Võ bị”, chú cả
Khiêm quyết định đi m ộ t m ình ra H à Nội gặp Bác
HỒ.
Cũng như cô T hanh, hôm về lại làng Sen, chú cả
Khiêm đưỢc bên nội, bên ngoại và bà con trong xóm
đến vây quanh hỏi chuyện ríu rít. Chú cả Khiêm kể
rằn g lúc đến cổng n h à làm việc của Bác Hồ, chú
dừng lại lây b ú t viết n g ắn gọn mấy chữ vào m ột
m ảnh giấy rộng bằng h a i cái bao diêm “Đ ạ t đến
th ăm T hành” rồi đưa cho người gác cổng nhờ
chuyển lên Chủ tịch nưốc đang bận lo trả m công
nghìn việc của đ ấ t nước sau khi mới giành được
chính quyền vể ta y n h â n dân. Chờ khoảng b a p hút
thì chú cả Khiêm được lên tần g hai, nơi làm việc
của Bác và các đồng ...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





