CHÀO XUÂN MỚI
Búp sen xanh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:56' 15-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 45
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:56' 15-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 45
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Đôi Nét Về Tác Giả
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 1
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 2
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 3
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 4
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 5
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 6
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 7
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 8
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 9
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 10
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 11
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 12
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 1
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 2
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 3
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 4
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 5
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 6
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 7
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 8
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 9
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 10
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 11
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 1
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 2
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 3
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 4
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 5
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 6
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 7
BÚP SEN XANH
Sơn Tùng
www.dtv-ebook.com
Đôi Nét Về Tác Giả
Nhà văn, nhà cách mạng Sơn Tùng: "Năm 1941, ở tuổi 16, tràn
đầy nhiệt huyết, Sơn Tùng đeo ba lô hoà vào dòng chảy của cơn lốc
cách mạng. Ban đầu ông hoạt động trong phong trào thanh niên,
sinh viên thủ đô. Sau khi Hà Nội giải phóng, Sơn Tùng vào học tại
trường Đại học nhân dân và sau đó trở thành cán bộ tuyên truyền
của Đảng. Năm 1961 ông về viết cho báo Nông nghiệp và từ cuối
năm 1962 là phóng viên của báo Tiền phong. Năm 1967 ông được
điều vào Nam thành lập và phụ trách tờ Thanh niên giải phóng. Năm
1971 ông bị thương nặng và rời chiến trường miền Nam mang trên
mình 14 vết thương, 3 mảnh đạn còn găm trong sọ não. Nửa người
bên phải hầu như bị liệt, thần kinh chéo bị tổn thương nặng, mắt bên
phải bị mờ. Ông được đưa sang Trung Quốc chữa bệnh và được
vào viện điều dưỡng 3 năm liền. Sau đó ông xin về nhà và … luyện
khí công. Với nghị lực phi thường, ông khổ luyện từ 2h sáng tới 8h
tối, sức khoẻ ông dần dần bình phục. Trí nhớ cũng hồi phục dần. Khi
tay phải duỗi ra được, chân tập tễnh bước thấp bước cao, Sơn
Tùng đã lao vào công việc. Điều đầu tiên mà ông làm là truy tìm cho
được tác giả của lá Quốc kỳ mà trong những năm tháng ở chiến
trường miền Nam ông đã dày công tìm kiếm. Hàng chục chuyến đi,
hàng ngàn giờ lao tâm khổ tứ, cuối cùng ông đã tìm ra được cho
chúng ta tác giả Quốc kỳ: Nguyễn Hữu Tiến".
“ Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hoi tanh mùi bùn”.
Loài hoa sen tinh khiết ví như tâm hồn Bác vậy luôn giản dị đến
vô cùng “ gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” quả đúng là như vậy
Bác sinh ra trong thời loạn lạc nước mất nhà tan nhưng Bác không
chịu đứng nhìn thực dân Pháp đày đoạ dân ta làm càn ở trên nước
Nam này được và rồi Bác đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước
tìm lối thoát mới cho dân tộc. Và có lẽ một băn khoan lớn nhất của
độc giả là sự xuất hiện hình tượng người con gái Sài Gòn có tên là
Út Huệ ở gần cuối sách. Với những tình tiết hấp dẫn như vậy sao
chúng ta không một lần thử đọc và cảm nhận tác phẩm này.
BÚP SEN XANH
Sơn Tùng
www.dtv-ebook.com
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 1
Cơn dông mùa hạ dấy lên ở phía nam. Mây đen từng khối ùn ùn
như nấm từ dưới chân trời đùn lên. Thoáng chốc, các ngọn núi của
dãy Dăng Màn (1), Thiên Nhẫn … đã ngập chìm vào mây đen đục.
Mảng nắng hẹp dần. Cảnh sắc hai bờ sông Lam đã ngả màu sẫm.
Những bóng mây trôi qua các cánh đồng chiêm đang mùa thu
hoạch, loang lổ, mảng sáng, mảng tối, ô xanh, ô vàng, nhìn về xa xa
như một tấm da báo trải rộng hút tầm mắt.
Từ trong khối mây đen dày đặc, thỉnh thoảng quắc lên một roi
chớp xanh lè, ngoằn ngoèo rạch sáng vào da trời chì. Tiếp sau roi
chớp là tiếng trời gầm …
Bên gốc cây đa đầu làng Chùa (2) có mấy con bò đứng ngủ,
mồm nhai uể oải, những cục bọt trắng xốp đọng hai bên mép.
Những con ruồi bò bay nhớn nhác tránh né mỗi lần con bò quất
mạnh cái đuôi vào hai bên hông. Một tốp người đi làm đồng về ngồi
nghỉ chân bên gốc đa đang gạ ông Xẩm hát cho nghe một bài mới.
Ông Xẩm ngước đôi mắt mù lòa về phía có tiếng sấm xa xa, hai
cánh mũi phập phồng đón nhận mùi hoa sen từ đầm làng đưa tới.
Ông nhíu đôi lông mày đen, hỏi những người đang ngồi bên cạnh:
– Trời sôi bụng hay … hay là tiếng súng của cụ Đình (3) ở trên
rừng lại kéo về nữa đó, bà con?
Qua nhiều giọng cười giòn, ông Xẩm gật gật đầu nghe, vẻ đắc ý
với câu nói đáp lại lời ông hỏi:
– Tiếng sấm của cơn dông chiều đó ông ạ. Trời dạo này loạn
dông chứ có cơn mưa nào đâu! Còn cái công việc “bình Tây” của
các quan Nghè, quan Cử thì … vận nước Nam mình hỏng mất rồi!
Vua Hàm Nghi đã bại trận, Tây dương (4) đày vua đi biệt xứ. Ôi! Có
còn chi nữa mà mong với đợi, hở ông?
Một cụ già, tay vót hom giỏ, từ nãy vẫn ngồi im lặng nghe mọi
người trò chuyện. Bỗng cụ cắm lưỡi mác xuống đất, tựa hai bàn tay
lên cán, mắt chớp chớp, nói:
– Răng lại nhủ là “ có còn chi nữa mà mong với đợi”? Nước có
lúc suy lúc thịnh, nhưng có khi mô hết được những bậc hiền tài lo
việc giữ nước, việc cứu nước. Cây cổ thụ ni bị gãy thì rồi sẽ có cây
khác mọc lên. Rừng không bao giờ hết cây, dân không khi mô hết
người tài cao chí lớn mô.
Mọi người nhìn cụ già vẻ hợp lý. Ông Xẩm đưa ống tay áo lên lau
hai hố mắt. Ông vẫn mấp máy cánh mũi về phía ngọn gió:
– Dịp ni sen nở nhiều. Ngồi ở chỗ mô cũng được ngửi hương
sen.
– Ông ơi – một cô bé gái gọi – cháu biếu ông mấy cái gương sen
luộc, ông ăn cho mát ruột ạ.
Ông Xẩm cầm trong tay những cái gương sen đã luộc chín nhũn
như tấm mền ong, giọng cảm động, hỏi:
– Cháu là con nhà ai mà thảo ăn rứa?
Cô bé chỉ mỉm cười. Mấy người ngồi cạnh ông già mù nói to:
– Con gái anh nho Sắc đó, ông ạ.
Ông Xầm nở nụ cười trên cung môi héo hắt, nói:
– Ngỡ đứa mô chứ cháu Thanh, con gái đầu lòng của anh chị
nho Sắc, cháu ngoại thầy tú Hoàng (5) thì … thì tôi mô có lạ lẫm chi!
Để rồi tôi hát cho bà con ở đây và cháu Thanh cùng nghe nhớ.
Bé Thanh lại đưa ông Xẩm cái bầu nước:
– Ông uống ngụm nước mát rồi hẵng hát, ông ạ.
– Cảm ơn lòng thảo của cháu. Ông không khát. Chứ cháu đem
nước ra đồng cho ai rứa?
– Dạ … cho mệ cháu ạ.
– Ờ. Vậy ra mệ cháu vẫn chưa ở cữ, còn đi làm đồng xa được.
Chứ … cháu thích được bồng em gái hay bồng em trai, nói cho ông
biết để ông hát mừng cháu nào?
– Cháu thích mệ cháu sinh em trai nữa ạ.
Ông già mù gật đầu, mỉm cười, tay lần mò lên dây đàn. Mọi
người ngồi quanh gốc đa đã xúm xít bên ông Xẩm. Mấy con bò vẫn
lim dim mắt ngủ, bọt mép tụ tan, tan tụ. Tiếng đàn bầu réo rắt bay
lên theo lời ca của ông Xẩm:
Trời có thấu chăng trời!
Nước Nam cơ khổ nhiều đời đắng cay
Vì chưng Tây thổ sang đây,
Nó vào Gia Định, ở rày Đồng Nai.
Dần dà ra Lục tỉnh, Đàng ngoài,
Các quan tâu đánh, vua ngài không cho.
Bởi vì vua Tự Đức không biết đường lo,
Nó vào nó chiếm mất cả thành đô kinh kỳ …
Bé Thanh chưa hiểu thấu ý nghĩa lời ca, nhưng hai mắt của bé
lim dim, bé lắng nghe tiếng đàn ông Xẩm. Những người ngồi cạnh
bé Thanh, mặt luôn luôn biến đổi theo từng lời ca của ông Xẩm.
Trời ơi có thấu lúc này,
Khắp nơi khổ cực rạc rài tấm thân.
Một nước làm năm bảy nước ăn,
Để cho quan Tây bắt phu, bắt thuế trong dân nặng nề.
Các quan ta tức giận nhiều bề,
Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan
Để mà khôi phục nước Nam …
Đang lúc mọi người đắm vào tiếng đàn não ruột, lời ca xé lòng
của ông Xẩm thì một bà tựa tay trên lưng bò, chỉ tay về phía đầm
sen, gọi:
– Cháu Thanh ơi! Mệ cháu … Mệ cháu … có chuyện chi … người
ta đang dìu mệ cháu về nhà kia kìa!
Bé Thanh với cái tuổi lên bảy, dáng mảng khảnh, rời khỏi gốc đa,
tay cầm cái bầu nước, chạy hối hả về những người đang dìu mẹ
mình. Chạy đến với mẹ nhưng trong đầu bé Thanh vần còn vọng
theo những lòi ca của ông Xẩm:
“… Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan … Để mà khôi phục nước
Nam … kẻo dân tình cơ khổ gian nan nhiều bề …”
Dưới bóng tre đầu làng, bà đồ ( vợ ông đồ Hoàng Xuân Đường,
bà ngoại của bé Thanh) cùng mấy người đứng tuổi cũng đang chạy
ra phía đầm sen. Gió đồng lùa những dải lưng, dải yếm của họ bay
phấp phới về phía sau …
Về tới đầu sân, cơn đau chuyển sinh lại thốn thoáy, mệt quá chị
nho Sắc phải ngồi thụp xuống bên gốc cây thị. Chim chiều về tổ
đang ríu rít trên ngọn cây. Bà đồ chốc chốc lại mắng yêu con gái:
– Tham công tiếc việc cho lắm … Đã biểu ở nhà, gần kỳ sinh nở
rồi … đừng có đi mần đồng xa nữa …
Bà giục cô An, em gái của chị nho Sắc:
– An, con vô quạt than lên … Mau …
Bà lại giục bé Thanh:
– … Cháu đi sang bên nhà với ông. Giữ cả em Khiêm ở bên đó.
Tối ni tụi bay ăn cơm, ngủ ở bên nhà bà cả nhớ.
Bé Thanh bước qua dãy chè mạn hảo ngăn đôi sân nhà mình với
sân của ông bà ngoại. Thanh vừa nghe tiềng mẹ rên, vừa nghe rõ
tiếng ông ngoại ho khúc khắc và tiếng của bố thay ông ngoại đang
giảng bài cho học trò:
“ … Các trò hãy lắng nghe giảng rồi hãy chép bài sau … Khổng
Tử viết: Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản.
Nghĩa là: Từ ông vua cho đến kẻ thường dân, ai nấy đều phải lấy
việc sửa mình làm gốc …”
Từ bên hè nhà chị nho Sắc, tiếng cô An nói khỏa lấp cả tiếng
khóc chào đời của đứa trẻ khiến anh nho Sắc ngừng giảng bài trong
giây lát.
– Ồ ồ … chị nho lại sinh con trai … sinh con trai nữa rồi. Mặt mày
sáng láng, khôi ngô lắm.
Bà đồ quát: “ Cái con bé, có im cái miệng quở độc cháu đi
không!” Bà giục rối rít: “ Đưa cái thanh nứa … mau lên … cắt rốn
cho cháu. Rồi. Xong rồi … Đưa cái quần cũ của cha mi đây …trên
dây phơi ấy. Tao giặt kỹ rồi. Ủ cháu vô quần ông cho có khước … có
hơi ấm ông, nó sẽ được sáng dạ, học giỏi hơn ông, hơn cha cho mà
coi …”
Bà còn dặn chị nho Sắc: “ Con nhớ là hằng ngày phải chăm lau
sạch đĩa đèn rồi hãy đổ dầu thắp. Các cụ thường dạy: Sinh con dạ
sáng làu làu, nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”.
Tiếng rên của chị nho im bặt. Tiếng khóc oa oa của đứa bé vẫn
chưa dứt hẳn. Và cái ngôn ngữ đầu tiên của đứa bé đã hòa âm
trong tiếng gà gọi con lên ổ, tiếng bò gọi bê vào chuồng, tiếng chim
kêu ríu rít trên mái nhà, tiếng lá reo, tiếng đồng xa vọng về …
Hương sen từ ngoài đầm bay theo gió pha lẫn mùi bồ kết cháy từ
nồi than trong buồng chị nho Sắc tỏa ra ngào ngạt.
o0o
Làng Chùa nhòa trong khói sương lam. Đám học trò của cha con
ông đồ đã lũ lượt ra về từ lâu. Chúng đi theo lối cổng lớn, không đi
tắt qua sân của chị nho Sắc như mọi ngày. Đầu ngõ nhà chị nho đã
treo một cành xương rồng gai (6).
Cái cánh cổng chống làm bằng khung tre kết cành rào, hình chữ
nhật, đã được sập xuống, cài chặt. Khu vườn nhà ông đồ cũng như
mọi nhà khác ở làng Chùa đều đã trở nên một cõi riêng biệt, kín
bưng. Giữa cảnh vắng lạnh này nổi lên tiếng ếch nhái kêu gào trời
làm mưa cứ ra rả không mệt mỏi. Vô số đốm sáng lập lòe xanh ảo
của bầy đom đóm bay chập chà chập chờn trong tối mênh mông.
Ông đồ ngồi xếp bằng trên phản gụ, tựa khuỷu tay xuống mặt cái
gối cốt bông bọc vải điều gấp cao ba thớt. Anh nho Sắc ngồi đối
diện với ông nhạc, vẻ thoải mái. Bé Khiêm ngủ say, nằm sát bên đùi
ông, chân duỗi dài sang gần chỗ bố ngồi, ngọn đèn dầu lạc đậu trên
mép đĩa tỏa sáng khắp gian nhà. Những con thiêu thân sa vào đĩa
dầu vẫy đôi cánh mỏng yếu ớt, chới với …Bên cạnh cây đèn, cái
đỉnh trầm thư thả nhả ra những sợi khói thơm mảnh như chỉ. Hương
sen ngoài đầm đưa vào nhè nhẹ.
Anh nho Sắc cầm cái nậm chuyên rượu vào chén cho bố vợ. Ông
đồ uống một hơi cạn ly rượu:
– Mừng cho nhà ta, mừng cho cả họ Nguyễn làng Sen …
Ông đồ đứng lên, dáng cung kính, thắp năm nén hương, vái năm
vái trước bàn thờ gia tiên. Ông đứng nghiêm trang trước làn hương
khói. Anh nho Sắc cũng đứng chắp tay thành kính ở phía sau ông.
Từ phía đầm sen tiếng chim cuốc khắc khoải: Quốc …Quốc!
Hai cha con ông đồ trở lại chỗ ngồi. Ông đồ dằn từng tiếng: “Dạ
…thính … tử …quy … thốn … tâm … can…” (đêm nghe chim tử quy
nhói tim gan). Anh nho Sắc nhận thấy ở người bố vợ, người thầy
học của mình từ ngày lâm bệnh, tâm trạng có nhiều trăn trở, nhiều
hoài cảm. Anh muốn đứa con trai thứ của mình được ông đặt tên
cho. Anh nói:
– Thưa cha, cha đặt cho cháu đêm nay luôn ạ.
– Tôi đang nghĩ.
Ông đồ gõ gõ ngón tay trên mặt gối, nói tiếp:
– “Sinh con quý tử khó nuôi … trồng cây ngon trái lắm người lăm
le…” Con người ta có thể xét đoán được hiệu quả trước của công
việc mình sắp làm. Ví như khi ta cầm nắm hạt giống trong tay thì ta
đã dám tin chắc sẽ có những mầm cây mọc lên bập bạp, và nhìn
các mầm non xanh tốt đoán biết được cây quả của nó sau này. Cho
nên, tôi muốn đặt cho cháu tên là Côn (7), tự là Tất Thành.
Anh nho Sắc chớp chớp mắt, môi hé nụ cười:
– Côn … ấy là tích loài cá hóa chim bằng, phải không thưa cha?
– Chính vậy đó. Theo mong ước của tôi thì … thằng bé sẽ có chí
vùng vẫy bốn bể, dù gặp truân chuyên chìm nổi, nhưng ắt thành
công. Cho nên tự Tất Thành.
Anh nho Sắc nâng cây bút lông thỏ dúng vào nghiên son. Hương
trầm, hương sen như tỏa khắp gian nhà và tụ hội vào ngọn bút
Nguyễn Sinh Sắc đang nắn nót dòng chữ Nguyễn Sinh Côn, tự Tất
Thành.
o0o
Gió Lào thổi từng cơn dài. Bầu trời, mặt đất bốc mùi nóng khét
như sắp sửa bùng cháy. Những cánh đồng khô nẻ hoang hoác, thưa
thớt bóng người. Không một con cò, con vạc đi kiếm ăn trên đồng.
Cây cối đói nước đứng rũ rượi. Giữa trời nắng lửa, những con diều
hâu sải cánh liệng tìm mồi dưới đất. Quạ khoang, quạ đen bay thành
bầy về phía ngàn xanh, nơi đang có tiếng súng của nghĩa quân
Phan Đình Phùng.
Trên các ngả đường quan, đường liên hương từng tốp người đi
kiếm ăn, đầu đội nón mê. Trên mình chỉ có chiếc khố dây. Thỉnh
thoảng có vài ba bà nhà giàu đi chợ, nón thúng quai thao, váy lụa
quét gót, chùm xà tích bạc (8) buông dài song song với các dải yếm,
dải thắt lưng màu hoa lý, hoa hiên.
Anh nho Sắc tay cầm ô che nắng, tay xách một khăn gói vải tây
điều đựng đầy những thang thuốc bắc. Ngọn gió Lào từ phía cửa
thành ùa đến thổi tung tà áo dài vải thâm đất trên người anh; gió
mạnh, cái ô trên tay anh lảo đảo. Anh sải từng bước dài qua cửa Tả
đi về phía cửa Tiền. Anh thấy ở phía trước một lá cờ ba sắc phật
phờ trên cao. Dưới chân cột cờ, những người che ô đội nón, lác đác
có cả những mũ trắng, lố nhố rất đông. Anh định mang thuốc về
sớm, nhưng trước việc lạ này, anh rảo bước lại nơi đó. Trên quãng
đường gần tới đám hội, cờ đuôi nheo treo hai bên và cờ lá chuối
cắm vòng quanh khán đài rực rỡ.
Anh nho Sắc dừng lại ở ngoài cổng chào tết bằng lá dừa, trang trí
hoa cờ, đèn lồng. Trên cổng cao gắn bốn chữ cao cỡ to, xếp lối chữ
triện: “Đại Pháp vạn tuế”. Từ bên trong cổng chào, tiếng kèn thổi
oang oang chói tai, khác hẳn tiếng đàn đáy, đàn bầu mà anh đã
quen thuộc. Một người mặc đồ sang trọng, treo trước ngực một
mảnh giấy điều hình đuôi én, chữ vàng: “ Quốc khánh đại Pháp”.
Ông ta tiến đến, chìa tay:
– Xin mời huynh vô dự ngày lễ đại khánh của Pháp quốc.
Anh nho Sắc chẳng ưa gì cái trò này của bọn thực dân Pháp và
lũ quan lại làm tay sai cho chúng, nhưng anh cần nhìn tận mắt cái
việc chúng đang bày ra giữa quê hương mình. Anh vừa bước vào
trong cái cổng chào, một con mụ người Pháp mũi diều hâu, mắt
mèo, tóc lông bò rừng, váy hoa dài lệt bệt phồng to như cái nơm, áo
hở ngực, lồ lộ dây chuyền vàng quấn cổ, hai cổ tay hai vòng ngọc
biêng biếc xanh, chân đi giày gót cao nghều, bước vội đưa cho anh
một gói vuông bọc giấy đỏ, bên trong có chữ: “ Đại Pháp vạn tuế”.
Mụ đầm nói, anh nghe như tiếng chim tiếng vượn. Anh chẳng hiểu
gì nhưng bất giác anh cứ cầm lấy gói quà từ tay mụ đầm. Một người
thông ngôn đứng tuổi nói với anh:
– Bà lớn phát quà nhân ngày quốc khánh của nước Đại Pháp.
Mời anh vô dự lễ và nghe hiểu thị.
Một tay xách khăn gói đầy thuốc bắc. Một tay cầm gói quà của
mụ đầm đưa và cái ô ngoắc vào khuỷu cánh tay, anh nho Sắc bước
từng bước nặng trĩu. Giữa tháng bảy nhưng là tháng năm âm lịch,
nắng xế chiều gay gắt. Cả đám người đứng chen chúc dưới bóng
rạp mái bằng. Những người đứng vòng ngoài đều phải dương ô, đội
nón. Anh nho Sắc lách vào mé rạp, ngó lên phía khán đài. Một đám
quan lại áo thụng, khăn chít ngồi khép nép ở mấy dãy ghế đầu. Một
tên Tây cao lớn mặc đồ nhà binh, hai cầu vai gắn sắc hàm sĩ quan
có ngù lua tua phủ xuống. Cả khuôn mặt hắn như nhuộm phẩm điều
do nắng hè của cái xứ nhiệt đới này phả cháy. Anh nho Sắc vừa
nhìn hắn chằm chằm, vừa lắng nghe tên thông ngôn nói giọng Nam
Kỳ: “Cái xứ An Nam này đã chịu ân sâu nghĩa nặng của nước Đại
Pháp từ thời chúa Nguyễn ở đàng trong bị giặc áo vải Tây Sơn đánh
bật ra tận đảo Côn Lôn … Nước An Nam nầy mà không có sự giúp
đỡ của Đại Pháp thời cái họa nội chiến giữa Đàng trong với Đàng
ngoài không thể chấm dứt được. Và nếu không sớm có mặt người
Pháp thời cái xứ sở hẻo lánh, tối tăm này đã bị người Bồ Đào Nha
hoặc người Hà Lan hay người Anh chiếm đóng rồi. Hỡi các ngài tại
mắt xứ An Nam! Hãy nhận ra sự có mặt của người Pháp ở đây là
một duyên may hiếm có …”.
Càng nghe nhiều những lời khoe khoang sức mạnh, hăm dọa,
mạt sát, dụ dỗ … của tên Pháp thực dân, anh nho Sắc càng thấy
nhói đau, mặt cứ tối sầm lại. Anh lẳng lặng ra về. Anh lê từng bước
nặng nề ra khỏi thành Vinh. Ngay trên lối về huyện lỵ Nam Đàn, một
đám người ăn xin còn ngồi trốn nắng dưới bóng cây. Anh mở cái gói
quà của ngày Quốc khánh Pháp mà mụ đầm đưa cho anh – toàn là
bánh, kẹo được bọc giấy bóng, giấy bạc – đem phát tất cả cho đám
người đang đói lả bên lề đường. Anh tự nhủ: Tây dương đã an tọa
thế ấy thì quân quan Phan Đình Phùng, quan Tôn Thất Thuyết dù cố
sức mấy cũng khó lòng chuyển được vận nước đang suy!
Trên đường từ thành Vinh về làng Chùa, anh nho Sắc đeo đuổi
bao nhiêu ý nghĩ ngổn ngang. Anh lo sức khỏe của bố vợ đang ngày
một sa sút. Vợ anh sinh lần này bị mất sữa và bị bệnh hậu sản. Anh
đã cắt hàng chục thang thuốc cho vợ uống, bệnh có thuyên giảm,
nhưng vẫn khôn có sữa cho con bú. Bé Côn vừa phải đi bú nhờ vừa
phải ăn cơm bà ngoại mớm cho.
Điều trăn trở lớn nhất trong lòng anh nho Sắc: Biết mất nước mà
không lo việc cứu nước là phạm điều bất trung. Nhưng khốn nỗi,
gánh gia đình của anh quá nặng. Mới hăm bảy tuổi mà đã ba con.
Còn là cậu học trò, chưa có khoa cử gì. Đã nhiều đêm anh và bố vợ
ngồi đàm luận việc nước việc nhà cạn mấy đĩa dầu. Anh thường suy
nghĩ về những lời bố vợ nói: vợ chồng anh sinh ra giữa thời buổi
bọn bạch quỷ đến hà hiếp nhà vua, nhưng nước nam ta chưa mất
hẳn cho Tây – lang – sa (9). Đến thời các con của anh ra đời thì: Bé
Thanh sinh năm Giáp Thân. Năm đó nhà vua đã ký hòa ước giao cả
nước ta cho người Tây – lang – sa cai trị ( tức năm 1884 ký hòa ước
Pa – tơ – nốt công nhận quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam). Sang
năm Ất Dậu, Tây – lang – sa đã cử quan “đầu triều” (10) sang ngự trị
bên cạnh nhà vua nước Nam. Rồi quan quân thần Tôn Thất Thuyết
phải rước vua Hàm Nghi lánh ra đồn trú ở vùng rừng núi Quảng Trị,
Quảng Bình và xuống chiếu Cần Vương. Đến lượt bé Nguyễn Sinh
Khiêm ra đời, năm Mậu Tý (1888), vua Hàm Nghi bị sa vào tay giặc!
Ôi! Vua đã bị Tây – lang – sa đày đi biệt xứ tận nước người (11).
Tây – lang – sa lại đưa Đồng Khánh lên ngôi. Người ta truyền rằng,
trước lúc bọn Tây – lang – sa đày vua Hàm Nghi đi, chúng còn dụ
dỗ, mua chuộc đủ phương kế, nhưng nhà vua không chịu khuất
phục, nhận việc đi đày chứ không cam chịu nhục để trở lại ngai
vàng! Chúng nó thay vua thì cũng đổi “quan Tây đầu triều” khác
sang nước mình cai trị. Cái tên của nó ngoằn ngoèo khó nhớ, khó
gọi … Hình như là Bè hay Buôn bè (12), rồi gì gì ấy nữa kia. Năm
nay, bé Côn ra đời, lại một tên “quan Tây đầu triều” khác đến cai
quản xứ mình. Thế cuộc xoay vần như vậy đó! Các con anh sinh ra
giữa lúc nước ta đã mất hẳn cho bọn bạch quỷ rồi! Đất nước ta
đang đắm chìm vào đêm tối. Những anh hùng nghĩa khí dám xả
thân cứu sơn hà xã tắc đều bị thất bại! Ôi! Dân Nam ta khác nào
đàn gà con đã bị diều hâu cướp mất mẹ!…
Anh nho Sắc mải miết nghĩ suy về những điều tâm sự của bố vợ,
người thầy, mà cũng chính là tâm trạng anh trước bối cảnh “quốc
loạn, gia bần”. Vì mải nghĩ quên cả đường dài. Lúc về gần đến cây
đa đầu làng anh mới nhận ra mình đã đi sắp đến nhà. Nỗi lo về bệnh
tình của bố vợ, về cảnh vợ bị ốm, mất sữa lại dấy động trong lòng
anh. Và trước mắt anh chập chờn hình ảnh khoa thi Hương (13) sắp
đến.
Anh rẽ sang con đường mòn đi tắt về phía đầm sen để bà con
ngồi gốc đa hóng mát nghe ông Xẩm đàn hát được tự nhiên.
Bên đầm sen, trước lối vào nhà, anh dừng bước đón nhận làn
hương mát. Giữa đất trời khô cháy bao la, đầm sen như mặt gương
xanh làm dịu bầu nóng hạ. Những bông sen trắng, sen hồng đua sắc
khoe màu với đàn ong đi kén mật. anh chợt nghe trong sân nhà có
tiếng bé Nguyễn Sinh Khiêm đang nựng em, nói chệch âm vì chưa
thật rõ tiếng: “ Anh cho eng (em) Côông ( Côn) cái búp sen nì … Búp
sen xanh, đẹp … đẹp lắm em ạ …”
Anh nho Sắc đi thẳng vào nhà lớn, nơi ông nhạc nằm dưỡng
bệnh. Chị nho Sắc đã gượng dậy được, đang bế bé Côn ngồi dưới
gốc thị, mớm cơm cho con.
————–
Chú thích:
(1) Trên dãy Trường Sơn, đoạn qua địa phận Nghệ Tĩnh.
(2) Tên chữ là làng Hoàng Trà
(3) Ở đây chỉ nghĩa quân của Phan Đình Phùng, cụ Đỗ Đình
Nguyên, thường người ta gọi là cụ Đình.
(4) Chỉ thực dân Pháp.
(5) Chỉ ông Hoàng Xuân Đường.
(6) Tục lệ ngày xưa, nhà có người mới sinh thường treo ở đầu
ngõ một cành gai to để người lạ không tự tiện vào nhà, sợ đứa bé bị
mặc vía dữ.
(7) Theo cụ Nguyễn Sinh Khiêm kể và ghi trong Tất Đạt tự ngôn,
trang 81
(8) Một loại dây bằng bạc, con gái nhà giàu dùng để đeo chìa
khóa hòm, ống đụng thuốc lào ăn trầu, nhưng thường có ý nghĩa
trang điểm là chính.
(9) Chỉ thực dân Pháp.
(10) Khâm sứ Ray-no (Rheinort)
(11) Nước An-giê-ri, một thuộc địa của Pháp lúc đó.
(12) Pôn Be (Paul Bert)
(13) Khoa thi chọn cử nhân
BÚP SEN XANH
Sơn Tùng
www.dtv-ebook.com
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 2
Ba cha con ông Sắc trở lại kinh đô Huế với những tên gọi mới:
quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và hai con là Nguyễn Tất Đạt,
Nguyễn Tất Thành.
Hôm vừa bước chân đến Huế, hai anh em Tất Đạt và Tất Thành
theo cha đi viếng mộ mẹ và em Xin. Tất Thành cùng anh trồng lên
mộ mẹ, mộ em hai cây đại.
Những ngày đầu vào Huế, chưa tìm được chỗ ở, quan Phó bảng
Huy tạm gửi Tất Đạt đến ở nhờ nhà một người bạn, còn ông cùng
với Tất Thành ở nhờ trong nhà ông Phạm Khắc Doãn, người xã Đức
Trường, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, làm quan biên tu Quốc sử quán.
Sau gần bốn năm xa kinh đô Huế, nay trở lại, Nguyễn Tất Thành
có nhiều ngỡ ngàng: Cầu Thành Thái (Tràng Tiền) hai đầu gục
xuống dòng sông, nhịp giữa đã bị cơn bão Giáp Thìn (1904) cuốn đi.
Người ở hai bên bờ sông Hương đang còn phải qua lại bằng đò
ngang. Thành và anh trai đứng bên bờ Bắc ngẩn ngơ nhìn sang bờ
Nam sông Hương: từng dãy, từng dãy nhà mới mọc lên nguy nga,
thành một khu vực đồ sộ, được gọi là “khu nhà người Tây”. Cái khu
nhà người Tây ở, tòa khâm sứ Trung Kỳ, tòa công sứ tỉnh Thừa
Thiên… nổi bật lên vẻ kiêu ngạo, thách thức trước cảnh trí thơ mộng
của Huế. Còn bên này sông Hương thì vẫn y nguyên một kinh thành
cổ kính rêu phong…
Đi cùng với anh trai trên dọc đường thành, Nguyễn Tất Thành
đang suy nghĩ về những tòa nhà hành chính của người Pháp đè lên
cưng thành vua nhà Nguyễn thì lại gặp người hát dạo. Tiếng đàn,
giọng ca lại gợi anh nhớ tới ông Xẩm ở quê nhà. Và, bên tai anh cứ
văng vẳng lời ca mà anh thuộc từ mười năm trước:
Nước Nam ta sao lại có Tây..
Trên dọc đường anh gặp người Tây nhiều gấp bao nhiêu lần so
với trước…Có cả những tên Tây say vừa đi vừa gây sự với các cô
bán hàng trên hè phố. Dòng sông Hương cũng đổi khác: Thuyền
buôn tấp nập hơn, mà đò kỹ nữ (60) đón khách làng chơi đông cũng
chẳng kém thuyền chài, thuyền buôn…
Tất Thành cảm thấy ở đất “thần kinh” này đang có một sự chuyển
động âm ỉ ở bên trong, anh muốn nói ra cái điều mình đang nghĩ với
anh Tất Đạt, nhưng lại sợ tính anh trầm lặng và không thích bàn bạc
những việc thời thế.
Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy nhận chức thừa biện Bộ Lễ.
Tại đây, ông gặp lại quan Phó bảng Phan Chu Trinh, người bạn
cùng thi Hội khoa Tân Sửu (1901). Phan Chu Trinh đã đăng tờ biểu
(đơn) xin cáo từ chức thừa biện Bộ Lễ. Ông đã công khai lên án bộ
máy quan lại thối nát, cam tâm làm tay sai cho người khác. Ông diễn
thuyết ngay trong trường Quốc tử giám và trước những thí sinh từ
các miền trong nước mới về kinh đô Huế dự thi Hội khoa Giáp Thìn
(1904). Ông kêu gọi những người tai mắt phải ngẩng cao đầu, đi tiên
phong trong công cuộc xây dựng dân quyền, nâng cao dân trí, dân
sinh… Tiếng nói của ông cùng với Lưu cầu huyết lệ tâm thư (lá thư
viết bằng máu và nước mắt) của Phan Bội Châu đang gây chấn
động cả kinh thành và lan rộng về các miền xa của đất nước. Nghe
danh tiếng của hai nhà chí sĩ họ Phan, nhiều bậc danh nho, khoa
bảng ở các nơi về Huế tiếp kiến. Từ Phan Thiết, đất cực Nam Trưng
Bộ, ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội ra Huế gặp Phan Chu Trinh.
Phan Bội Châu đã rời Huế vì ông không đồng quan điểm với Phan
Chu Trinh. Quan nghè Trần Quý Cáp, quan nghè Huỳnh Thúc
Kháng, quan đốc Đặng Nguyên Cẩn, quan nghè Ngô Đức Kế… đều
cùng quan điểm với quan Phó bảng Phan Chu Trinh. Cho nên quan
đốc Cẩn, quan nghè Kế đã lập ra Triêu Dương Thư Quán ở Vinh.
Ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội (con trai đầu của nhà thơ yêu
nước Nguyễn Thông), hai nhà hằng tâm hằng sản tham gia tổ chức
Hội Duy Tân, đã cùng các ông Nguyễn Quý Anh, Trần Lệ Chất,
Nguyễn Hiệt Chi, Ngô Văn Nhượng lập ra công ty Liên Thành
thương quán và trường Dục Thanh tại Phan Thiết.
Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy tham dự nhiều buổi bình văn.
Ông đã để lại trong tâm trí giới sĩ phu yêu nước một câu nói nổi
tiếng: Quan trường thị nô trung chi nô lệ hựu nô lệ (61). Ông Lê Văn
Miến, một giáo sư nổi tiếng của trường Quốc học, qua những buổi
bình văn đã bắt gặp được tiếng nói tri âm ấy và đã kết bạn đồng tâm
với quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy…
Từ ngày đầu đến ở nhờ, Tất Thành đã được vị quan biên tu
Quốc sử quán họ Phạm chú ý.
“Lưỡng mục minh tinh” (62) Nhìn đôi con mắt của Tất Thành ông
nhớ lại dịp Thành qua Hà Tĩnh chơi, nhiều người truyền đi những lời
đồn về sự sáng dạ, sự tinh anh và khẩu khí như gấm hoa của anh,
lúc ấy ông chưa tin lắm. Bây giờ nhìn kỹ đôi con mắt của Tất Thành,
ông nói: Mắt là kho báu của con người ta. Cho nên, dân gian mới
nói: “Giàu hai con mắt”.
– Nghĩa là được nhiều tiền nhiều của là do ở hai con mắt, hả
cha? – Phạm Gia Cần, con trai ông Phạm Khắc Doãn, hỏi.
Ông Phạm Khắc Doãn nhìn con cười:
– Con trai cửa cha chỉ hiểu được cái nghĩa hẹp của câu tục ngữ
luận về đôi mắt của con người. Cái chữ “giàu” của đôi con mắt nghĩa
của nó rộng lắm con ạ. Càng giải thích, nghĩa của nó càng lớn ra.
Tùy ở mức hiểu biết của mỗi người đến đâu thì sẽ nhận ra được ý
nghĩa của nó tới đó. Với lứa tuổi của con, chưa từng trải việc đời,
cha chỉ có thể nói cho con hay cái nghĩa chữ “giàu” của đôi con mắt
là giàu về tài năng, giàu về vốn hiểu biết ở đời, giàu về đức độ. Và –
ông nhấn giọng – người thiện nhiều hay ác nhiều cũng đều lộ ra ở
hai con mắt…
Nghe cha giảng giải, cậu ấm Cần bắt đầu quan sát kỹ cậu ấm
Thành… Rồi qua những ngày chung sống trong nhà, Cần càng nhận
ra dần dần ở Thành giàu những đức tính tốt đẹp và sự thông minh
sáng láng khác thường.
Bữa cơm “khách” đầu tiên, ăn xong Thành tự đi lấy tăm đặt lên
miệng ly trà cho từng người. Thành thu dọn bát đĩa và đi rửa. Cần
cảm động, ngăn lại:
– Thành đừng mó tay vô công việc ni. Đến bàn uống nước, để
mình làm cho.
– Việc ni để em làm phải hơn. Ngoài hai ông bố ra chỉ có anh và
em thôi. Em ít tuổi hơn anh, em nhận việc rửa bát, anh làm việc
khác.
Quan biện tu Quốc sử quán Phạm Khắc Doãn nhìn cậu ấm
Thành dọn bát đũa, gật đầu, nói:
– Cần hãy xem, em Thành nó sắp bát ý tứ chưa kìa? Cách sắp
xếp ấy thì dù có chồng cao lên mấy cũng khó đổ. Lần trước con
đánh vỡ cả chồng bát cũng chỉ vì xếp trên to dưới nhỏ…
Đến ở ngày hôm trước, hôm sau Thành đã đi chợ đong gạo, mua
thức ăn. Thành biết rành từng loại gạo cơm ở chợ Đông Ba như gạo
lốc dâu, gạo chăm, gạo ré, gạo hẻo… Anh nói với Cần:
– Những thứ gạo này vừa dẻo, vừa thơm và ngọt mà lại hợp túi
tiền của anh em mình. Ở Huế có rất nhiều thức ăn tươi ngon. Chịu
mất công một tí và chịu để ý học cách làm món ăn của các bà, các
chị thì sẽ được ăn ngon miệng mà lại không tốn tiền lắm. Đặc biệt có
món cá bống kho khô, rắc tiêu, ăn với canh rau tập tàng ngon tuyệt,
anh ạ.
Phạm Gia Cần ngạc nhiên, hỏi:
– Thành vừa vô tới đây sao đã thuộc đường, quen chợ và lại
thạo mọi việc nội trợ hơn cả những cô gái con nhà tần tảo vậy?
– Mười năm trước đây, em đã từng ở với cha mẹ em trong thành
nội, xung quanh khu vực hoàng thành và vùng ngoại vi Huế em
quen thuộc cả. Còn việc thạo chợ búa, nấu nướng là do mệ em và
chị Thanh của em bày vẽ cho. Có lúc em đã phải lo liệu mọi việc
trong nhà vì cha đi vắng, mệ ốm nặng. Vả lại, biết làm việc gì là có
ích cho mình, anh Cần ạ.
Phạm Gia Cần vẻ mặt trầm ngâm, nói thủ thỉ:
– Từ hôm Thành đến ở chung, cha mình luôn luôn tấm tắc: “Có
con mắt; có bàn tay cậu ấm Thành, nên nhà sân, vườn đã phong
quang ra, đồ đạc được gọn gàng ngăn nắp đâu vô đó…”. – Cần hạ
giọng, chân thành: – Ở gần Thành, mình học hỏi được nhiều thứ,
nhất là cách đọc sách.
Thành nói luôn:
– Cha em và thầy Vương Thúc Quý dạy em cách đó. – Hai mắt
nhìn vào xa xăm, Thành hồi tưởng: – Còn nếp sống trong nhà là bà
ngoại em rèn cặp cho từ lúc ba chị em còn nhỏ, quấn quýt bên chân
bà.
o0o
Xong tuần tang bố vợ, anh nho Sắc gầy rộc như qua một trận
ốm. Chị nho Sắc và cô An thì phải bắt tay ngay vào công việc: ngày
đi làm đồng, tối dệt vải quá nửa đêm mới đi ngủ. Số tiền tốn kém
vào việc ma chay tuy được những học trò, bạn hữu phúng điếu
nhiều, nhưng chẳng thấm tháp, cho nên mẹ con bà đồ phải lấy công
dệt vải để trang trải. Phần thì kỳ thi Hương cũng không còn xa nữa,
cả nhà bà đồ đều lo lắng, mong đợi nhiều ở anh nho Sắc trong kỳ thi
này.
Từ ngày ông đồ mất, vợ chồng anh nho Sắc về ăn chung với bà
đồ. Ngôi nhà tranh ba gian của ông bà đồ dựng lên cho vợ chồng
nho Sắc ra ở riêng nay tạm cho những chị em làng Chùa mượn làm
nơi nhóm phường kéo sợi. Những đêm trăng, từ mái nhà này những
điệu ví dặm được cất lên cùng với tiếng xa quay…
Một hôm, có mấy người bà con bên họ ngoại của bà đồ đến dự lễ
đốt vàng mã cho ông đồ nhân tết “xá tội vong nhân” rằm tháng bảy.
Khách ở lại nghỉ đêm. Bà đồ ngồi ở giữa giường. Ba chị em bé
Thanh, Khiêm, Côn ngồi vây quanh bà nghe bà kể chuyện với
khách. Trăng rằm sáng như ban ngày. Những khóm cúc ngoài cửa
sổ ngả bóng vào trang sách của anh nho Sắc đang học. Chị nho Sắc
thì ngồi dệt trên khung cửi ở gian nhà đầu hồi phía Tây. Cô An đi
qu...
Đôi Nét Về Tác Giả
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 1
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 2
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 3
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 4
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 5
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 6
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 7
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 8
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 9
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 10
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 11
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 12
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 1
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 2
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 3
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 4
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 5
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 6
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 7
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 8
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 9
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 10
Chương II - Thời Niên Thiếu - Phần 11
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 1
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 2
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 3
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 4
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 5
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 6
Chương III - Tuổi Hai Mươi - Phần 7
BÚP SEN XANH
Sơn Tùng
www.dtv-ebook.com
Đôi Nét Về Tác Giả
Nhà văn, nhà cách mạng Sơn Tùng: "Năm 1941, ở tuổi 16, tràn
đầy nhiệt huyết, Sơn Tùng đeo ba lô hoà vào dòng chảy của cơn lốc
cách mạng. Ban đầu ông hoạt động trong phong trào thanh niên,
sinh viên thủ đô. Sau khi Hà Nội giải phóng, Sơn Tùng vào học tại
trường Đại học nhân dân và sau đó trở thành cán bộ tuyên truyền
của Đảng. Năm 1961 ông về viết cho báo Nông nghiệp và từ cuối
năm 1962 là phóng viên của báo Tiền phong. Năm 1967 ông được
điều vào Nam thành lập và phụ trách tờ Thanh niên giải phóng. Năm
1971 ông bị thương nặng và rời chiến trường miền Nam mang trên
mình 14 vết thương, 3 mảnh đạn còn găm trong sọ não. Nửa người
bên phải hầu như bị liệt, thần kinh chéo bị tổn thương nặng, mắt bên
phải bị mờ. Ông được đưa sang Trung Quốc chữa bệnh và được
vào viện điều dưỡng 3 năm liền. Sau đó ông xin về nhà và … luyện
khí công. Với nghị lực phi thường, ông khổ luyện từ 2h sáng tới 8h
tối, sức khoẻ ông dần dần bình phục. Trí nhớ cũng hồi phục dần. Khi
tay phải duỗi ra được, chân tập tễnh bước thấp bước cao, Sơn
Tùng đã lao vào công việc. Điều đầu tiên mà ông làm là truy tìm cho
được tác giả của lá Quốc kỳ mà trong những năm tháng ở chiến
trường miền Nam ông đã dày công tìm kiếm. Hàng chục chuyến đi,
hàng ngàn giờ lao tâm khổ tứ, cuối cùng ông đã tìm ra được cho
chúng ta tác giả Quốc kỳ: Nguyễn Hữu Tiến".
“ Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hoi tanh mùi bùn”.
Loài hoa sen tinh khiết ví như tâm hồn Bác vậy luôn giản dị đến
vô cùng “ gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” quả đúng là như vậy
Bác sinh ra trong thời loạn lạc nước mất nhà tan nhưng Bác không
chịu đứng nhìn thực dân Pháp đày đoạ dân ta làm càn ở trên nước
Nam này được và rồi Bác đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước
tìm lối thoát mới cho dân tộc. Và có lẽ một băn khoan lớn nhất của
độc giả là sự xuất hiện hình tượng người con gái Sài Gòn có tên là
Út Huệ ở gần cuối sách. Với những tình tiết hấp dẫn như vậy sao
chúng ta không một lần thử đọc và cảm nhận tác phẩm này.
BÚP SEN XANH
Sơn Tùng
www.dtv-ebook.com
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 1
Cơn dông mùa hạ dấy lên ở phía nam. Mây đen từng khối ùn ùn
như nấm từ dưới chân trời đùn lên. Thoáng chốc, các ngọn núi của
dãy Dăng Màn (1), Thiên Nhẫn … đã ngập chìm vào mây đen đục.
Mảng nắng hẹp dần. Cảnh sắc hai bờ sông Lam đã ngả màu sẫm.
Những bóng mây trôi qua các cánh đồng chiêm đang mùa thu
hoạch, loang lổ, mảng sáng, mảng tối, ô xanh, ô vàng, nhìn về xa xa
như một tấm da báo trải rộng hút tầm mắt.
Từ trong khối mây đen dày đặc, thỉnh thoảng quắc lên một roi
chớp xanh lè, ngoằn ngoèo rạch sáng vào da trời chì. Tiếp sau roi
chớp là tiếng trời gầm …
Bên gốc cây đa đầu làng Chùa (2) có mấy con bò đứng ngủ,
mồm nhai uể oải, những cục bọt trắng xốp đọng hai bên mép.
Những con ruồi bò bay nhớn nhác tránh né mỗi lần con bò quất
mạnh cái đuôi vào hai bên hông. Một tốp người đi làm đồng về ngồi
nghỉ chân bên gốc đa đang gạ ông Xẩm hát cho nghe một bài mới.
Ông Xẩm ngước đôi mắt mù lòa về phía có tiếng sấm xa xa, hai
cánh mũi phập phồng đón nhận mùi hoa sen từ đầm làng đưa tới.
Ông nhíu đôi lông mày đen, hỏi những người đang ngồi bên cạnh:
– Trời sôi bụng hay … hay là tiếng súng của cụ Đình (3) ở trên
rừng lại kéo về nữa đó, bà con?
Qua nhiều giọng cười giòn, ông Xẩm gật gật đầu nghe, vẻ đắc ý
với câu nói đáp lại lời ông hỏi:
– Tiếng sấm của cơn dông chiều đó ông ạ. Trời dạo này loạn
dông chứ có cơn mưa nào đâu! Còn cái công việc “bình Tây” của
các quan Nghè, quan Cử thì … vận nước Nam mình hỏng mất rồi!
Vua Hàm Nghi đã bại trận, Tây dương (4) đày vua đi biệt xứ. Ôi! Có
còn chi nữa mà mong với đợi, hở ông?
Một cụ già, tay vót hom giỏ, từ nãy vẫn ngồi im lặng nghe mọi
người trò chuyện. Bỗng cụ cắm lưỡi mác xuống đất, tựa hai bàn tay
lên cán, mắt chớp chớp, nói:
– Răng lại nhủ là “ có còn chi nữa mà mong với đợi”? Nước có
lúc suy lúc thịnh, nhưng có khi mô hết được những bậc hiền tài lo
việc giữ nước, việc cứu nước. Cây cổ thụ ni bị gãy thì rồi sẽ có cây
khác mọc lên. Rừng không bao giờ hết cây, dân không khi mô hết
người tài cao chí lớn mô.
Mọi người nhìn cụ già vẻ hợp lý. Ông Xẩm đưa ống tay áo lên lau
hai hố mắt. Ông vẫn mấp máy cánh mũi về phía ngọn gió:
– Dịp ni sen nở nhiều. Ngồi ở chỗ mô cũng được ngửi hương
sen.
– Ông ơi – một cô bé gái gọi – cháu biếu ông mấy cái gương sen
luộc, ông ăn cho mát ruột ạ.
Ông Xẩm cầm trong tay những cái gương sen đã luộc chín nhũn
như tấm mền ong, giọng cảm động, hỏi:
– Cháu là con nhà ai mà thảo ăn rứa?
Cô bé chỉ mỉm cười. Mấy người ngồi cạnh ông già mù nói to:
– Con gái anh nho Sắc đó, ông ạ.
Ông Xầm nở nụ cười trên cung môi héo hắt, nói:
– Ngỡ đứa mô chứ cháu Thanh, con gái đầu lòng của anh chị
nho Sắc, cháu ngoại thầy tú Hoàng (5) thì … thì tôi mô có lạ lẫm chi!
Để rồi tôi hát cho bà con ở đây và cháu Thanh cùng nghe nhớ.
Bé Thanh lại đưa ông Xẩm cái bầu nước:
– Ông uống ngụm nước mát rồi hẵng hát, ông ạ.
– Cảm ơn lòng thảo của cháu. Ông không khát. Chứ cháu đem
nước ra đồng cho ai rứa?
– Dạ … cho mệ cháu ạ.
– Ờ. Vậy ra mệ cháu vẫn chưa ở cữ, còn đi làm đồng xa được.
Chứ … cháu thích được bồng em gái hay bồng em trai, nói cho ông
biết để ông hát mừng cháu nào?
– Cháu thích mệ cháu sinh em trai nữa ạ.
Ông già mù gật đầu, mỉm cười, tay lần mò lên dây đàn. Mọi
người ngồi quanh gốc đa đã xúm xít bên ông Xẩm. Mấy con bò vẫn
lim dim mắt ngủ, bọt mép tụ tan, tan tụ. Tiếng đàn bầu réo rắt bay
lên theo lời ca của ông Xẩm:
Trời có thấu chăng trời!
Nước Nam cơ khổ nhiều đời đắng cay
Vì chưng Tây thổ sang đây,
Nó vào Gia Định, ở rày Đồng Nai.
Dần dà ra Lục tỉnh, Đàng ngoài,
Các quan tâu đánh, vua ngài không cho.
Bởi vì vua Tự Đức không biết đường lo,
Nó vào nó chiếm mất cả thành đô kinh kỳ …
Bé Thanh chưa hiểu thấu ý nghĩa lời ca, nhưng hai mắt của bé
lim dim, bé lắng nghe tiếng đàn ông Xẩm. Những người ngồi cạnh
bé Thanh, mặt luôn luôn biến đổi theo từng lời ca của ông Xẩm.
Trời ơi có thấu lúc này,
Khắp nơi khổ cực rạc rài tấm thân.
Một nước làm năm bảy nước ăn,
Để cho quan Tây bắt phu, bắt thuế trong dân nặng nề.
Các quan ta tức giận nhiều bề,
Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan
Để mà khôi phục nước Nam …
Đang lúc mọi người đắm vào tiếng đàn não ruột, lời ca xé lòng
của ông Xẩm thì một bà tựa tay trên lưng bò, chỉ tay về phía đầm
sen, gọi:
– Cháu Thanh ơi! Mệ cháu … Mệ cháu … có chuyện chi … người
ta đang dìu mệ cháu về nhà kia kìa!
Bé Thanh với cái tuổi lên bảy, dáng mảng khảnh, rời khỏi gốc đa,
tay cầm cái bầu nước, chạy hối hả về những người đang dìu mẹ
mình. Chạy đến với mẹ nhưng trong đầu bé Thanh vần còn vọng
theo những lòi ca của ông Xẩm:
“… Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan … Để mà khôi phục nước
Nam … kẻo dân tình cơ khổ gian nan nhiều bề …”
Dưới bóng tre đầu làng, bà đồ ( vợ ông đồ Hoàng Xuân Đường,
bà ngoại của bé Thanh) cùng mấy người đứng tuổi cũng đang chạy
ra phía đầm sen. Gió đồng lùa những dải lưng, dải yếm của họ bay
phấp phới về phía sau …
Về tới đầu sân, cơn đau chuyển sinh lại thốn thoáy, mệt quá chị
nho Sắc phải ngồi thụp xuống bên gốc cây thị. Chim chiều về tổ
đang ríu rít trên ngọn cây. Bà đồ chốc chốc lại mắng yêu con gái:
– Tham công tiếc việc cho lắm … Đã biểu ở nhà, gần kỳ sinh nở
rồi … đừng có đi mần đồng xa nữa …
Bà giục cô An, em gái của chị nho Sắc:
– An, con vô quạt than lên … Mau …
Bà lại giục bé Thanh:
– … Cháu đi sang bên nhà với ông. Giữ cả em Khiêm ở bên đó.
Tối ni tụi bay ăn cơm, ngủ ở bên nhà bà cả nhớ.
Bé Thanh bước qua dãy chè mạn hảo ngăn đôi sân nhà mình với
sân của ông bà ngoại. Thanh vừa nghe tiềng mẹ rên, vừa nghe rõ
tiếng ông ngoại ho khúc khắc và tiếng của bố thay ông ngoại đang
giảng bài cho học trò:
“ … Các trò hãy lắng nghe giảng rồi hãy chép bài sau … Khổng
Tử viết: Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản.
Nghĩa là: Từ ông vua cho đến kẻ thường dân, ai nấy đều phải lấy
việc sửa mình làm gốc …”
Từ bên hè nhà chị nho Sắc, tiếng cô An nói khỏa lấp cả tiếng
khóc chào đời của đứa trẻ khiến anh nho Sắc ngừng giảng bài trong
giây lát.
– Ồ ồ … chị nho lại sinh con trai … sinh con trai nữa rồi. Mặt mày
sáng láng, khôi ngô lắm.
Bà đồ quát: “ Cái con bé, có im cái miệng quở độc cháu đi
không!” Bà giục rối rít: “ Đưa cái thanh nứa … mau lên … cắt rốn
cho cháu. Rồi. Xong rồi … Đưa cái quần cũ của cha mi đây …trên
dây phơi ấy. Tao giặt kỹ rồi. Ủ cháu vô quần ông cho có khước … có
hơi ấm ông, nó sẽ được sáng dạ, học giỏi hơn ông, hơn cha cho mà
coi …”
Bà còn dặn chị nho Sắc: “ Con nhớ là hằng ngày phải chăm lau
sạch đĩa đèn rồi hãy đổ dầu thắp. Các cụ thường dạy: Sinh con dạ
sáng làu làu, nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”.
Tiếng rên của chị nho im bặt. Tiếng khóc oa oa của đứa bé vẫn
chưa dứt hẳn. Và cái ngôn ngữ đầu tiên của đứa bé đã hòa âm
trong tiếng gà gọi con lên ổ, tiếng bò gọi bê vào chuồng, tiếng chim
kêu ríu rít trên mái nhà, tiếng lá reo, tiếng đồng xa vọng về …
Hương sen từ ngoài đầm bay theo gió pha lẫn mùi bồ kết cháy từ
nồi than trong buồng chị nho Sắc tỏa ra ngào ngạt.
o0o
Làng Chùa nhòa trong khói sương lam. Đám học trò của cha con
ông đồ đã lũ lượt ra về từ lâu. Chúng đi theo lối cổng lớn, không đi
tắt qua sân của chị nho Sắc như mọi ngày. Đầu ngõ nhà chị nho đã
treo một cành xương rồng gai (6).
Cái cánh cổng chống làm bằng khung tre kết cành rào, hình chữ
nhật, đã được sập xuống, cài chặt. Khu vườn nhà ông đồ cũng như
mọi nhà khác ở làng Chùa đều đã trở nên một cõi riêng biệt, kín
bưng. Giữa cảnh vắng lạnh này nổi lên tiếng ếch nhái kêu gào trời
làm mưa cứ ra rả không mệt mỏi. Vô số đốm sáng lập lòe xanh ảo
của bầy đom đóm bay chập chà chập chờn trong tối mênh mông.
Ông đồ ngồi xếp bằng trên phản gụ, tựa khuỷu tay xuống mặt cái
gối cốt bông bọc vải điều gấp cao ba thớt. Anh nho Sắc ngồi đối
diện với ông nhạc, vẻ thoải mái. Bé Khiêm ngủ say, nằm sát bên đùi
ông, chân duỗi dài sang gần chỗ bố ngồi, ngọn đèn dầu lạc đậu trên
mép đĩa tỏa sáng khắp gian nhà. Những con thiêu thân sa vào đĩa
dầu vẫy đôi cánh mỏng yếu ớt, chới với …Bên cạnh cây đèn, cái
đỉnh trầm thư thả nhả ra những sợi khói thơm mảnh như chỉ. Hương
sen ngoài đầm đưa vào nhè nhẹ.
Anh nho Sắc cầm cái nậm chuyên rượu vào chén cho bố vợ. Ông
đồ uống một hơi cạn ly rượu:
– Mừng cho nhà ta, mừng cho cả họ Nguyễn làng Sen …
Ông đồ đứng lên, dáng cung kính, thắp năm nén hương, vái năm
vái trước bàn thờ gia tiên. Ông đứng nghiêm trang trước làn hương
khói. Anh nho Sắc cũng đứng chắp tay thành kính ở phía sau ông.
Từ phía đầm sen tiếng chim cuốc khắc khoải: Quốc …Quốc!
Hai cha con ông đồ trở lại chỗ ngồi. Ông đồ dằn từng tiếng: “Dạ
…thính … tử …quy … thốn … tâm … can…” (đêm nghe chim tử quy
nhói tim gan). Anh nho Sắc nhận thấy ở người bố vợ, người thầy
học của mình từ ngày lâm bệnh, tâm trạng có nhiều trăn trở, nhiều
hoài cảm. Anh muốn đứa con trai thứ của mình được ông đặt tên
cho. Anh nói:
– Thưa cha, cha đặt cho cháu đêm nay luôn ạ.
– Tôi đang nghĩ.
Ông đồ gõ gõ ngón tay trên mặt gối, nói tiếp:
– “Sinh con quý tử khó nuôi … trồng cây ngon trái lắm người lăm
le…” Con người ta có thể xét đoán được hiệu quả trước của công
việc mình sắp làm. Ví như khi ta cầm nắm hạt giống trong tay thì ta
đã dám tin chắc sẽ có những mầm cây mọc lên bập bạp, và nhìn
các mầm non xanh tốt đoán biết được cây quả của nó sau này. Cho
nên, tôi muốn đặt cho cháu tên là Côn (7), tự là Tất Thành.
Anh nho Sắc chớp chớp mắt, môi hé nụ cười:
– Côn … ấy là tích loài cá hóa chim bằng, phải không thưa cha?
– Chính vậy đó. Theo mong ước của tôi thì … thằng bé sẽ có chí
vùng vẫy bốn bể, dù gặp truân chuyên chìm nổi, nhưng ắt thành
công. Cho nên tự Tất Thành.
Anh nho Sắc nâng cây bút lông thỏ dúng vào nghiên son. Hương
trầm, hương sen như tỏa khắp gian nhà và tụ hội vào ngọn bút
Nguyễn Sinh Sắc đang nắn nót dòng chữ Nguyễn Sinh Côn, tự Tất
Thành.
o0o
Gió Lào thổi từng cơn dài. Bầu trời, mặt đất bốc mùi nóng khét
như sắp sửa bùng cháy. Những cánh đồng khô nẻ hoang hoác, thưa
thớt bóng người. Không một con cò, con vạc đi kiếm ăn trên đồng.
Cây cối đói nước đứng rũ rượi. Giữa trời nắng lửa, những con diều
hâu sải cánh liệng tìm mồi dưới đất. Quạ khoang, quạ đen bay thành
bầy về phía ngàn xanh, nơi đang có tiếng súng của nghĩa quân
Phan Đình Phùng.
Trên các ngả đường quan, đường liên hương từng tốp người đi
kiếm ăn, đầu đội nón mê. Trên mình chỉ có chiếc khố dây. Thỉnh
thoảng có vài ba bà nhà giàu đi chợ, nón thúng quai thao, váy lụa
quét gót, chùm xà tích bạc (8) buông dài song song với các dải yếm,
dải thắt lưng màu hoa lý, hoa hiên.
Anh nho Sắc tay cầm ô che nắng, tay xách một khăn gói vải tây
điều đựng đầy những thang thuốc bắc. Ngọn gió Lào từ phía cửa
thành ùa đến thổi tung tà áo dài vải thâm đất trên người anh; gió
mạnh, cái ô trên tay anh lảo đảo. Anh sải từng bước dài qua cửa Tả
đi về phía cửa Tiền. Anh thấy ở phía trước một lá cờ ba sắc phật
phờ trên cao. Dưới chân cột cờ, những người che ô đội nón, lác đác
có cả những mũ trắng, lố nhố rất đông. Anh định mang thuốc về
sớm, nhưng trước việc lạ này, anh rảo bước lại nơi đó. Trên quãng
đường gần tới đám hội, cờ đuôi nheo treo hai bên và cờ lá chuối
cắm vòng quanh khán đài rực rỡ.
Anh nho Sắc dừng lại ở ngoài cổng chào tết bằng lá dừa, trang trí
hoa cờ, đèn lồng. Trên cổng cao gắn bốn chữ cao cỡ to, xếp lối chữ
triện: “Đại Pháp vạn tuế”. Từ bên trong cổng chào, tiếng kèn thổi
oang oang chói tai, khác hẳn tiếng đàn đáy, đàn bầu mà anh đã
quen thuộc. Một người mặc đồ sang trọng, treo trước ngực một
mảnh giấy điều hình đuôi én, chữ vàng: “ Quốc khánh đại Pháp”.
Ông ta tiến đến, chìa tay:
– Xin mời huynh vô dự ngày lễ đại khánh của Pháp quốc.
Anh nho Sắc chẳng ưa gì cái trò này của bọn thực dân Pháp và
lũ quan lại làm tay sai cho chúng, nhưng anh cần nhìn tận mắt cái
việc chúng đang bày ra giữa quê hương mình. Anh vừa bước vào
trong cái cổng chào, một con mụ người Pháp mũi diều hâu, mắt
mèo, tóc lông bò rừng, váy hoa dài lệt bệt phồng to như cái nơm, áo
hở ngực, lồ lộ dây chuyền vàng quấn cổ, hai cổ tay hai vòng ngọc
biêng biếc xanh, chân đi giày gót cao nghều, bước vội đưa cho anh
một gói vuông bọc giấy đỏ, bên trong có chữ: “ Đại Pháp vạn tuế”.
Mụ đầm nói, anh nghe như tiếng chim tiếng vượn. Anh chẳng hiểu
gì nhưng bất giác anh cứ cầm lấy gói quà từ tay mụ đầm. Một người
thông ngôn đứng tuổi nói với anh:
– Bà lớn phát quà nhân ngày quốc khánh của nước Đại Pháp.
Mời anh vô dự lễ và nghe hiểu thị.
Một tay xách khăn gói đầy thuốc bắc. Một tay cầm gói quà của
mụ đầm đưa và cái ô ngoắc vào khuỷu cánh tay, anh nho Sắc bước
từng bước nặng trĩu. Giữa tháng bảy nhưng là tháng năm âm lịch,
nắng xế chiều gay gắt. Cả đám người đứng chen chúc dưới bóng
rạp mái bằng. Những người đứng vòng ngoài đều phải dương ô, đội
nón. Anh nho Sắc lách vào mé rạp, ngó lên phía khán đài. Một đám
quan lại áo thụng, khăn chít ngồi khép nép ở mấy dãy ghế đầu. Một
tên Tây cao lớn mặc đồ nhà binh, hai cầu vai gắn sắc hàm sĩ quan
có ngù lua tua phủ xuống. Cả khuôn mặt hắn như nhuộm phẩm điều
do nắng hè của cái xứ nhiệt đới này phả cháy. Anh nho Sắc vừa
nhìn hắn chằm chằm, vừa lắng nghe tên thông ngôn nói giọng Nam
Kỳ: “Cái xứ An Nam này đã chịu ân sâu nghĩa nặng của nước Đại
Pháp từ thời chúa Nguyễn ở đàng trong bị giặc áo vải Tây Sơn đánh
bật ra tận đảo Côn Lôn … Nước An Nam nầy mà không có sự giúp
đỡ của Đại Pháp thời cái họa nội chiến giữa Đàng trong với Đàng
ngoài không thể chấm dứt được. Và nếu không sớm có mặt người
Pháp thời cái xứ sở hẻo lánh, tối tăm này đã bị người Bồ Đào Nha
hoặc người Hà Lan hay người Anh chiếm đóng rồi. Hỡi các ngài tại
mắt xứ An Nam! Hãy nhận ra sự có mặt của người Pháp ở đây là
một duyên may hiếm có …”.
Càng nghe nhiều những lời khoe khoang sức mạnh, hăm dọa,
mạt sát, dụ dỗ … của tên Pháp thực dân, anh nho Sắc càng thấy
nhói đau, mặt cứ tối sầm lại. Anh lẳng lặng ra về. Anh lê từng bước
nặng nề ra khỏi thành Vinh. Ngay trên lối về huyện lỵ Nam Đàn, một
đám người ăn xin còn ngồi trốn nắng dưới bóng cây. Anh mở cái gói
quà của ngày Quốc khánh Pháp mà mụ đầm đưa cho anh – toàn là
bánh, kẹo được bọc giấy bóng, giấy bạc – đem phát tất cả cho đám
người đang đói lả bên lề đường. Anh tự nhủ: Tây dương đã an tọa
thế ấy thì quân quan Phan Đình Phùng, quan Tôn Thất Thuyết dù cố
sức mấy cũng khó lòng chuyển được vận nước đang suy!
Trên đường từ thành Vinh về làng Chùa, anh nho Sắc đeo đuổi
bao nhiêu ý nghĩ ngổn ngang. Anh lo sức khỏe của bố vợ đang ngày
một sa sút. Vợ anh sinh lần này bị mất sữa và bị bệnh hậu sản. Anh
đã cắt hàng chục thang thuốc cho vợ uống, bệnh có thuyên giảm,
nhưng vẫn khôn có sữa cho con bú. Bé Côn vừa phải đi bú nhờ vừa
phải ăn cơm bà ngoại mớm cho.
Điều trăn trở lớn nhất trong lòng anh nho Sắc: Biết mất nước mà
không lo việc cứu nước là phạm điều bất trung. Nhưng khốn nỗi,
gánh gia đình của anh quá nặng. Mới hăm bảy tuổi mà đã ba con.
Còn là cậu học trò, chưa có khoa cử gì. Đã nhiều đêm anh và bố vợ
ngồi đàm luận việc nước việc nhà cạn mấy đĩa dầu. Anh thường suy
nghĩ về những lời bố vợ nói: vợ chồng anh sinh ra giữa thời buổi
bọn bạch quỷ đến hà hiếp nhà vua, nhưng nước nam ta chưa mất
hẳn cho Tây – lang – sa (9). Đến thời các con của anh ra đời thì: Bé
Thanh sinh năm Giáp Thân. Năm đó nhà vua đã ký hòa ước giao cả
nước ta cho người Tây – lang – sa cai trị ( tức năm 1884 ký hòa ước
Pa – tơ – nốt công nhận quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam). Sang
năm Ất Dậu, Tây – lang – sa đã cử quan “đầu triều” (10) sang ngự trị
bên cạnh nhà vua nước Nam. Rồi quan quân thần Tôn Thất Thuyết
phải rước vua Hàm Nghi lánh ra đồn trú ở vùng rừng núi Quảng Trị,
Quảng Bình và xuống chiếu Cần Vương. Đến lượt bé Nguyễn Sinh
Khiêm ra đời, năm Mậu Tý (1888), vua Hàm Nghi bị sa vào tay giặc!
Ôi! Vua đã bị Tây – lang – sa đày đi biệt xứ tận nước người (11).
Tây – lang – sa lại đưa Đồng Khánh lên ngôi. Người ta truyền rằng,
trước lúc bọn Tây – lang – sa đày vua Hàm Nghi đi, chúng còn dụ
dỗ, mua chuộc đủ phương kế, nhưng nhà vua không chịu khuất
phục, nhận việc đi đày chứ không cam chịu nhục để trở lại ngai
vàng! Chúng nó thay vua thì cũng đổi “quan Tây đầu triều” khác
sang nước mình cai trị. Cái tên của nó ngoằn ngoèo khó nhớ, khó
gọi … Hình như là Bè hay Buôn bè (12), rồi gì gì ấy nữa kia. Năm
nay, bé Côn ra đời, lại một tên “quan Tây đầu triều” khác đến cai
quản xứ mình. Thế cuộc xoay vần như vậy đó! Các con anh sinh ra
giữa lúc nước ta đã mất hẳn cho bọn bạch quỷ rồi! Đất nước ta
đang đắm chìm vào đêm tối. Những anh hùng nghĩa khí dám xả
thân cứu sơn hà xã tắc đều bị thất bại! Ôi! Dân Nam ta khác nào
đàn gà con đã bị diều hâu cướp mất mẹ!…
Anh nho Sắc mải miết nghĩ suy về những điều tâm sự của bố vợ,
người thầy, mà cũng chính là tâm trạng anh trước bối cảnh “quốc
loạn, gia bần”. Vì mải nghĩ quên cả đường dài. Lúc về gần đến cây
đa đầu làng anh mới nhận ra mình đã đi sắp đến nhà. Nỗi lo về bệnh
tình của bố vợ, về cảnh vợ bị ốm, mất sữa lại dấy động trong lòng
anh. Và trước mắt anh chập chờn hình ảnh khoa thi Hương (13) sắp
đến.
Anh rẽ sang con đường mòn đi tắt về phía đầm sen để bà con
ngồi gốc đa hóng mát nghe ông Xẩm đàn hát được tự nhiên.
Bên đầm sen, trước lối vào nhà, anh dừng bước đón nhận làn
hương mát. Giữa đất trời khô cháy bao la, đầm sen như mặt gương
xanh làm dịu bầu nóng hạ. Những bông sen trắng, sen hồng đua sắc
khoe màu với đàn ong đi kén mật. anh chợt nghe trong sân nhà có
tiếng bé Nguyễn Sinh Khiêm đang nựng em, nói chệch âm vì chưa
thật rõ tiếng: “ Anh cho eng (em) Côông ( Côn) cái búp sen nì … Búp
sen xanh, đẹp … đẹp lắm em ạ …”
Anh nho Sắc đi thẳng vào nhà lớn, nơi ông nhạc nằm dưỡng
bệnh. Chị nho Sắc đã gượng dậy được, đang bế bé Côn ngồi dưới
gốc thị, mớm cơm cho con.
————–
Chú thích:
(1) Trên dãy Trường Sơn, đoạn qua địa phận Nghệ Tĩnh.
(2) Tên chữ là làng Hoàng Trà
(3) Ở đây chỉ nghĩa quân của Phan Đình Phùng, cụ Đỗ Đình
Nguyên, thường người ta gọi là cụ Đình.
(4) Chỉ thực dân Pháp.
(5) Chỉ ông Hoàng Xuân Đường.
(6) Tục lệ ngày xưa, nhà có người mới sinh thường treo ở đầu
ngõ một cành gai to để người lạ không tự tiện vào nhà, sợ đứa bé bị
mặc vía dữ.
(7) Theo cụ Nguyễn Sinh Khiêm kể và ghi trong Tất Đạt tự ngôn,
trang 81
(8) Một loại dây bằng bạc, con gái nhà giàu dùng để đeo chìa
khóa hòm, ống đụng thuốc lào ăn trầu, nhưng thường có ý nghĩa
trang điểm là chính.
(9) Chỉ thực dân Pháp.
(10) Khâm sứ Ray-no (Rheinort)
(11) Nước An-giê-ri, một thuộc địa của Pháp lúc đó.
(12) Pôn Be (Paul Bert)
(13) Khoa thi chọn cử nhân
BÚP SEN XANH
Sơn Tùng
www.dtv-ebook.com
Chương I - Thời Thơ Ấu - Phần 2
Ba cha con ông Sắc trở lại kinh đô Huế với những tên gọi mới:
quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và hai con là Nguyễn Tất Đạt,
Nguyễn Tất Thành.
Hôm vừa bước chân đến Huế, hai anh em Tất Đạt và Tất Thành
theo cha đi viếng mộ mẹ và em Xin. Tất Thành cùng anh trồng lên
mộ mẹ, mộ em hai cây đại.
Những ngày đầu vào Huế, chưa tìm được chỗ ở, quan Phó bảng
Huy tạm gửi Tất Đạt đến ở nhờ nhà một người bạn, còn ông cùng
với Tất Thành ở nhờ trong nhà ông Phạm Khắc Doãn, người xã Đức
Trường, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, làm quan biên tu Quốc sử quán.
Sau gần bốn năm xa kinh đô Huế, nay trở lại, Nguyễn Tất Thành
có nhiều ngỡ ngàng: Cầu Thành Thái (Tràng Tiền) hai đầu gục
xuống dòng sông, nhịp giữa đã bị cơn bão Giáp Thìn (1904) cuốn đi.
Người ở hai bên bờ sông Hương đang còn phải qua lại bằng đò
ngang. Thành và anh trai đứng bên bờ Bắc ngẩn ngơ nhìn sang bờ
Nam sông Hương: từng dãy, từng dãy nhà mới mọc lên nguy nga,
thành một khu vực đồ sộ, được gọi là “khu nhà người Tây”. Cái khu
nhà người Tây ở, tòa khâm sứ Trung Kỳ, tòa công sứ tỉnh Thừa
Thiên… nổi bật lên vẻ kiêu ngạo, thách thức trước cảnh trí thơ mộng
của Huế. Còn bên này sông Hương thì vẫn y nguyên một kinh thành
cổ kính rêu phong…
Đi cùng với anh trai trên dọc đường thành, Nguyễn Tất Thành
đang suy nghĩ về những tòa nhà hành chính của người Pháp đè lên
cưng thành vua nhà Nguyễn thì lại gặp người hát dạo. Tiếng đàn,
giọng ca lại gợi anh nhớ tới ông Xẩm ở quê nhà. Và, bên tai anh cứ
văng vẳng lời ca mà anh thuộc từ mười năm trước:
Nước Nam ta sao lại có Tây..
Trên dọc đường anh gặp người Tây nhiều gấp bao nhiêu lần so
với trước…Có cả những tên Tây say vừa đi vừa gây sự với các cô
bán hàng trên hè phố. Dòng sông Hương cũng đổi khác: Thuyền
buôn tấp nập hơn, mà đò kỹ nữ (60) đón khách làng chơi đông cũng
chẳng kém thuyền chài, thuyền buôn…
Tất Thành cảm thấy ở đất “thần kinh” này đang có một sự chuyển
động âm ỉ ở bên trong, anh muốn nói ra cái điều mình đang nghĩ với
anh Tất Đạt, nhưng lại sợ tính anh trầm lặng và không thích bàn bạc
những việc thời thế.
Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy nhận chức thừa biện Bộ Lễ.
Tại đây, ông gặp lại quan Phó bảng Phan Chu Trinh, người bạn
cùng thi Hội khoa Tân Sửu (1901). Phan Chu Trinh đã đăng tờ biểu
(đơn) xin cáo từ chức thừa biện Bộ Lễ. Ông đã công khai lên án bộ
máy quan lại thối nát, cam tâm làm tay sai cho người khác. Ông diễn
thuyết ngay trong trường Quốc tử giám và trước những thí sinh từ
các miền trong nước mới về kinh đô Huế dự thi Hội khoa Giáp Thìn
(1904). Ông kêu gọi những người tai mắt phải ngẩng cao đầu, đi tiên
phong trong công cuộc xây dựng dân quyền, nâng cao dân trí, dân
sinh… Tiếng nói của ông cùng với Lưu cầu huyết lệ tâm thư (lá thư
viết bằng máu và nước mắt) của Phan Bội Châu đang gây chấn
động cả kinh thành và lan rộng về các miền xa của đất nước. Nghe
danh tiếng của hai nhà chí sĩ họ Phan, nhiều bậc danh nho, khoa
bảng ở các nơi về Huế tiếp kiến. Từ Phan Thiết, đất cực Nam Trưng
Bộ, ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội ra Huế gặp Phan Chu Trinh.
Phan Bội Châu đã rời Huế vì ông không đồng quan điểm với Phan
Chu Trinh. Quan nghè Trần Quý Cáp, quan nghè Huỳnh Thúc
Kháng, quan đốc Đặng Nguyên Cẩn, quan nghè Ngô Đức Kế… đều
cùng quan điểm với quan Phó bảng Phan Chu Trinh. Cho nên quan
đốc Cẩn, quan nghè Kế đã lập ra Triêu Dương Thư Quán ở Vinh.
Ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội (con trai đầu của nhà thơ yêu
nước Nguyễn Thông), hai nhà hằng tâm hằng sản tham gia tổ chức
Hội Duy Tân, đã cùng các ông Nguyễn Quý Anh, Trần Lệ Chất,
Nguyễn Hiệt Chi, Ngô Văn Nhượng lập ra công ty Liên Thành
thương quán và trường Dục Thanh tại Phan Thiết.
Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy tham dự nhiều buổi bình văn.
Ông đã để lại trong tâm trí giới sĩ phu yêu nước một câu nói nổi
tiếng: Quan trường thị nô trung chi nô lệ hựu nô lệ (61). Ông Lê Văn
Miến, một giáo sư nổi tiếng của trường Quốc học, qua những buổi
bình văn đã bắt gặp được tiếng nói tri âm ấy và đã kết bạn đồng tâm
với quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy…
Từ ngày đầu đến ở nhờ, Tất Thành đã được vị quan biên tu
Quốc sử quán họ Phạm chú ý.
“Lưỡng mục minh tinh” (62) Nhìn đôi con mắt của Tất Thành ông
nhớ lại dịp Thành qua Hà Tĩnh chơi, nhiều người truyền đi những lời
đồn về sự sáng dạ, sự tinh anh và khẩu khí như gấm hoa của anh,
lúc ấy ông chưa tin lắm. Bây giờ nhìn kỹ đôi con mắt của Tất Thành,
ông nói: Mắt là kho báu của con người ta. Cho nên, dân gian mới
nói: “Giàu hai con mắt”.
– Nghĩa là được nhiều tiền nhiều của là do ở hai con mắt, hả
cha? – Phạm Gia Cần, con trai ông Phạm Khắc Doãn, hỏi.
Ông Phạm Khắc Doãn nhìn con cười:
– Con trai cửa cha chỉ hiểu được cái nghĩa hẹp của câu tục ngữ
luận về đôi mắt của con người. Cái chữ “giàu” của đôi con mắt nghĩa
của nó rộng lắm con ạ. Càng giải thích, nghĩa của nó càng lớn ra.
Tùy ở mức hiểu biết của mỗi người đến đâu thì sẽ nhận ra được ý
nghĩa của nó tới đó. Với lứa tuổi của con, chưa từng trải việc đời,
cha chỉ có thể nói cho con hay cái nghĩa chữ “giàu” của đôi con mắt
là giàu về tài năng, giàu về vốn hiểu biết ở đời, giàu về đức độ. Và –
ông nhấn giọng – người thiện nhiều hay ác nhiều cũng đều lộ ra ở
hai con mắt…
Nghe cha giảng giải, cậu ấm Cần bắt đầu quan sát kỹ cậu ấm
Thành… Rồi qua những ngày chung sống trong nhà, Cần càng nhận
ra dần dần ở Thành giàu những đức tính tốt đẹp và sự thông minh
sáng láng khác thường.
Bữa cơm “khách” đầu tiên, ăn xong Thành tự đi lấy tăm đặt lên
miệng ly trà cho từng người. Thành thu dọn bát đĩa và đi rửa. Cần
cảm động, ngăn lại:
– Thành đừng mó tay vô công việc ni. Đến bàn uống nước, để
mình làm cho.
– Việc ni để em làm phải hơn. Ngoài hai ông bố ra chỉ có anh và
em thôi. Em ít tuổi hơn anh, em nhận việc rửa bát, anh làm việc
khác.
Quan biện tu Quốc sử quán Phạm Khắc Doãn nhìn cậu ấm
Thành dọn bát đũa, gật đầu, nói:
– Cần hãy xem, em Thành nó sắp bát ý tứ chưa kìa? Cách sắp
xếp ấy thì dù có chồng cao lên mấy cũng khó đổ. Lần trước con
đánh vỡ cả chồng bát cũng chỉ vì xếp trên to dưới nhỏ…
Đến ở ngày hôm trước, hôm sau Thành đã đi chợ đong gạo, mua
thức ăn. Thành biết rành từng loại gạo cơm ở chợ Đông Ba như gạo
lốc dâu, gạo chăm, gạo ré, gạo hẻo… Anh nói với Cần:
– Những thứ gạo này vừa dẻo, vừa thơm và ngọt mà lại hợp túi
tiền của anh em mình. Ở Huế có rất nhiều thức ăn tươi ngon. Chịu
mất công một tí và chịu để ý học cách làm món ăn của các bà, các
chị thì sẽ được ăn ngon miệng mà lại không tốn tiền lắm. Đặc biệt có
món cá bống kho khô, rắc tiêu, ăn với canh rau tập tàng ngon tuyệt,
anh ạ.
Phạm Gia Cần ngạc nhiên, hỏi:
– Thành vừa vô tới đây sao đã thuộc đường, quen chợ và lại
thạo mọi việc nội trợ hơn cả những cô gái con nhà tần tảo vậy?
– Mười năm trước đây, em đã từng ở với cha mẹ em trong thành
nội, xung quanh khu vực hoàng thành và vùng ngoại vi Huế em
quen thuộc cả. Còn việc thạo chợ búa, nấu nướng là do mệ em và
chị Thanh của em bày vẽ cho. Có lúc em đã phải lo liệu mọi việc
trong nhà vì cha đi vắng, mệ ốm nặng. Vả lại, biết làm việc gì là có
ích cho mình, anh Cần ạ.
Phạm Gia Cần vẻ mặt trầm ngâm, nói thủ thỉ:
– Từ hôm Thành đến ở chung, cha mình luôn luôn tấm tắc: “Có
con mắt; có bàn tay cậu ấm Thành, nên nhà sân, vườn đã phong
quang ra, đồ đạc được gọn gàng ngăn nắp đâu vô đó…”. – Cần hạ
giọng, chân thành: – Ở gần Thành, mình học hỏi được nhiều thứ,
nhất là cách đọc sách.
Thành nói luôn:
– Cha em và thầy Vương Thúc Quý dạy em cách đó. – Hai mắt
nhìn vào xa xăm, Thành hồi tưởng: – Còn nếp sống trong nhà là bà
ngoại em rèn cặp cho từ lúc ba chị em còn nhỏ, quấn quýt bên chân
bà.
o0o
Xong tuần tang bố vợ, anh nho Sắc gầy rộc như qua một trận
ốm. Chị nho Sắc và cô An thì phải bắt tay ngay vào công việc: ngày
đi làm đồng, tối dệt vải quá nửa đêm mới đi ngủ. Số tiền tốn kém
vào việc ma chay tuy được những học trò, bạn hữu phúng điếu
nhiều, nhưng chẳng thấm tháp, cho nên mẹ con bà đồ phải lấy công
dệt vải để trang trải. Phần thì kỳ thi Hương cũng không còn xa nữa,
cả nhà bà đồ đều lo lắng, mong đợi nhiều ở anh nho Sắc trong kỳ thi
này.
Từ ngày ông đồ mất, vợ chồng anh nho Sắc về ăn chung với bà
đồ. Ngôi nhà tranh ba gian của ông bà đồ dựng lên cho vợ chồng
nho Sắc ra ở riêng nay tạm cho những chị em làng Chùa mượn làm
nơi nhóm phường kéo sợi. Những đêm trăng, từ mái nhà này những
điệu ví dặm được cất lên cùng với tiếng xa quay…
Một hôm, có mấy người bà con bên họ ngoại của bà đồ đến dự lễ
đốt vàng mã cho ông đồ nhân tết “xá tội vong nhân” rằm tháng bảy.
Khách ở lại nghỉ đêm. Bà đồ ngồi ở giữa giường. Ba chị em bé
Thanh, Khiêm, Côn ngồi vây quanh bà nghe bà kể chuyện với
khách. Trăng rằm sáng như ban ngày. Những khóm cúc ngoài cửa
sổ ngả bóng vào trang sách của anh nho Sắc đang học. Chị nho Sắc
thì ngồi dệt trên khung cửi ở gian nhà đầu hồi phía Tây. Cô An đi
qu...
 
Nhúng mã HTML
GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc





