CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VỆN

Ảnh ngẫu nhiên

TIET_DAY_THAY_HOANG.jpg ANH_HUONG_UNG_TUAN_LE.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BẢN TIN THƯ VIỆN

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    CHÀO XUÂN MỚI

    Bac Ho nhung cau chuyen cam dong

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:37' 04-05-2024
    Dung lượng: 7.2 MB
    Số lượt tải: 19
    Số lượt thích: 0 người
    KIM NHẬT

    NHÀ XUẤT BẢN NGHỆ AN

    KIM NHẬT

    BÁC HỔ
    NHŨNG CÂU CHUYỆN
    CẢM ĐỘNG
    (In lần thứ ba)

    NIIÀ XUẤT lỉẢN NGHỆ AN - 2007

    LỜI NÓI ĐẦU
    Danh nhân kim cổ trên thế giới thường để
    lại phần tinh hoa tư tưởng của họ thông qua
    những lời nói, những trước tác, những chuyện
    kể giản dị, hàm súc chứa đựng nhiều chân lý và
    có sức thuyết phục nhiều thời đại. Bác Hồ của
    chúng ta là một trong những người như vậy.
    Phần do kính yêu Bác, phần do yêu cầu
    cõng việc, nhà báo Kim Nhật (tên thật là
    Nguyễn Văn Hùng, hiện cõng tác tại Báo Nghệ
    An) đã bỏ tâm lực trong nhiều năm để tìm hiểu,
    sưu tập, nghiền ngẫm và viết nên 26 bài viết
    nhỏ trong tập sách còn khiêm tốn mang tên

    Bác HỒ, những câu chuyện cảm động.
    Trước đây, chuyện kể về Bác đã được
    nhiều Nhà xuất bản trong và ngoài nước tổ
    chức tập hợp, biên soạn, xuất bản và được bạn
    đọc hoan nghênh. Tiếp thu một số kết quả của
    người đi trước, cuốn sách nhỏ này có những
    điểm đảng chú ỷ về tư liệu, nghệ thuật kể
    chuyện, cách phân tích, tiếp cận bản chất sự

    việc, lời nói, từ đó tim ra bài học ứng xử đối với
    cuộc sống hiện nay.
    Nhiều năm gần đây, toàn Đảng, toàn quằn,
    toàn dân ta đang kiên trì học tập, sống và làm
    việc theo Tư tưởng Hồ C hí Minh. Bởi vậy, cuốn
    sách bạn có trên tay là một tài liệu tham khảo
    bổ ích, qua câu chuyện nhỏ mà đến được với
    những tư tưởng lớn. Tuy vậy, cuộc đời và tư
    tưởng của Người rất sâu rộng, nhiều giá trị cần
    phải có thời gian và trí tuệ của nhiều người mới
    khám phá, thấm nhuần hết được, nên chắc
    chắn cuốn sách chưa đáp ứng được nhiều,
    thậm chí đây đó còn có hạn chế...
    Nhà xuất bản mong bạn đọc thông cảm và
    hy vọng sẽ nhận được ý kiến góp ý, để lần tái
    bản sau, cuốn sách hoàn thiện hơn!

    NHÀ X U Ấ T BẢN N G H Ệ A N

    NGƯỜI MỞ TRANG ĐẦU CHO NỂN
    MỸ THUẬT CÁCH MẠNG Nước TA
    Chưa bao giờ, Chủ tịch H ồ C hí M inh tự
    nhận m ình là hoạ sĩ, nhưng trên m ỗi bước đường
    loạt động cách m ạng đầy chông gai, qua nhiều
    nước Á - Â u, Người đều sử dụng lão luyện ngòi
    3Út báo chí như m ộ t công cụ hỗ trợ đắc lực. Bởi
    thế, Người tự nhận m ình là m ột nhà báo.
    H ẳn nhiều bạn đọc trong chúng ta còn nhớ
    3ài báo "Hành hình kiểu Lin-xơ, m ộ t phương
    diện ít ìì^ười biết của nên văn minh M ỹ ” (đăng

    trong T ạp chí Thư tín Quốc tế, số 59, năm 1924).
    Với bài báo nổi tiếng này, nhà yêu nước - nhà
    Dáo N m iyễn Ái Q uốc đã tố cáo m ột kiểu giết
    người cực kỳ m an rợ thời kỳ c h ế độ nô lệ tại
    niróc M ỹ: Neười da đen bị trói vào cây, bị tưới
    dầu hoủ, rồi bị đốt cháy! Trước khi chết, họ còn
    :)Ị bò dần tùng chiếc răim, bị m óc mắl, bị rút

    7

    từng nhúm tóc kéo theo từng m ản g thịt da, để lộ
    cái sọ người đẫm máu... Chỉ trong vòng 30 năm ,
    từ 1889 đến 1919, tại nhiều bang của nước M ỹ
    đã có 2.600 người da đen, 708 người da trắng bị
    hành hình theo kiểu Lin-xơ! Đ ể mức tố cáo ở các
    bài báo được tăng thêm sức thuyết phục, thời
    gian làm báo, phụ trách các tờ báo trong đó có
    Báo Người cùnq k h ổ tại T hủ đô P a-n (số 1 ra
    ngày 1-4-1922 và ra khoảng 38 số thì bị đình
    bản), N guyễn Á i Quốc còn vẽ nhiều tranh b iếm
    họạ, đả kích tội ác đầy thú tính của chủ nghĩa
    thực dân và đ ế quốc. Tiêu biểu như các bức:
    Người Pháp đánh đ ập tàn nhẫn dân hản xứ, Phu
    kéo xe cho quan lại Pháp... N guyễn Ái Q uốc

    còn vẽ nhiều tranh khơi gợi n iềm tự hào dân tộc
    Việt Nam , như các bức: H a i Bà Trưng, ô n g L ý
    Thường Kiệt, ô n g Trần Hưiĩg Đ ạ o , ô n g Đ ề
    Thám, Bà Bùi Thị Xuân... Trang bìa của tập thơ
    N h ậ t ký trong tù, viết trong kh oảng thời gian từ

    tháng 8 năm 1941 đến tháng 9 n ă m 1943, Bác có
    bức vẽ tả hai nắm tay bị xích xiềng đang vung
    m ạn h lên n h ằm biểu thị quyết tâm , bản lĩnh,
    niềm tin vào chiến thắng cuối cùng! N hững năm

    8

    1941, 1942 ( t r i n t khi bị bắt giam ở Trung
    Q uốc), Bác trực iếp phụ trách và viết bài cho
    báo Viẻt N a m Độ ' lập. Kể từ số đầu tiên ra ngày
    1 tháng 8 năm 19 u đến các số cuối tháng 8 năm
    1942, trên m ặt báo, Bác hay có những vần thơ lẻ.
    Có lần, cạnh 2 câu thơ lục bát: “Làm (ỊÌỎi thì
    được m ề đ a y (tiếng Pháp, chỉ huy chương)/
    ChúiĩíỊ ta đểu p h ả i xắn tay m à làm ”, nhà báo Hồ

    Q ií M inh vẽ m ột tấm huy chương hình ngôi sao
    năm cánh, ở giữa có hai chữ V.M, để thưởng cho
    hội viên nào có thành tích...
    Có thể khẳng định tính nhạy cảm , năng
    động, quyết liệt, kịp thời, óc thẩm m ĩ với lối vẽ
    vừa trực diện dễ hiểu vừa thâm thuý sâu cay qua
    nhiều bức tranh của Bác đã trở thành những hồi
    chuông góp phần to lớn cảnh tỉnh lòng yêu nước
    thương dân, rnối căm thù không đội trời chung
    với thực dân đ ế q u ố c và truyền bá chủ nghĩa M ác
    - Lê N in cho người Việt N am giữa đêm trường
    nô lệ.
    Trên cơ sở sưu tầm, nghiên cứu các tác
    phẩm hội hoạ, điêu khắc đầu thế kỷ X X ở Việt
    Mam, nhiều học giả đêu thống nhất cho rằng:

    N guyễn Ái Quốc, ngòi bút tiên phong dù n g mỹ
    thuật làm vũ khí đấu tranh giải phóng dân tộc và
    oài người bị áp bức; chính Người đã đặt nhiíng
    viên gạch đầu tiên cho nền M ỹ thuật C ách m ạng
    nước ta phát triển sôi động và đạt nhiều thành
    tựu suốt m ột th ế kỷ vừa qua!

    10

    HỌC TTỐ^G NÓI CỦA ư ; NIN
    N gôn ngữ là thứ sản phẩm đặc biệt của mỗi
    nền văn hoá, là m ột tiêu chuẩn quan trọng để
    phân định, đánh giá sự ra đời và trưởng thành
    của m ột dân tộc gắn với vị thế, phạm vi ảnh
    nưởng của dân tộc đó. Tiếng Nga, ai cũng biết,
    'à m ột ngôn ngữ chính xác, bay bổng nhưng lại
    rất khó học, càng khó sử dụng... Ây vậy mà,
    ngay từ khi đặt chân lên đất nước Liên Xô - ngày
    30 tháng 5 năm 1923 - để có thêm phươns tiện
    nhạn thức, tư duy, và hoạt độrm cách mạng,
    N guyễn Ái Q uốc đã tranh thủ học tiếns Nga.
    Chỉ trong m ột ihời íia n ncắn, Người đã níĩhe và
    nói được m ột số tiens: thườno; dùng trong đời
    sốnỉĩ ui ao tiếp hàng ncày. Đ iểu đó, làm cho mộl
    số bạn thân của Ncười lúc bấy giờ, hết sức nsạc
    nhiên! Với tinh ihần ham học hổi đó, khoáng 5
    năm Irên đất bạn, nhà cách m ạng Nguyễn Ái
    Quốc đã nám khá thành ihạo tiếno: Nqa.

    G .s N gu y ễn K hánh Toàn sau này có cho
    biết: Thời gian Bác vào lớp N ghiên cứu sinh Ban
    Sử học củ a V iện nghiên cứu các vấn đề dân tộc
    và thuộc địa, Bác đổng thời nhận phiên dịch
    nhiều tài liệu từ tiếng N g a sang tiếng Việt. Với
    tiếng N g a học được, Bác viết rất nhiều bài báo
    giàu tính chiến đấu và quốc tế, gửi đăng các báo
    ch í ở L iên X ô hồi đó, như Sự Thật, T iêhẹ Cời,
    T ạ p ch í Đ ỏ , Thời Mới... Khi đã ở vào cương vị

    C hủ tịch nước, Bác H ồ từng sang thăm L iên X ô
    nhiều lần. Bác đi nhiều nơi, trò chuyện với nhiều
    người bằn g tiếng Nga, riêng với Trường N g oại
    ngữ m ang tên H ồ Chí M inh ở I-ếch-kút, Bác đến
    m ấy lần. Đ ây là m ột H ọc viện dạy tiếng nước
    ngoài ở L iên X ô, vinh dự được gắn tên H ồ C hí
    M inh từ cuối n ă m 1969 (Bác qua đời), là trường
    kết nghĩa với Trưòng Đại học N goại ngữ H à N ội.
    Các nhà giáo dục công tác tại trường n ày còn
    m ãi nhắc n hở và trân trọng nhiều kỷ n iệ m đẹp,
    xúc động về những buổi gặp, đón Bác n à m xưa.
    N h ờ vào uy tín của m ình, và nhờ có trình độ
    tiếng N ga nữa, Bác đã làm tăng thêm b ầu k h ô n g
    khí ấm áp, tình hữu nghị chân thành và thắm

    12

    thiết giữa hai nước V iệt N am - L iên X ô cả m ột
    thời gian dài.
    M ột n h à báo lớn của V iệt N am được đi công
    tác cùng Bác sang Liên X ô, là nhà báo T hép
    Mới, có kể lại câu chuyện sau: Đ ã có m ộ t đồng
    chí ở T hủ đô M át-xcơ-va Ihốt lên, rằng từ trước
    đến nay, những người nổi tiếng trên th ế giới đến
    Liên X ô m à nói sõi được tiếng N g a thì chỉ có 3
    người: Đ ồ n g chí T ổng Bí thư Đ ảng C ộng sản
    Pháp M ô-rít Tô-rê; nhà nghệ sĩ da đen ngưòd M ỹ
    Pôn R ốp-xơn; và C hủ tịch H ồ C hí M inh!
    N hư vậy, học và sử dụng tiếng N ga tuy khó
    nhưng người V iệt N am ta không phải không làm
    được. N goài Bác H ồ, còn có nhiều tấm gương tự
    học rồi sử dụng thành thạo tiếng N ga trong ngoại
    giao và các chuyên ngành k hoa học, văn hóa,
    văn học - nghệ thuật. Đ áng tiếc, những người
    như vậy ngày càng h iếm đi, khiến cho tình hình
    rất k hác trước. M ộ t ông bạn dạy tiếng N g a vào
    oại kỳ cựu của tôi, hôm nợ than phiền: "Từ ngày
    tiếng A nh lên ngôi, thì tiếng N ga trở nên lép vế
    dần, có lúc đến thảm hại! Đ ã có thời gian dài ở

    13

    bậc đại học và phổ thông, tiếng N g a không được
    dạy, hoặc có dạy cũng rất hình thức, đối phó” .
    Buồn lắm! Tiếng N ga không chỉ gắn liền với
    tên tuổi Lê Nin, với chủ nghĩa xã hội; tiếng N ga
    còn là hiện thân m áu thịt của tính cách N ga, với
    văn hoá và văn học N ga nữa. C húng ta từng
    “say” tiếng H án, tiếng Pháp, tiếng N ga. Bây giò'
    người ta đổ xô đi học tiếng A nh, tiếng N hạt,
    tiếng Đ ức... Trong khi đó, theo kinh nghiệm của
    nhiều người giỏi ngoại ngữ, m uốn hiểu, nắm
    chắc và sử dụng thành thạo m ột thứ tiếng, cần
    phải bỏ ra... cả m ột đời người!
    V ăn hào L .Tôn-xtôi từng nói: “N ẹô n ngữ là
    linh hồn của dân t ộ c ”. V âng, nhưng tôi nghĩ, với

    tiếng N ga thì đó đâu chỉ là “linh h ồ n ” của riêng
    người Nga?! C ộng hoà L iên bang N ga, vói diện
    tích 17.075.400km 2, dân số 146.601.176 người,
    có quan hệ ngoại giao với nước ta từ ngày 3-11950. N gôn ngữ của m ột đất nước rộng lófn, giàu
    truyền thống và tiềm lực như thế, từng m ột thòfi
    làm say đắm nhân loại tới m ức m ê hoặc như thế,
    ẽ nào ngày nay, tiếng N ga không còn đủ sức hấp
    dẫn loài người tiến bộ nữa?!

    14

    THÊM BẢN DỊCH
    «

    MỘT BÀI THƠ CHỮ HÁN CỬA BÁC
    %

    Them th ể tại Iiẹục trung,
    Tinh thcìn tại nụỊC ngoại.
    D ục thành đạ i sự nghiệp,
    Tinh thần cánh yến đại.

    Trong nguyên tác, tập thơ chữ H án N^ục
    trung nhật kv của Bác Hồ có 133 bài. Bốn câu
    thơ này không có đầu đề, tác giả chép ở ngoài
    bìa tập thơ cùng hình vẽ hai cánh tay bị xiềng.
    Bài thơ có ý nghĩa như m ột lời “đề từ” cho
    toàn bộ cuốn N hật ký. Bản dịch nghĩa: 'Thân
    th ể ở troìiịỊ ngục/ Tinh thần ở ngoài ngục/ Muốn
    thánh sự ìiẹhiệp Ìớìíỉ Tinh thần càng p h ả i lớn".

    N ăm 1960, lần đầu tiên Viện Văn học nước ta
    hoàn thành bản dịch và cho xuất bản tập N h ậ t ký
    tron ẹ tù vào đúng dịp Chủ tịch

    nổ Chí M inh

    tròn

    15

    70 tuổi. Bài thơ được nhà thơ - dịch g iả N am
    Trân dịch thành thơ như sau:
    Thân th ể ở trong lao,
    Tinh thần ở n^oài lao.
    M uốn nên sự nghiệp lớn,
    Tinh thần càng p h ả i cao.

    C ho đến nay, bản dịch thơ của N am Trân
    vẫn được n h iều th ế hệ bạn đọc trong đ ó có học
    sinh, sinh viên yêu thơ Bác biết đến, chẳng
    những thế, họ còn thuộc lòng. M ặc dù vậy, theo
    nhà H án học Trần Đắc Thọ, tác giả cô n g trình
    T h ơ ch ữ H án của H ồ Chủ tịch (N X B Đ ại học

    Q uốc gia H à nội - 2003) thì bài thơ này, Bác có
    dụng ý sử dụng vần trắc (Các chữ ngoại, nghiệp,
    đ ạ i k hi phát âm thì nặng và ngắn), q u a đó Người

    m uốn nói lên những gian nan thử th ách đ ã và sẽ
    đến với m ình, đổng thời nhấn m ạnh q u y ết tâm
    cao để vượt qua tất cả. Từ quan n iệm này, ông
    Trần Đ ắc T họ đề xuất m ột bản dịch th ơ khác:
    Thân th ể trong ngục,
    Tinh thần ở ngoài ngục.
    Sự nghiệp lớn muốn thành,
    Tinh thẩn cao tột hậc.
    16

    Bản dịch thơ này, quả thật k h ô n g “th o át”
    như bản dịch của N am Trân, nhưng có phần chắc
    là bám sát tinh thần, âm điệu của ngu y ên bản
    hơn, đặc biệt là ở vần trắc cuối các câu thơ, chứa
    đựng nhiều dụng ý của m ột N gười - T ù - V ĩ Đại.

    17

    “MỘT NHÀNH MAI”
    HAY “MỘT CẢY C H MAT?
    Trong phần thơ chữ H án của Chủ tịch Hồ
    C hí M inh, ngoài 133 bài thơ của tập N h ật kỷ
    trong tù (viết từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943),

    N gười còn có nhiều tác phẩm vào loại thật hay
    nữa, m à bài thơ chữ H án cuối cùng của Bác là bài
    “M ậu Thân xuân t ỉ ế í ” (viết ngày 14-4-1968).

    Bài thơ ''Thướníị sơn ” sau đây, Bác viết tại
    L ũng Dẻ, năm 1942;
    Phiên âm:

    THƯỚNG SƠN
    Lục nguyệt nhị thập tứ,
    Thướng đ á o thử sơìĩ lai.
    C ử đầu lĩồn ẹ nhật cận,
    Đ ố i ngạn nhất chi mai.

    L ũng Dẻ, 1942

    18

    Dịch nghĩa:
    LÊN NÚI
    Ngày hai mươi tư tháng sáu,
    Trèo lên trên núi này.
    Sgẩng đầu thấy gần m ặt trời đỏ,
    Bên kia suối, có m ộ t nhành mai.
    Lũng Dẻ là tên m ột cái hang ở sườn dãy núi
    đá Lam Sơn, thuộc xã M inh T ân, huyện N guyên
    Bình, tỉnh Cao Bằng. Tại h ang này, có đặt cơ
    q uan ấn loát Báo Việì N am Đ ộ c lập (trước k ia ở
    K huổi N ậm - Pắc Bó, nay m ới chuyển về L ũng
    D ẻ), do Bác Hổ sáng lập và trực tiếp phụ trách.
    Bài Ihơ tứ tuyệt viết ở L ũng D ẻ này, rất kiệm lòd,
    tính biểu trưng cao, thể hiện tầm nhìn và con m ắt
    thơ của m ột thi sĩ phương Đ ông. Đ iều khiến tôi
    còn có sự phân vân nằm ở câu kết: "Đối ngạn
    nhất chi m ai

    Các bản dịch trước đây, đều được

    dịch: Bên bờ suối đối diện có m ột nhành m ai.
    Bản dịch khá quen thuộc của nhà thơ T ố H ữu
    cũng hiểu vậy: “H ai mươi tư tííánq sáu! Lên
    ngọn núi này chơi! N gẩng đầu: m ặt trời đỏ! Bên
    su ối m ột nỉìcinh m ai

    Nhưiig, cũng ở câu thơ thứ

    19

    4 này, lại có m ột cách hiểu khác cần được chú ý.
    N hà H án học Trần Đ ắc T họ trong cu ố n sách T h ơ
    chữ H án của H ồ Chủ tịch (N X B Đ ại h ọ c Q uốc

    gia H à N ội - 2003) cho rằng: “N h ất chi m a i” là
    m ột cây chi m ai, chứ không phải m ộ t nhành m ai.
    T heo ông, chi m ai là m ột loại m ai nhỏ, thường
    được trồng vào chậu, hoa nở vào m ù a xuân,
    không kết trái. N gưòi ta có thói quen chcd chi
    m ai cả cây, chứ không cắt cành vì h o a chóng tàn.
    K hi nhận xét về các bản dịch cũ, ông T rần Đ ắc
    T họ viết: “T hiết nghĩ, nếu chỉ đơn giản là m ột
    nhành m ai thì nó sẽ lẫn vào cây cỏ khác. T ác giả
    ghi rõ thời điểm làm bài thơ là 24 tháng 6 - lúc
    đó m ai làm gì còn hoa nữa?” . “N hất chi m ai” ở
    đây không có nghĩa như “ nhất chi m ai" trong bài
    thơ nổi tiếng của M ãn G iác T hiền sư đời Lý;
    “N g ạ c vị xuân tàn, hoa lạc tận/ Đình tiên tạc dạ,
    nhất chi m a i ” (D ịch thơ: Chớ tưởng xuân tàn

    hoa rụng h ế t/ Đ êm qua sân trước m ộ t nhành
    m ai).
    Vậy, cụm từ “nhất chi m ai” trong câu thơ
    “Đ ố i ngạn n h ất chi m ai ” là m ột nhành m ai, hay

    là m ột cây chi m ai? M ột chi tiết tuy nh ổ nhưng

    20

    nó lại ở Irona; câu cuối m ột bài thơ tứ tuyệt, có
    thể xein là m ột điểm nhấn, tạo nên tứ thơ, nên
    cũng cần được m inh định, ở C ao Bàng, nếu có
    oài chi m ai thật, thì cách hiểu và dịch của Trần
    Đ ắc Thọ có cái lý của ông (Bên h ờ đ ố i diện có
    m ộ t cây chi m ai). N hưng cũng không loại trừ

    k h ả năng, đó chỉ đơn giản là m ột nhành m ai, như
    cách hiểu và dịch của nhà thơ T ố H ữu. T rong thơ
    ca, m ột nhành m ai có thể đại diện cho m ột cây
    m ai lắm c h ứ ? !
    Và, sẽ cảm động biết bao khi chúng ta biết
    th ê m

    đ iề u này: N g ày 2 4 -6 -1 9 4 2 , B ác H ồ

    “Thướnẹ son ” (Lên núi) thì chỉ m ột thời gian rất

    ngắn sau đó, ngày 27-8-1942, Bác lên đường từ
    sáng sớm đi Bình M ã, đến Túc V inh (huyện Đ ức
    Bảo, Q uảng Tây, Trung Quốc), liền bị bọn tuần
    cảnh bắt giữ. Sự kiện oái ăm này đã m ở đầu cho
    thời gian hơn m ột năm Người bị Q uốc dân đảng
    T rung Q uốc giam hãm , đoạ đày, để từ đó viết
    nên tập thơ bất hủ N h ậ t ký trong tù!

    21

    BÀI THƠ CUỐI MỞ ĐẦU T ự DO
    T ập thơ N h ậ t kỷ trong tù g ồ m 134 bài
    (không kể bài thứ 135 “M ớ i ra tù tậ p leo núi ” in
    cuối tập khi tác giả được tự do), viết từ ngày 298-1942 đến ngày 10-9-1943, k h o ản g thời gian
    N gười bị chính quyền Tưởng G iới T hạch bắt
    giam ở Q uảng T ây (Trung Q uốc). N h ậ t ký tron g
    tù được V iện V ăn học tổ chức dịch và N hà xuất
    bản V ăn hóa (H à N ội) cho ra m ắt rộng rãi bạn
    đọc vào năm 1960. Từ đấy tới nay, tập thơ đã
    nhiều lần tái bản; được nhiều nhà nghiên cứu,
    phê bình và bạn đọc trong, ngoài nước tìm h iểu
    m ột cách trân trọng, công phu chủ yếu nhằm giải
    đáp m ột thắc m ắc m à G iáo sư Đ ặn g Thai M ai có
    ần nêu ra: “C á i gì trong tập th ơ n à y đ ã qu yến
    rũ người đ ọc, đ ã làm cho người đ ọ c ở nước ta
    cũn^ như ở nước n ẹo à i đánh giá h ế t sức ca o ?
    Á p-đen M a-lếch Kha-lin, trên báo r//7 tức (A icập) ra ngày 10-9-1969, đã hết lời ca ngợi: “Cụ đ ã
    trở thành như m ột vị Thánh, m ột ngưìn thầy, m ộ t

    22

    tií>ưă tiêu hiểu cho cuộc kháng chiến, m ột nhà văn,
    m ột nhà tuyên truyền chính trị, m ột nhà nghiên cứu
    văn học sắc hén và m ột nhà thơ ^iàu tình cảm
    Khía cạnh nhà thơ vói tập N hật kỷ trong tù, A. Khalin viết: “Cồn v ề nhà thơ H ồ C hí Minh, thì p h ả i nói
    rằnĩỊ Cụ vào loại có m ột không hai trong c ả kìm
    vực Đ ôn ẹ N am Á, như đ ã th ể hiện trong các hài
    thơ Cụ sủng tác tl'ong thòti gian bị tù đ à y ỏ Trung
    Quốc dưới c h ếđ ộ T ư ỏ n ẹ G ió iT h ạ ch , khi Cụ bị họn
    câm quyền Trung Quốc giam giữ, gông cùm và
    xiềng xích!
    Đ ọc những bài ứiơ trong N h ậ t kỷ
    troníỊ tù, tác giả cảm thấy rõ: ''Nguồn thơ của Cụ
    không hao ^iờdứt. Và những bài thơ đ ó tự nó cũng

    đ ã hỢỊj thành một bản anh hùng ca về m ột con
    ìì^ười tin tưởìig vào sự nghiệp đấu tranh và nhữ ig
    cuộc chiến đấu của mình

    Còn G ioóc-giơ B u-đa-ren, ở lời giói thiệu
    N hật kỷ tron g tù (Pa-ri, 1971) thì đã gắn kết
    phẩm chất “người chiến sĩ” và “nhà thơ” trong
    m ỗi hình tượng thơ của N gười. Tác giả này đi
    đến m ột kết luận đáng chú ý: 'T ro n g bản thân
    con nẹười ớ /?ẹ H ồ C h í Minh, nhà cách m ạn g với
    ììĩịhệ s ĩ kiểu m ới là m ộ t ”. G. B u-đa-ren còn thấy
    rõ tư tưỏíng N hân vãn vô cùng quý giá trong toàn
    bộ tập N hật ký; “Troỉỉíỉ tất c ả cá c hài thơ, không

    23

    hài nào vắng hóng con người. C á c h ài thơ ấ y
    góp p h ầ n tạo nên tư tưởỉĩg N hân văn cho toàn
    tác p h ẩ m , và g ó p ph ần so i s á n ^ m ộ t thực t ế đang
    đe d o ạ , p h á hoại con người!

    Tập th ơ N h ậ t kỷ trong tù quả là viên ngọc
    quý trong kho tàng văn hoá - văn học V iệt N am
    và nhân loại. Bạn đọc rộng rãi đã và sẽ còn dành
    nhiều thời gian, nhiều tâm huyết và nhiều
    phương pháp tiếp cận nữa để tìm hiểu về hiện
    tượng văn học vừa sâu sắc vừa độc đáo này.
    N gày 10 th án g 9 năm 2003, chú n g ta kỷ
    niệm 60 năm Bác H ồ viết bài thơ cuối cùng, bài
    số 134 "K ết lu ận ” tập N h ậ t kỷ trong tù:
    M a y mắn gặp được chủ nhiệm họ H ầu sáng suốt,
    M à n ay ta lại là người tự do.
    N h ậ t kỷ trong tù chấm dứt từ đây,
    C ảm tạ khôn x iết côn g ơn tái tạo của ôn g H ầu!

    2 9 -8 -1 9 4 2 - 10-9-1943.
    H ết
    Bài thơ cuối tập thơ N hật ký đã m ở đ ầ u m ột
    Tự do m ới của Bác H ồ, góp phần quan trọng m ở
    ra m ộ t thời đại chưa từng có trong lịch sử C ách
    m ạng nưóc ta!

    24

    “ĐÃ SÁNG LẠI
    TRỜI THU THÁNG TÁM”
    Do thời



    giành chính quyền đã đến gần,

    ngày 8 tháng 8 năm 1945, V iệt M inh liên tỉnh
    N ghệ - T ĩnh (thành lập ngày 19-5-1945) tổ chức
    Đ ại hội đại biểu bàn k ế hoạch T ổng khởi nghĩa.
    Đ ại hội khai m ạc tại làng Châu Sơn, x ã Phúc
    M ỹ, nay là xã H ưng Châu, huyện H ưng N guyên.
    Trước tình hình thay đổi m au lẹ, Ban
    Thường vụ M ặt trận V iệt M inh N ghệ - T ĩnh đã
    thành lập ngay ú y ban khởi nghĩa và phát động
    khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh.
    Ngày 15-8-1945, phát xít N hật đầu hàng Đ ồng
    m inh không điều kiện. Chóp thời cơ thuận lợi
    đó, Uỷ ban khởi nghĩa N ghệ - T ĩnh phát lệnh;
    “C á c địa phươỉig p h ả i b ố trí ngay việc cưỚỊ?
    chính quyền, tùy hoàn cảnh của từng đ ịa
    phưonịỉ, không câu nệ làng trước h ay huyện

    25

    trước. CưỚỊ) chính quyền xong, p h ả i tuyên h ố
    lìuỷ hỏ các p h á p luật, quyền lợi kinh tế, chính trị,
    x ã hội d o P háp, N h ật và chính phủ hù nhìn lập
    ) >

    ra .

    N hận được lệnh, ngày 16-8-1945, nhân dân
    xã T hanh T huỷ, huyện N am Đ àn đã vùng dậy
    giành chính quyền; tiếp đó là các làng q u an h
    T hành ph ố V inh như Y ên D ũng, Lộc Đ a (ngày
    17-8-1945). Q uỳnh Lưu là huyện đầu tiên ở
    N sh ệ A n giành chính quyền cấp huyện thắng lợi
    vào ngày 18-8.
    Phong trào khởi nghĩa trên đà phát triển,
    được tin bọn tàn quân Pháp kéo vào vùng N a-pê
    (Lào) để từ đó nhảy vào N ghệ A n và H à T ĩnh,
    ngày 18-8-1945, ư ỷ ban khởi nghĩa N ghệ - T ĩnh
    liền ra thông tư khẩn cấp cho các địa phương:
    “L ậ p tức cướp chính quyền và t ổ chức ngay cứu
    quân đ ể sẵn sàng đối ph ó với âm miỉii khỏi p h ụ c
    thuộc đ ịa của P háp. T ổ chức ĩoà án nhân dân
    cách m ạng trừng trị họn V iệt gian và trộm cướp,
    tổng đ ộn q viền sức người, sức của cho cách
    m ạ n g ”. N hận được thông tư này, nhiều địa

    phương phải thay đổi k ế hoạch khởi n g h ĩa của
    26

    m ình. Uỷ ban khởi nghĩa huyện H ưng N guyên
    liền phát động quần chúng biểu tình kéo lên phủ
    ỵ giành chính quyền thắng lợi vào ngày 19-81945.
    Tại Thành phố Vinh (ngày 10-12-1927,
    chính quyền thực dân Pháp cho ra đời T hành phố
    Vinh - Bến Thuỷ), vì đang có quân N hật với đầy
    đủ vũ khí trang bị, để tránh đổ m áu, ngày 19-8,
    ta lổ chức lực lượng diễu hành thăm dò thái độ
    của quân N hật, nhưng quân N hật vẫn im lặng.
    Vgày 21-8-1945, ta tiến hành giành chính quyền
    tại thành phố. Đ ồng chí N guyễn Tài, đại diện
    Việt M inh vào gặp chỉ huy quân N hật. Trước khí
    Ihế áp đảo của cách m ạng, bọn N hật phải chấp
    nhận m ọi yêu cầu của ta.
    Đ úng 12 giờ trưa ngày 21-8-1945, các lực
    ượng cách m ạng kéo đến, bao vây D inh tỉnh
    trưởng N ghệ An. Tỉnh trưởng Đ ặng V ăn H ướng
    tuyên bố đầu hàng cách m ạng. Đ ồng ch í L ê V iết
    Lượng, Ihay m ặt u ỷ ban cách m ạng lâm thời
    N ghệ An tuyên b ố xoá bỏ chính quyền cũ, thiết
    lập chính quyền mới, kêu gọi quần chúng giúp

    27

    đỡ, giữ gìn trật tự an ninh trong thành phố, bảo
    vệ chính quyền cách m ạng.
    N hư vậy là với thắng lợi ở T hành phố V inh,
    cuộc K hởi nghĩa tháng T ám giành chính quyền
    trên toàn tỉnh ta đã thành công! N hân dân các
    dân tộc N ghệ A n, bao năm lầm than, dưới ách
    thống trị củ a thực dân Pháp, phát xít N hật và vua
    quan phong kiến thống trị, nay đứng dậy cùng cả
    nước giành chính quyền, độc lập, tự chủ.
    C òn nhớ, trong Thư Chủ tịch H ồ C hí M inh
    gửi đổng bào N ghệ An tỉnh nhà (H à N ội, ngày
    17-9-1945), lấy danh nghĩa là m ột N gười - Đ ồng
    C hí - G ià m à viết, san sẻ ít nhiều kinh nghiệm
    với các đồng chí của m ình, N gười phân tích và
    khẳng định: "Cuộc dân tộc cách m ạng thành
    côn g này có những ý nghĩa, đ ó là: Trong m ộ t

    thời gian ngắn, chúng ta đ ã phá tan chê độ quân
    chủ chuyên c h ế m ấ y nghìn năm nay. Chúng ta đ ã
    đánh đ ổ cá i nền thốnẹ trị của hai đ ế q u ố c chủ
    nghĩa: P h á p và Nhật. Chúng ta đ ã lập nên m ộ t
    chính th ể D â n chủ cộn ẹ hoà. Đ ó ỉà m ột thắng lợi
    xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước t a ! ”.

    T rong thư, N gưòi - Đ ồng - C hí - G ià còn độ n g

    28

    viên cán bộ và nhân dân N ghệ A n trên cơ sở
    nhận thức rõ cái tất yếu sẽ đến: "''Công việc p h á
    hoại xon^ rồi. N a y hước đầu công việc dọn d ẹp
    sắ p đặt, íỊÌữ gìn kiến thiết. À! Việc này m ới khó
    c h ứ ”. N gười viết tiếp; “K hó thì khó thật, nhưng
    chún^ ta qu yết tâm, chúng ta vừa làm vừa học,
    nhất là chúng ta c ố m à theo cho đúng chính sách
    của Chính phủ, thì nhất định chúng ta vượt qua
    hết thảy nhũìiíỊ sự khó khăn đ ó ”...

    G ần sáu thập kỷ trôi qua, những biến động
    ịch sử trên quê hương cách m ạng, cùng những
    lời chỉ bảo ân cần, m inh triết của Ngưòd vẫn còn
    Liôn tươi mới!

    29

    TẾT TRUNG THU ĐẦU TÈN
    CỦA MỘT NƯỚC ĐỘC LẬP






    N ăm 1945, m ù a Thu. Cách m ạng tháng T ám
    thành công. N ước Việt N am D ân chủ C ộng hoà
    ra đời. C hẳng những người lớn m à trẻ con cũng
    vui sướng được sống trong m ột đất nước đã bắt
    đầu có tự do và độc lập. N hớ đêm T rung T hu đầu
    tiên trong sáng, lộng lẫy và ấm áp diễn ra ở T hủ
    đô H à N ội năm đó, ông V ũ K ỳ - người thư ký
    gắn bó nhiều năm với Bác Hồ - đã kể lại khá tỉ
    m ỉ trong m ột thiên hồi ký...
    V ào buổi chiều ngày 21-9-1945, tức ngày
    15-8 (âm lịch) năm Ất D ậu, Bác H ồ bảo đồng chí
    thư ký về nhà trước, còn m ình thì ở lại Bắc Bộ
    phủ đón các cháu thiếu nhi vào vui T ết T rung
    Thu. Trước đó m ấy hôm , Bác đ ã viết m ộ t lá thư
    dài gửi các cháu nhân ngày tựu trường. L iền đó,
    Người viết Thư gửi tlìiếu nhi Việt N a m đêm

    30

    Trung Thu. Thư viết trước cả tuần lễ để kịp đến

    với các cháu m ình khắp m ọi m iền đất nước, đủ
    thấy Bác của chúng ta bao giờ cũng chu tất.
    Đ úng 21 giờ, các cháu có m ặt trước Bắc Bộ phủ.
    Bác xuất hiện, tươi cười, thân thiết. Tiếng hoan
    hô, tiếng trống rộn ràng. Sư tử thì nhảy m úa. Tất
    cả vui sướng, reo hò, kính chúc Bác H ồ sống lâu
    m uôn tuổi. Bác xúc động bước xuống thềm đón
    các cháu. Tiếng hoan hô càng dậy lên. M ột bạn
    nhỏ, đứng trước m áy phóng thanh đọc lời chào
    mừiig. Đ ọc xong, em hô to: “Bác Hồ m uôn năm ”
    thì lập tức, tiếng hô “M uôn năm ” nối nhau
    không ngớt... Bác giơ cao hai tay, tỏ ý cảm ơn
    các cháu, rồi lần lượt, Bác bắt tay từng cháu
    đứng ở dãy đầu. Á nh m ắt Bác lúc này vui sưófng
    ạ Ihường. Bằng giọng N ghệ pha lẫn giọng các
    m iền đất nước, Bác “vào chuyện” với các cháu
    rất tự nhiên: “C á c cháu! Đ â y là lời Bác H ồ nói
    ch u yện ...”. Cuối bài nói, trước khi phá cỗ, Bác

    đề nghị tất cả cùng hô to: 'T r ẻ em V iệt N am
    suniỊ sướtìg! ” - "Việt N am Đ ộ c lập muôn năm!

    V à thế là, tiếng hô của các em rền vang cả m ột
    vùng Irời...

    3

    'T rẻ em V iệt N am sunq sư ớ n g !” - "Việt
    N am Đ ộ c lập muôn năm!

    Tôi n g h ĩ, đấy không

    phải là khẩu hiệu, m à đấy là tấm lò n g khao khát
    tột cùng của Chủ tịch H ồ Chí M in h , của tất cả
    thiếu nhi V iệt Nam . V iệt N am có Đ ộ c lập, trẻ em
    mới được sung sướng. V à, trẻ em su n g sướng thì
    sự Đ ộc lập kia m ới được thể hiện m ộ t cách cụ
    thể, thực chất. Trẻ em V iệt N am vui sưóíig, V iệt
    N am Đ ộc lập m uôn năm - sau gần 60 năm trôi
    qua, đến hôm nay và m ãi m ai sau, chắc chắn đó
    vẫn là những m ục tiêu, là động lực cho m ỗi
    chúng ta, cho các th ế hệ tiếp nối su y tư và hành
    động.
    GS. T ôn T hất T ùng, khi nghe tin Bác H ổ q u a
    đời ông vừa khóc vừa viết: “Gcìn B ác, không hao
    ẹiờn gh e B ác nói chính trị hay lý luận cả, mà ch ỉ
    nghe những lời nhắc n h ở của m ột người Cha đ ố i
    với con

    N hớ về T rung T hu đầu tiên của nước

    Việt N am Đ ộc lập - H oà bình, cho dù lúc bấy giờ
    m ột nửa nước phía N am còn bị tạm chiếm ,
    chúng ta khôn nguôi cảm phục tấm lòng, niềm
    khao khát của Người đối với thiếu nhi, rộng ra là
    đối với m ọi người, để ai cũng có thể 'T hẳng

    32

    liùĩg m à hước, nç;ân^ đầu m à h a y ” (Thơ T ố

    Hữu). T ôi chợt liên tưỏfng tới m ột đoạn văn trong
    Thòi háo Đ ê -li (Ẩ i Đ ộ) ra ngày 2-2-1958:
    “Thưa Cụ H ồ C h í Minh! Chúng tôi ôm chặt Cụ
    vào lòng! T ại sao chúníỊ tôi hoan nẹhềnh Chủ
    tịch H ồ C h í M inh m ột cách thân m ậ t như vậy?
    Vì Cụ là m ộ t trong nỉũúig người hiếm có, m ột
    kiến trúc sư đ ã làm cho con nqười khỏi p h ả i sống
    khom hùỉíỊ. Người kiến trúc sư cao quý nhất là
    nẹười làm cho ỉưnẹ những người khác tự thẳng
    dậyr.

    33

    lỂr NÀY MỚI THẬT TẾT DÂN TA!”
    Cuốn Lịch sử Báo chí V iệt N a m , 1865-1945
    do PGS-TS Đ ỗ Q uang H ưng chủ biên (N hà xuất
    bản Đ ại học Q uốc gia H à N ội, 2001), trong phần
    danh m ục báo ch í nước ta trước C ách m ạng, có
    cho bạn đọc b iết m ột vài thông tin về tờ báo
    Q uốc gia. Bấy giờ, gọi là Q uốc gia nhật háo, do

    ông Lê N gọc T hiều làm chủ bút.
    Toà soạn của Q u ốc gia nhật háo: 67. Place
    N eyeet - H à N ội. Báo in tại N hà in L ê Cường.
    Đ ây là m ột tờ báo tư nhân, số 24 ra vào ngày 207-1939 và xuất bản đến năm 1944 thì đóng cửa
    (có tư liệu cho là đến năm 1945, theo tôi, ý kiến
    sau có cơ sở hơn). Với tờ báo này, Chủ tịch Hổ
    C hí M inh có cảm tình và đã làm bài thơ, theo thể
    Đường luậl, tặng toà soạn báo như sau;

    34

    TẶNG liÁO QUỐC GIA
    T ết này m ới thật T ết dân ta,
    M â ỳ chữ chào mừỉỉg Báo Q uốc qia.
    Đ ộ c lập vơi đầy ba cốc rượu,
    T ự d o vàn ẹ đ ỏ m ộ t rừng hoa.
    M uôn nhà chúc T ết Xuân Dân chủ,
    C ả nước hoan nghênh Phúc C ộng hoà.
    Ta chúc nhau rồi, ta nhớ chúc:
    Những người chiến s ĩ ỏ phương xa!

    Trong cuốn sách Thơ H ồ C h í Minh của N hà
    xuất bản N ghệ A n (tái bản lần 2, năm 2003) thì
    phía dưới bài thơ không ghi thời gian sáng tác.
    Nhimg căn cứ vào nội dung, chi tiết và tinh thần
    của áng thơ. chắc chắn tác phẩm này phải ra đời
    vào năm đầu tiên của nước V iệt Nam - Dân chủ
    - C ộng hoà, m ột đất nước đã bằng tim óc, m áu
    xươiìR của chính m ình, do Đ ảng chỉ lối, vừa
    giành được tự do, độc lập.
    T rone không khí tưng bừng, hạnh phúc
    hưởng cái T ết đáng ghi nhớ đó, Bác H ồ nhắc nhở
    mọi Iigưừi, chứ đâu chí vứi Q uốc gia nhật háo,

    35

    rằng đừng quên “Nhữnq ỉiíỊiứỳi chiến s ĩ ở phương
    x a ”. Cái tứ củ a bài thơ được bật m ở, cả tám câu

    thơ như vượt khỏi vần luật, tràn trề niềm hưng
    phấn, niềm thơ nhưng tuyệt nhiên không rơi vào
    say sưa, lạc quan tếu, ích kỷ... Đ ó, chỉ có thể là
    tầm nhìn x a rộng, là tấm lòng ân nghĩa, chi chút
    của m ột N gười H iền như Bác:
    Ta chúc nhau rồi, ta n h ớ chúc:
    N hững người chiến s ĩ ở phương xa!

    36

    CHỦ TỊCH HỔ em ' NflNH
    VỚI BẢO CHÍ CHỐNG TÈU cực
    Cc m ột điều khá thú vị: H ầu hết các nhà
    văn, nhà thơ tên tuổi, ngoài sáng tạo văn chương
    đều có tham gia làm báo - viết bài hoặc b iên tập,
    và đến nay còn lưu giữ biết bao kỷ niệm đẹp đẽ
    về quãng đời làm báo sôi nổi của m ình. M ột
    người irong số họ là nhà thơ lão thành T rần Lê
    Văn. Óng có kể lại thời gian đầu cuộc kháng
    chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động trong
    ĩn h vưc báo chí, văn nghệ ở N am Đ ịnh quê
    hương. N hà thơ tham gia xây dựng và viết bài
    cho BcO N a m Định kháng chiến giúp bạn đọc
    nắm bàt kịp thời tình hình chiến sự, ngoài ra còn
    nhiều chuyện thời sự sốt dẻo trong nước, ngoài
    nước giữa lúc phương tiện thông tin của ta lúc
    3ấy giờ còn quá hạn chế. Trước yêu cầu ngày
    càng cao của bạn đọc, Báo N a m Đ ịnh kháng

    37

    chiến có m ộ t bước cải tiến, m ang cái tên m ới
    C ôn g D ân , chủ bút là nhà văn, nhà soạn kịch

    Trúc Đ ường. Thời kháng chiến, ông Trần Lê V ăn
    cho biết, những hiện tượng tiêu cực ít khi xảy ra,
    m à nếu có thì báo chí cứ việc vạch m ặt chỉ tên,
    không chút ngần ngại...
    Có lần, trên Báo C ô n ẹ D ân , Trần Lê V ăn
    viết m ộ t bài b áo phản ánh thái độ hống hách, cửa
    quyền và hết sức tuỳ tiện củ a m ột cán bộ thuế vụ.
    Bài báo có đoạn rất sống động với giọng văn rắn
    rỏi pha chút trào lộng: " ...ôn ẹ ph òn g th u ế cúi
    xuống viết, viết. Người đàn hà rầu 77 lại kêu van.
    O ng p h ò n g th u ế lại ngẩng đẩu lên: “K êu nữa à!
    T h ế thì 5 0 0

    Ô ng plìòn q t h u ế lại cúi xuống viết,

    viết. N gười đcin há rầu r ĩ lại kêu van. ô n g p h ò n ẹ
    th u ế lại n g ẩ n ẹ đầu lên: "Kêu nữa à! T h ế thì
    6 0 0 ”... Cứ m ỗ i lần bà kia kêu thì ông này lại

    tăng lên 100 đồng. A i cũng biết việc đóng th u ế
    là cần, để N h à nước chi vào những việc công ích.
    N hưng thu th u ế theo kiểu của ông phòng thuế ấy
    thì thật là m ộ t “ sáng kiến” kỳ lạ! Nửa tháng sau
    khi bài báo ra m ắt, Toà soạn Báo C ó n ^ D á n nhận
    được m ột phong bì rất to. M ở ra, Ihấy sô báo có

    38

    bài ông V ăn viết về ông thuế vụ nọ. Cạnh bài báo
    có m ột vạch chì đỏ, kèm theo m ấy chữ của Bác
    Hổ có ký tên Bác: 'V iệ c này hói chú H iến ” (chú
    H iến là ông Lê V ăn H iến - Bộ trưởng Bộ Tài
    chính lúc b ấy giờ). Cùng trong bl thư, có công
    văn của Phủ Chủ tịch: “Yêu cầu cá c đồn g chí
    điều tra lại việc này và cho hiên chứỉĩg c ứ cụ
    t h ể ”. A nh e m Toà soạn Báo C ông D â n đã tìm đủ

    các tài liệu liên quan gửi lên Chính phủ, lên Bác
    H ồ trong tâm trạng phấn chấn, chờ đợi.
    M ẩu chuyện kể trên tuy nhỏ, xảy ra đã lâu
    nhưng ý n g h ĩa thì thật lớn lao. H ẳn nhiều ngưòd
    có tuổi trong chúng ta còn nhớ, ngay sau khi đọc
    Tuyên ngôn độc lập chỉ 15 ngày, ngày 17-9-

    1945,...
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    Nhúng mã HTML

    GTS- 10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc

    Nhúng mã HTML